Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2022

 

Phủ nhận quan điểm  : Đã công nhận kinh tế thị trường tức là đã thừa nhận chủ nghĩa tư bản

Một số quan điểm cho rằng: “Đã công nhận kinh tế thị trường tức là đã thừa nhận chủ nghĩa tư bản, do vậy phải cắt “cái đuôi” định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thực tế luận điểm trên nhận thức chưa đúng lý luận kinh tế thị trường định hướng xã hội ở nước ta, nhằm tô hồng chủ nghĩa tư bản.

 Chúng ta chỉ rõ: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Đây là kết luận rất sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn tại Đại hội VIII của Đảng.

Trong Văn kiện Đại hội Đảng IX (Tr 86) nói về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội Đảng X đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường ở nước ta với 4 nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa cơ bản sau:

- Thứ nhất, về mục tiêu phát triển của nền kinh tế thị trường là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trước đổi mới, chúng ta mắc sai lầm là đồng nhất chủ nghĩa xã hội với công hữu về tư liệu sản xuất, mà chưa thấy rõ, dù công hữu hay tư hữu đều nhằm mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất để chăm lo đời sống của con người. Hồ Chí Minh nói, chủ nghĩa xã hội là để cho con người ai cũng có việc làm, được ấm no, được học hành và sống một đời hạnh phúc.

- Thứ hai, điều kiện để bảo đảm mục tiêu trên là phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo.

- Thứ ba, giải quyết đúng mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Chúng ta thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và trong từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục... giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.

- Thứ tư, thực hiện chế độ phân phối và điều tiết phân phối lại. Chúng ta thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực và thông qua phúc lợi xã hội.

 Như vậy là, thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu.

Trung Lập

 

 

Phản bác luận điểm: “Phải xóa bỏ chế độ một đảng, lập đa đảng mới khắc phục được các căn bệnh trầm kha của xã hội, như tham nhũng, quan liêu...”.

 Lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của công cuộc đổi mới 30 năm qua do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, được nhân dân ghi nhận, đồng tình. Đến nay, tuy còn không ít khó khăn, nhất là ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, nhưng bước đầu chúng ta đã kiềm chế được lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, kinh tế tiếp tục phát triển tăng trưởng, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện; chính trị ổn định; quan hệ đối ngoại mở rộng. Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đó là xu hướng chủ đạo trong quá trình phát triển của đất nước. Không có Đảng Cộng sản lãnh đạo, sẽ không có thành tựu vĩ đại đó. Sự khủng hoảng triền miên của các đảng phái chính trị phương Tây hay gần đây ở một số nước khu vực Đông Nam Á đang là một thực tế sinh động bác bỏ luận điểm “phải có đa đảng thì Việt Nam mới phát triển, vượt qua tụt hậu”.

Trong thời đại ngày nay, đảng nào chỉ đại diện hạn hẹp cho lợi ích của thiểu số giàu có, thì dù có thích ứng đến đâu cũng khó tồn tại bền vững được. Qua khảo sát ở Thụy Điển cho thấy, Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển nắm quyền từ năm 1932; sau 44 năm đưa Thụy Điển từ một nước lạc hậu, nghèo nàn trở thành một nước phát triển. Nhưng tại sao năm 1976, Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển thất cử, Đảng khác lên thay; từ đó đến nay, có lúc giành được quyền, có lúc lại mất quyền lãnh đạo. Một số nhà xã hội phân tích: Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển muốn điều tiết để bảo đảm công bằng xã hội, nhưng bằng điều tiết phân phối, chứ không điều tiết sở hữu... Đại sứ Thụy Điển tại Liên hợp quốc khi Đảng Xã hội dân chủ Thụy Điển thất cử nói: “Thụy Điển cần Ericsơn, nhưng Ericsơn không cần Thụy Điển” (Ericsơn là tập đoàn lớn nhất của Thụy Điển). Ở đây, tư hữu là chủ đạo, mấy nhà tư bản kếch sù nắm quyền chủ đạo. Chính phủ, quốc gia cần họ, chứ họ không cần chính phủ. Chúng ta không bao giờ quên thực tế này. Về cái gọi là “đa nguyên mới có dân chủ”, chúng ta chỉ rõ, không có nước nào, kể cả những nước tự cho mình là dân chủ nhất, lại dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cần thấy rõ rằng, những người phê phán chế độ một đảng ở nước ta thực ra là muốn hợp pháp hóa vai trò của các lực lượng chính trị phản động đã bị nhân dân ta đánh đổ. Nghiên cứu về chế độ một đảng ở Việt Nam, tác giả Dam Fforde viết: “So với các chế độ cộng sản cùng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt. Năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ chiến tranh, Đảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục được Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng... Ở Việt Nam trong tương lai khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam... Hơn nữa, Đảng phải tăng cường hệ thống một đảng không chỉ vì lý do tư tưởng mà còn hầu hết đảng viên đều tin rằng đường lối chính trị cạnh tranh sẽ làm trầm trọng thêm những chia rẽ giữa các vùng và làm mất ổn định chính trị”.

Trung Lập

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

Từ khi ra đời đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Điều này có cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng không thể xuyên tạc.

Hiện nay, với chiến lược “Diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đòi quân đội ta phải “phi chính trị hóa”, hay “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Họ ra sức rêu rao rằng: Quân đội “là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, lực lượng chính trị nào” (?!); Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo độc tôn của Đảng là “mù quáng”, mà chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia - dân tộc, với nhân dân, phải đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” trong mục tiêu, lý tưởng chiến đấu (?!). Mục đích hướng tới của chúng là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, vô hiệu hóa Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu và sức mạnh chiến đấu, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Đó là những luận điệu phản động, xuyên tạc, bịa đặt, vì rằng thực tế sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm đảm bảo cho “Quân đội luôn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Điều này, có cơ sở lý luận, thực tiễn rõ ràng, không thể bác bỏ!

Về cơ sở lý luận:

Trên phương diện lý luận, nhà nước và quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì vậy, quân đội mang bản chất giai cấp của nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có nhà nước “phi giai cấp”, nên không có quân đội “phi chính trị”. Ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, đảng nào thắng thế sẽ đứng ra lập chính phủ, nên quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào đường lối chính trị của đảng cầm quyền; đồng thời, bất cứ đảng cầm quyền nào cũng tìm cách nắm lấy quân đội, tìm đến sự hậu thuẫn từ quân đội. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản lãnh đạo quân đội là nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Nguyên tắc đó bảo đảm cho quân đội luôn giữ đúng định hướng chính trị của Đảng Cộng sản, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với nhân dân, là công cụ để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Đây là đội quân kiểu mới, mang bản chất của giai cấp vô sản. Sự ra đời của Quân đội ta không phải từ các đội quân của chế độ cũ để lại, mà là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; được xây dựng hoàn toàn mới, theo hệ tư tưởng, nguyên tắc, đường lối chính trị, quân sự Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ khi ra đời cho đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngoài mục tiêu đó, Quân đội nhân dân Việt Nam không còn mục tiêu và lợi ích nào khác. Bảo vệ tổ quốc không chỉ là bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất của phương diện tự nhiên - lịch sử, mà còn là bảo vệ thể chế chính trị của Tổ quốc ấy. Trung thành với Tổ quốc cũng chính là trung thành với thể chế chính trị đó. Vì thế, sẽ là mơ hồ, ấu trĩ khi cho rằng quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc mà không bảo vệ thể chế chính trị trong Tổ quốc ấy.

Về cơ sở thực tiễn:

Thực tiễn minh chứng từ khi ra đời đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới thực sự là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục"1. Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn vững vàng về lập trường chính trị, tư tưởng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng oanh liệt, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng chiến đấu, hy sinh viết nên truyền thống tốt đẹp “Quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng”. Hình ảnh một đội quân vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, dũng cảm, kiên cường, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng thể hiện đậm nét và sinh động trong thực tiễn chiến đấu, công tác và xây dựng của Quân đội ta suốt 78 năm qua.

Ngược lại, vào những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở các nước Đông Âu và Liên Xô chấp nhận từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội và quân đội, đã làm cho quân đội bị vô hiệu hóa, mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu, biến chất về chính trị, Đảng Cộng sản, nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Hậu quả là, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội; chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước đó bị tan vỡ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan lên ngôi, đất nước bị tàn phá bởi các cuộc chiến tranh, xung đột sắc tộc; độc lập dân tộc, quyền tự do của người dân bị xâm phạm nặng nề.

Hơn nữa, có phải quân đội ở các nước theo mô hình xã hội phương Tây là “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, chỉ có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc hay không? Và có phải năm 1858, quân đội Pháp đến Việt Nam, năm 1954 các cố vấn quân sự Mỹ và sau đó là quân đội Mỹ đến miền Nam Việt Nam là để bảo vệ Tổ quốc hay không? Rõ ràng, hoàn toàn không phải như vậy. Việc hiến định vai trò lãnh đạo của giai cấp, nhà nước đối với quân đội không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam, mà bất cứ một quốc gia nào, trong hệ thống pháp luật của mình, bằng cách này, hay cách khác đều hiến định quyền lãnh đạo không thể chia sẻ của mình đối với quân đội. Trong Hiến pháp của Mỹ, Pháp, Nga... đều thể hiện điều đó.

Như vậy, việc khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về lý luận, thực tiễn, theo ý nguyện của toàn thể dân tộc Việt Nam. Không một thế lực nào có thể bác bỏ được điều đó.

Thực tế 78 năm qua, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội luôn là nguyên tắc cơ bản, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và sự trưởng thành của Quân đội ta. Trong tình hình hiện nay, sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nói riêng càng đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, như trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”2. Điều đó sẽ bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, trung thành vô hạn với Tổ quốc và hết lòng hết sức phụng sự Nhân dân.

1. Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, tập 14, tr 435.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, tập I, tr. 160.

BĐT

 

 

LẠI DIỄN TRÒ “GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN”

Hằng năm, tổ chức Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam lựa chọn một số đối tượng mà họ gọi là “hoạt động nhân quyền” ở Việt Nam để “vinh danh”, thực chất đây là những đối tượng có hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội, đã bị cơ quan chức năng xử lý.

Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tung ra giải thưởng từ năm 2002 với mục đích “khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam”. Tính từ năm 2002 đến nay, giải thưởng này đã trao cho hơn 50 cá nhân và 4 tổ chức, trong đó các cá nhân được “vinh danh” là những đối tượng có hành vi phạm tội, đã bị toà án xét xử, đã hoặc đang chấp hành án tại Việt Nam. Trong số các cá nhân đã được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao thưởng có thể kể đến những đối tượng như: Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu cày), Nguyễn Chính Kết, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Phạm Thị Đoan Trang… Những người này đều đã bị tòa án tuyên các bản án khác nhau về hành vi phạm tội, quy định tại Bộ luật Hình sự.

Về phía hội nhóm đứng ra trao giải, đó là các tổ chức, hội nhóm thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam như: tổ chức khủng bố Việt Tân, tổ chức Theo dõi nhân quyền, Phóng viên không biên giới, Tự do ngôn luận quốc tế, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam…

Việc trao “giải thưởng nhân quyền” của một số tổ chức nhân danh nhân quyền ở nước ngoài cho các đối tượng có hành vi, hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã gây ra nhiều phẫn nộ, bức xúc trong dư luận. Năm nay, giải thưởng trên lại được các đối tượng rêu rao và trao cho Nguyễn Tường Thụy.

Nguyễn Tường Thụy (SN 1950, tại Nam Định), từng là cựu quân nhân. Tuy nhiên do tư tưởng bất mãn và những động cơ cá nhân, thay vì góp sức xây dựng quê hương, đất nước, Nguyễn Tường Thụy lại chọn cho mình con đường ngược với lợi ích của quốc gia, thường xuyên có những bài viết xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, tuyên truyền chống phá Nhà nước đăng tải trên Facebook cá nhân và trang mạng của Hội Nhà báo độc lập với tư cách phó chủ tịch.

Kết quả điều tra cho thấy, từ năm 2014 đến khi bị bắt, Nguyễn Tường Thụy cùng với Phạm Chí Dũng, Lê Hữu Minh Tuấn thường xuyên tiếp xúc với các đối tượng bất mãn về chính trị trong và ngoài nước.

Ngày 18/5/2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Nguyễn Tường Thụy về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự.

Ngày 5/1/2021, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử vụ án. Với đầy đủ chứng cứ, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Phạm Chí Dũng 15 năm tù, Nguyễn Tường Thụy 11 năm tù, Lê Hữu Minh Tuấn 11 năm tù; bị quản chế 3 năm sau khi mãn hạn tù.

Rõ ràng, việc cổ suý, trao giải cho những đối tượng có hành vi phạm tội chính là một chiêu bài xuyên tạc, bẻ cong sự thật của những tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ cố gắng tô vẽ cho các đối tượng này qua các danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”... Việc trao các loại “giải thưởng nhân quyền” cho Nguyễn Tường Thụy và một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội được nêu trên chính là một thủ đoạn, một yếu tố cấu thành của kịch bản trong chiến lược “diễn biến hoà bình”.

Vì vậy, chúng ta phải hết sức tỉnh táo để kịp thời nhận diện, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các thành phần cơ hội chính trị. Những giá trị nhân danh dân chủ với động cơ hẹp hòi, ích kỷ để chống phá lợi ích quốc gia, cộng đồng chính là trò nguỵ biện, xảo trá. Đó là những cái cớ được kẻ xấu tung ra hòng đánh lừa dư luận, tìm cách phá rối an ninh, kích động bạo loạn, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc…

BĐT

 

 

 

 

 

 ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP VỚI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN.

 

Những ý kiến xuyên tạc, cho rằng, Hồ Chí Minh là một người yêu nước, là một người theo chủ nghĩa dân tộc, chỉ mong muốn làm thế nào để giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về đấu tranh giai cấp, là hệ tư tưởng chỉ của riêng giai cấp công nhân, nên đối lập với cả chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh theo đuổi. Những ý kiến kiểu này đã cố ý không thấy một thực tế là Hồ Chí Minh không chỉ muốn giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, mà quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để toàn thể người dân được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, ấm no thực sự sau khi giành được độc lập, như Người đã từng tâm sự: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Bởi trong quan niệm của Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.

Đó chính là lý do để lý giải vì sao mặc dù đánh giá cao cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ hai cuộc cách mạng tiêu biểu này trong thời cận đại, nhưng Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nêu lên nhận xét về những cuộc cách mạng đó xét về bản chất đều là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, chỉ mang lại quyền lợi cho một thiểu số người trong xã hội, trong khi đại đa số những người dân lao động vẫn phải chịu cảnh bị áp bức, bóc lột, bất công và vẫn phải mưu tính làm cách mạng lần nữa. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã quyết định không lựa chọn con đường cứu nước và phát triển của dân tộc Việt Nam theo hình mẫu của các cuộc cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp. Thực tế, như chúng ta đều biết, qua quá trình nghiên cứu, khảo sát nhiều trào lưu tư tưởng chính trị trong hành trình bôn ba nước ngoài, Người đã lựa chọn con đường cách mạng do chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra: con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện ba sự nghiệp giải phóng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong một chỉnh thể thống nhất để thực sự mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc triệt để cho tất cả người dân, không phân biệt giàu nghèo, vùng miền, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, có tôn giáo hay không theo tôn giáo, nam hay nữ, .... Nói cách khác, con đường cách mạng vô sản theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc một cách triệt để mà Hồ Chí Minh luôn phấn đấu thực hiện.

Lại có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đánh tráo khái niệm khi luận giải Hồ Chí Minh đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết, trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ coi trọng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, coi trọng bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân. Như vậy, rõ ràng là tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin (?).

Đúng là trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khi giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết và xác định vấn đề giai cấp phải xếp sau vấn đề dân tộc, phục vụ cho vấn đề dân tộc. Nhưng đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là sự quán triệt, vận dụng đúng đắn linh hồn của chủ nghĩa Mác-Lênin - phương pháp luận duy vật biện chứng, vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa phong kiến như Việt Nam; là sự vận dụng quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể, đặc thù, hết sức sinh động, muôn màu, muôn vẻ của những hiện tượng, quá trình lịch sử riêng biệt. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó là cần thiết, đã thể hiện theo đúng lời dặn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”. Vì vậy, không thể đánh đồng sự vận dụng và phát triển sáng tạo với sự mâu thuẫn, đối lập.

BĐT


 

Dân chủ ở việt nam là dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Chế độ dân chủ của Việt Nam còn bao hàm cả văn hóa dân chủ. Trong đó, các cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân. Các cấp chính quyền phải bảo đảm phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cùng với đó, công dân phải tuân thủ pháp luật.

Chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, bản chất là yêu cầu thượng tôn pháp luật, mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong xã hội phải sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là yêu cầu mà mọi nhà nước pháp quyền trên thế giới đều hướng tới.

Thế nhưng, hiện nay có nhiều người lầm tưởng rằng, môi trường internet, mạng xã hội là môi trường dân chủ vô hạn độ, người ta muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết... mà không phải chịu trách nhiệm. Đó là một sai lầm rất nguy hiểm, vì suy nghĩ như vậy không khác nào coi môi trường internet, mạng xã hội là một môi trường vô luật pháp. Không ít người đã vi phạm pháp luật bị xử lý, thậm chí bị xử lý hình sự vì những phát ngôn xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước; vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trên internet và bị quy vào tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Bộ luật Hình sự. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào, các quyền dân chủ đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.

Quyền tự do báo chí của công dân được Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, quyền tự do đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Điều 10, Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ: “Quyền tự do báo chí của công dân bao gồm: “1.Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.Cung cấp thông tin cho báo chí; 3.Phản hồi thông tin trên báo chí; 4.Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”.

Điều 9 của Luật Báo chí quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, ví dụ như: “Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý; Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc...; Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...; Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy...”.

Ngày nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trước hết nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam còn là một môi trường hòa bình, ổn định, có quan hệ ngoại giao hữu nghị với các nước, đấu tranh vì tiến bộ trên thế giới. Vừa qua, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần tái cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 rất thành công, cho thấy uy tín cao của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Những thực tế khách quan đó cho thấy bản chất của xã hội XHCN tại Việt Nam là một xã hội dân chủ, vì con người, và không có luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận./.

Hoằng Tháo

 

 Xã hội dân chủ ở Việt Nam mang giá trị chung của sự tiến bộ nhân loại

Tư tưởng dân chủ của phương Tây có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện đầu tiên tại Athens, Hy Lạp trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Về nội dung, đó là “quyền lực thuộc về nhân dân” đồng thời theo nguyên tắc đa số. Nhưng khái niệm “nhân dân” ở đây không bao gồm phụ nữ và người nô lệ. Về mặt phương thức, dân chủ có nhiều hình thức: Dân chủ trực tiếp đó là những người tham gia bầu cử bầu ra người đại diện cao nhất của xã hội. Dân chủ gián tiếp-dân chủ đại diện là người bầu cử chỉ bầu ra người đại diện của mình... từ đó chỉ có những người đại diện mới bầu ra cơ quan và người lãnh đạo xã hội. 

Quá trình phát triển, chế độ dân chủ trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình, trong đó có chế độ dân chủ đa đảng nhưng thực chất chỉ có hai đảng thay nhau cầm quyền như ở Mỹ (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa); hay dân chủ với nhiều đảng nhưng đều thừa nhận Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền như tại Trung Quốc... Đáng lưu tâm là vào năm 2019, Đại học Cambridge (Anh) có một nghiên cứu cho thấy mức độ bất mãn về thực trạng nền dân chủ tại Hoa Kỳ và Anh ở mức cao đặc biệt. Cụ thể, năm 2019, tỷ lệ người không hài lòng với nền dân chủ ở Anh lên tới 61%. Tại Mỹ, mức độ hài lòng chỉ còn dưới 50%. Như thế có thể thấy, chế độ dân chủ tại hai quốc gia trên chưa làm hài lòng chính công dân của họ, nên không thể và không nên được coi là hình mẫu cho nền dân chủ của bất cứ quốc gia nào.   

Chế độ dân chủ của chúng ta khởi nguồn từ khi dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ những thập niên đầu thế kỷ 20. Giữa vòng vây của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vùng lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại được độc lập dân tộc, đồng thời xây dựng xã hội mới. Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Nhà nước của chúng ta đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng dân chủ trên thế giới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Trong phần cuối của “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy các quyền công dân (bao gồm cả quyền con người) được bảo đảm. Hơn 77 năm qua (1945-2022), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, vượt qua những giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ, đến nay đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế ngày càng phát triển, có vị thế, uy tín cao trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Những mô hình xã hội Việt Nam là sự vận dụng và phát triển sáng tạo các mô hình xã hội hiện đại trên thế giới, đồng thời kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền dân chủ của Việt Nam hiện nay là nền dân chủ gắn với chế độ làm chủ của nhân dân, do một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền-đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hệ thống chính trị Việt Nam là cơ sở chính trị-pháp lý của nền dân chủ Việt Nam. Về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “1- Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như thế, qua quy định trong Hiến pháp có thể thấy: 1-Đảng không chỉ là đại diện lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn là đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc; 2-Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền nhưng các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3-Dân chủ gắn liền với Nhà nước và pháp luật.

Theo Hiến pháp năm 2013 thì: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Các đại biểu Quốc hội được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, nghĩa là mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia trực tiếp bầu cử đại biểu Quốc hội để đại diện cho tiếng nói của mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. 

NMT


 

hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”

Trong mọi hoàn cảnh dù trước đây cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn nắm chắc tay súng, bảo vệ vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo, thềm lục địa; khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. “Bộ đội Cụ Hồ” không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước. Những hình ảnh bộ đội giúp dân “diệt giặc đói, giặc dốt”, chống “giặc nội xâm”, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; cùng nhân dân vượt qua thảm họa thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, làm tròn nghĩa vụ quốc tế..., còn đọng mãi trong tâm trí của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Dù trong thời chiến cũng như thời bình hiện nay, những quân nhân luôn sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì khi Tổ quốc cần, dù ở nơi biển, đảo, biên cương xa xôi, hay có mặt tại các điểm nóng của tâm dịch Covid-19, hoặc dầm mình trong bão lũ miền Trung thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, thậm chí nhịn đói khát, chịu nóng bức, hy sinh; đằng đẵng xa gia đình, người thân để thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, giúp nhân dân Nam Phi, Nam Xu Đăng vượt qua hoạn nạn, giành lại quyền sống làm người. Những việc làm thầm lặng ấy thật vẻ vang; những cống hiến, hy sinh cao cả ấy thật to lớn. Không có kẻ thù nào có thể xâm phạm, hủy hoại điều thiêng liêng ấy; không thế lực nào được phép vi phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nhân dân; làm hoen ố bản chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thực tiễn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã khẳng định, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta chính là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, thể hiện rõ khát vọng sống vì hòa bình. Dù ở cương vị nào cũng vậy, mọi quân nhân đều son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, sẵn sàng dâng hiến tuổi xuân và cuộc sống của mình cho cách mạng. Không bao giờ “buông súng”, sa ngã, “lạc đường, chệch hướng” chỉ vì gian khổ, khó khăn, thử thách; chỉ vì sự xuyên tạc, chống phá của kẻ thù; không bao giờ quên lời hứa thiêng liêng đã khắc ghi trong tim mình trước Đảng, Bác Hồ và nhân dân về sự tự nguyện dâng hiến, tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân. Chiến công trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thành tựu xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự tuyệt đối trung thành, niềm tin, danh dự và lẽ sống cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”. Thế giới có thể đổi thay, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiểu rõ ai là bạn, ai là thù, ai đúng, ai sai; ai là đối tác, ai là đối tượng; âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Lớp lớp cán bộ, chiến sĩ trẻ hôm nay tự tin kế thừa, nối nghiệp cha anh cầm chắc tay súng bảo vệ biển, trời thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, với hành trang và tài sản vô giá “Bộ đội Cụ Hồ”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân hân hoan chào mừng 78 năm ngày truyền thống vẻ vang của mình; ra sức học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phấn đấu thực hiện thắng lợi Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới; có thêm động lực, niềm tin và sức mạnh để tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; viết tiếp bản anh hùng ca “tiến bước dưới quân kỳ”, “vì nhân dân quên mình”, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, tỏa sáng danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./.

LHS

 Vẫn còn những cái nhìn lạc lõng về phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”

Hiện nay trên thực tế, vì không đủ kiến thức, thiếu thực tiễn hoặc vì những lý do nào đó mà có những quan điểm nhận thức không đúng về Quân đội ta, về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Vẫn có người ngộ nhận rằng, bộ đội bây giờ lương cao, “được thụ hưởng cuộc sống sung túc, đủ đầy”; “bộ đội bây giờ không còn vất vả”; Quân đội với “bộ máy cồng kềnh, gây hao tốn ngân sách quốc gia, kéo chậm sự phát triển đất nước”...

Với tầm nhìn hạn hẹp, chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, các thế lực thù địch đã “vơ đũa cả nắm”, tuyệt đối hóa hiện tượng rồi nâng lên thành bản chất; quy kết một số quân nhân vi phạm pháp luật đến mức phải kỷ luật..., đã làm cho “quân đội hư hỏng”. Từ đó, chúng tung tin, đồn thổi rằng: “QĐND Việt Nam đã thoái hóa, biến chất”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”; “cần phải phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội... Đó là những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, mà thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa" Quân đội rất phi lý, không thể chấp nhận. Kịch bản và các chiêu thức mới trong sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu, độc; tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ là tiếp nối chiêu trò “hà hơi, tiếp sức” để thực hiện ý đồ “phi đảng”, “phi chính trị hóa" Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Vì thế, dù có ngụy trang, che đậy kín đáo đến đâu thì “cái đuôi xảo trá, phản động vẫn lòi ra”; các ẩn ý sâu cay vẫn lộ diện, từ cách giật tít bài viết, tung các hình ảnh “nhạy cảm”, gây sự tò mò đến các giọng điệu lừa bịp, ngụy tạo để thu hút sự quan tâm “khám phá” của cư dân mạng, tìm kiếm sự chia sẻ, a dua, cùng vào hùa chống phá Đảng của mấy nhóm người bất mãn, cơ hội chính trị, phản động. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: Bộ đội Cụ Hồ đã từng đánh thắng những tên xâm lược đầu sỏ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, khắc nghiệt, thì nay trong thời bình, họ không hề run sợ trước bất cứ âm mưu, thủ đoạn chống phá nào dù chúng “ẩn hình”, “ném đá giấu tay” trên không gian mạng, trà trộn trong dân cư hay lẫn khuất ở bên ngoài biên cương Tổ quốc.

Tại sao các thế lực thù địch lại rắp tâm xuyên tạc, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”? Để tồn tại và thõa mãn tham vọng cá nhân “trả thù chế độ”, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị cấu kết với các thế lực thù địch, triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung tin giả, xấu, độc nhằm xuyên tạc sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Tim đen của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cơ quan, đơn vị-một mắt khâu quan trọng để thực hiện “phi chính trị hóa” toàn quân, chia rẽ Quân đội với nhân dân; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của người lính Cụ Hồ; đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch đã bị phơi bày. Nó chẳng những phủ định sạch trơn giá trị lịch sử, chà đạp lên sự yêu quý, ngưỡng mộ và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội, mà còn khước từ sự chia sẻ, cảm thông đối với những người lính Cụ Hồ về những khó nhăn, gian khổ, thiệt thòi, hy sinh, mất mát và đổ máu trong thời chiến cũng như trong thời bình mà họ và gia đình đã và đang phải gánh chịu.

Hơn thế, chúng còn rắp tâm cướp đi sức mạnh, niềm tin của nhân dân đối với “Bộ đội Cụ Hồ”, phủ nhận mối quan hệ máu thịt, “cá với nước” của quân và dân ta vì chúng biết rõ rằng trong tái tim người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí đặc biệt quan trọng. Bác Hồ là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin, tình yêu, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên. Phủ nhận nguồn gốc, bản chất, truyền thống của Quân đội, chúng không muốn thế hệ trẻ kế thừa sự nghiệp của cha anh, không muốn thế hệ chủ nhân của đất nước hiểu rằng “Bộ đội Cụ Hồ”là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng và gửi gắm niềm tin vào Quân đội ta. Qua đó, đánh cắp niềm vinh dự, tự hào: Quân đội ta được mang tên lãnh tụ kính yêu; không muốn thế hệ trẻ biết rằng, trên thế giới, duy nhất chỉ có Quân đội ta có được niềm vinh dự, tự hào và hạnh phúc lớn lao ấy.

Thâm độc và xảo trá hơn thế, các thế lực thù địch đang rắp tâm hạ bệ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, từ đó phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch mong muốn Quân đội ta chỉ là những người lính “đánh thuê”, đội quân nhà nghề “ô hợp”, không còn sự thôi thúc hoàn thành nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim, sự tự nguyện, tự giác phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng chiến đấu: Vì Tổ quốc phụng sự, vì nhân dân phục vụ, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”; không muốn cán bộ, chiến sĩ thực hiện 10 Lời thề danh dự, 12 điều kỷ luật của quân nhân và 3 chức năng: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Chiều sâu của tội ác là cái đích cuối cùng họ hướng đến thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội, biến Quân đội ta trở nên vô dụng. Chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất âm mưu thâm độc ấy và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi hành vi chống phá; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.

LHS


 Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng

QĐND Việt Nam ra đời ngày 22-12-1944 từ những tổ chức vũ trang tiền thân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của QĐND Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Bởi vậy, về bản chất, QĐND Việt Nam là Quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, QĐND Việt Nam cùng với các giai cấp, thành phần của toàn dân tộc tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, QĐND Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tế lịch sử đấu tranh cách mạng cho thấy, từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao phó. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của Quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhưng thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của QĐND Việt Nam.

Là Quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vì vậy, QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất đó được biểu hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hệ tư tưởng trong QĐND Việt Nam là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định chương IV về bảo vệ Tổ quốc, bao gồm các Điều 64 đến Điều 68 đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc. Bản chất chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng, thể hiện ở những nội dung cụ thể sau.

Thứ nhất, vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều 64 quy định: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ QĐND Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam. Điều 65 quy định: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Thứ ba, phương hướng xây dựng QĐND Việt Nam. Điều 66, 67, 68 quy định: Nhà nước xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Thứ tư, quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam. Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương Quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của QĐND; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; kiên định, giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo, Nhà nước quản lý QĐND Việt Nam-là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội và là nhân tố bảo đảm chính trị của Quân đội ta.

Các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay cũng hiểu rất rõ điều đó. Do vậy, chúng luôn tìm mọi cách công kích, phá hoại, nhằm tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trong đó có quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, tạo nguyên cớ cho các thế lực có thâm thù với cách mạng tiến hành “cuộc chiến không đánh mà thắng”, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống luận điệu “dân sự hóa” Quân đội, góp phần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng cũng là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam./.

Bàn Luận


“dân sự hóa” Quân đội một quan điểm sai trái

Một số thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, "sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Cùng với đó, một số người còn viện dẫn vào học thuyết “Tam quyền phân lập”, ở một số nhà nước tư sản đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái. Điều này là hoàn toàn không đúng trong thực tế.

Học giải thích, phía sau chính phủ vẫn là một chính đảng đảng cầm quyền (hoặc chi phối chính sách của chính phủ). Các đảng cầm quyền vẫn can thiệp vào quản lý nhà nước về quốc phòng. Với tính cách là một hiện tượng chính trị-xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là ở chỗ: Quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị-xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Bản chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội. Điều này đã được ghi nhận theo điều lệnh quân đội Mỹ, sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm về giáo dục tư tưởng và tinh thần binh sĩ. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền gọi là “cơ quan thông tin và giáo dục quân đội” để tiến hành công tác tư tưởng. Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan thông tin. Bên cạnh việc lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động, cơ quan này còn chuẩn bị và xuất bản những sách giáo khoa về tư tưởng, những tài liệu phát thanh, báo chí, phát hành những phim ảnh ca tụng chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo, thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.

Bên cạnh đó, hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội, chịu sự quy định của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các quy luật xã hội nói chung.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo, sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị. Mặc dù năm 1991, Hồng quân Liên Xô có quân số hơn 3 triệu người nhưng đã không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ.

Sự Thật


 

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2022

 

Tư tưởng và tài lược nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nghệ thuật quân sự chiếm một vị trí rất quan trọng. Người đã viết nhiều tác phẩm có giá trị về Nghệ thuật quân sự, đặc biệt tư tưởng ấy thể hiện rất sáng tạo trong thực tiễn chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu, kế thừa và phát triển truyền thống quân sự của cha ông, tiếp thu tinh hoa quân sự của nhân loại, nhất là tư tưởng quân sự ưu việt của Lê-nin, kinh nghiệm chiến tranh cách mạng của Trung Quốc, Liên Xô, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ hiện đại. 

Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, là dám đánh và biết đánh. Dám đánh là điều kiện hàng đầu, nhưng biết đánh, biết thắng mới là yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi. Muốn đánh thắng, theo Hồ Chí Minh, trước hết phải đánh giá đúng địch, ta. Sinh thời, Người thường nhắc câu nói nổi tiếng của Tôn Tử: "Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất bại" (biết địch biết ta, trăm trận không thua). Người nói: Nếu thiếu nghiên cứu tìm hiểu khả năng của ta và của địch một cách tỉ mỉ để đề ra mục đích, cách đánh thích hợp thì mắc nhiều khuyết điểm. Hồ Chí Minh đánh giá so sánh lực lượng địch, ta trên quan điểm chiến tranh nhân dân, theo phương pháp khoa học biện chứng, không dừng lại ở hiện tượng mà nhìn sâu vào bản chất, nhìn toàn diện, không đánh giá địch, ta một cách tĩnh mà đặt nó trong quá trình đang vận động. Chính vì vậy, trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, so sánh địch ta có chênh lệch lớn nên có người cho là "châu chấu đá voi". Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: "Ta nhất định thắng, địch nhất định thua". Người phân tích: Địch như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ, lực lượng ta ngày càng mạnh thêm như suối mới chảy, như lửa mới nhen, chỉ có tiến không có thoái", "Thế địch như lửa, thế ta như nước, nước nhất định thắng lửa". Hồ Chí Minh tiên đoán: "Nay tuy châu chấu đá voi nhưng mai voi sẽ lòi ruột ra". Quy luật chung của chiến tranh là mạnh được yếu thua. Ta muốn thắng địch phải mạnh hơn địch. Sức mạnh đó được tạo ra trong quá trình chiến tranh để thực hiện càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng và cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn. Quá trình đó theo Hồ Chí Minh là quá trình vận dụng các nhân tố lực, thế, thời, mưu. Bác Hồ nói: "Phải nghiên cứu cách đánh giặc để có một lối đánh rất tài giỏi thì trăm trận trăm thắng".

Muốn tạo lực, theo Hồ Chí Minh là phải dựa vào dân, "có dân là có tất cả". Muốn dựa vào dân thì dân phải được tổ chức chặt chẽ, được giác ngộ lòng yêu nước, phải chăm lo bồi dưỡng sức dân mới có cơ sở tạo ra lực mới. Đi đôi với tạo lực, Hồ Chí Minh rất coi trọng tạo thế. Nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh về tạo thế là phải xây dựng "thế trận lòng dân". Theo Người đó là thế trận vững chắc nhất, quyết định nhất. Hồ Chí Minh cho rằng: "Phải dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được ta". Thế có quan hệ với lực. Ở vào một thế tốt thì lực được nhân lên gấp bội. Người đưa ví dụ: 1kg nếu ở vào thế tốt có thể nâng 100kg lên được. Thế trong từng trận đánh, thế từng chiến dịch, thế của từng chiến trường và thế trận của cả nước. Đi đôi tạo lực, tạo thế, Hồ Chí Minh còn rất coi trọng tạo thời cơ. Thời cơ là thời thế, là thời điểm có lợi nhất để tiến công đối phương. Người yêu cầu phải nắm vững thời cơ, tận dụng thời cơ và biết tạo ra thời cơ bởi: "Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công" (Bài thơ Học đánh cờ).

Theo Hồ Chí Minh, phải biết tận dụng thời gian, vì thời gian là lực lượng, thời gian là sức mạnh, Hồ Chí Minh dùng kế "Trường kỳ kháng chiến", "Vừa kháng chiến vừa kiến quốc" để có thời gian chuẩn bị mọi mặt và chuyển dần từ thế yếu lên thế mạnh. Người nói: giặc Pháp có "vỏ quýt dày", ta phải có thời gian để mài "móng tay nhọn". Bác Hồ nói: Thắng lợi và trường kỳ đi đôi với nhau "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!". Muốn ăn quả tốt phải trồng cây to. Trường kỳ kháng chiến, theo Hồ Chí Minh không đối lập với tư tưởng chiến lược tiến công. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là phải luôn luôn tiến công, chủ động giành thế tiến công. Có tiến công mới làm cho địch suy yếu, càng bộc lộ những mặt yếu cơ bản của chúng, làm cho ta mạnh dần lên, phát huy những mặt mạnh ưu thế của ta. Cho nên phải "Kiên quyết không ngừng thế tiến công".

Cùng với tạo lực, tạo thế, tranh thời, nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh phải biết lập mưu. Trong quân sự, mưu là toàn bộ chủ trương, ý đồ, quyết tâm chiến đấu, kế hoạch chiến lược, chiến dịch; mưu còn là tài thao lược của các tướng lĩnh, là tinh thần mưu trí sáng tạo, linh hoạt của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lúc lâm trận, mưu còn là thuật nghi binh đánh lừa địch, tạo ra động thái thực thực, hư hư trong chiến tranh. Theo Hồ Chí Minh dựng mưu thế trong lúc địch mạnh hơn ta phải dùng sức mạnh của toàn dân, dùng mưu trí của toàn dân, "đánh giặc bằng mưu, thắng giặc bằng thế". Mưu trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh là phải sử dụng tất cả các yếu tố: lực, thế, thời, mưu để tạo ra cách đánh thích hợp, hiệu quả.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh hàm chứa sâu sắc tư tưởng quân sự truyền thống của dân tộc ta: Lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông. Biết đánh bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, bằng mọi thứ vũ khí có trong tay; không chỉ đánh vào quân đội địch có vũ khí mà còn đánh vào lòng người, kết hợp tác chiến với binh địch vận. "Công tâm là thứ nhất, công thành là thứ hai". Người nói: Địch vận là "tìm cách làm sao phá được địch mà ta không phải đánh". Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh còn là đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới đánh đổ hoàn toàn. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" (Thơ "Xuân 1968"), chủ đổ, tớ ắt phải đổ theo; là nghệ thuật khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Dưới ánh sáng tư tưởng quân sự, Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh và của Đảng, quân và dân ta đã sáng tạo ra chiến tranh nhân dân vĩ đại, đánh thắng mọi kẻ thù hung bạo, một phát minh lớn có ý nghĩa thời đại góp vào kho tàng lý luận và thực tiễn quân sự ưu việt của cách mạng thế giới.

Hoằng Tháo

 NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của giảng viên.

Việc tuyên truyền nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cho giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh cần được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua việc quán triệt, triển khai nhiệm vụ tại các buổi họp đảng bộ, chi bộ, sinh họat chuyên môn. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền theo hướng gắn chặt lý luận với thực tiễn; gắn hoạt động nghiên cứu chuyên sâu như đề tài, hội nghị, hội thảo với tổng kết thực tiễn để giảng viên lý luận chính trị có cơ hội hiểu toàn diện, thấu đáo các nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngoài ra, các trường chính trị cấp tỉnh cần quán triệt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong những công việc cụ thể của giảng viên như giảng dạy, nghiên cứu khoa học; xây dựng quy định cụ thể, định mức rõ ràng đối với giảng viên trong thực hiện nhiệm vụ này; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện của giảng viên.

Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho giảng viên.

Ban Chỉ đạo 35 các cấp cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức, kỹ năng cho giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh nhằm trang bị cho giảng viên những kiến thức mới, những kỹ năng cần thiết trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là kỹ năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch; viết tin bài đấu tranh phản bác; kỹ năng chia sẻ thông tin, tham gia các nhóm đấu tranh trên không gian mạng…

Ngoài ra, giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh cũng cần được bồi dưỡng, tập huấn về tích hợp, lồng ghép nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong đào tạo trung cấp lý luận chính trị nhằm tăng tính đảng, tính chiến đấu cho các bài giảng; đồng thời định hướng cho học viên tham gia nhiệm vụ chính trị này để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện cơ chế sử dụng, đánh giá, ghi nhận sự tham gia tích cực của giảng viên.

Để có một lực lượng giảng viên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đông đảo, các trường chính trị cần làm tốt công tác lựa chọn, tuyển chọn, sàng lọc những người vừa có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị; vừa có lập trường tư tưởng vững vàng, có nhiệt huyết cách mạng, có ý thức đấu tranh chống lại những cái xấu, những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch.

Ngoài ra, căn cứ vào đặc điểm tình hình của mỗi trường cùng với ưu điểm, thế mạnh của mỗi cá nhân, cần bố trí họ vào các nhiệm vụ cụ thể; có chính sách đãi ngộ phù hợp cả về vật chất và tinh thần để động viên, khích lệ. Kịp thời ghi nhận, đánh giá, khen thưởng những cá nhân, tổ chức tích cực, chủ động và đấu tranh có hiệu quả để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực ghi nhận, lan tỏa những thành quả của các cá nhân, tổ chức tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ tư, phát huy tinh thần tự giác, tích cực, sáng tạo của giảng viên.

Để có thể tham gia có hiệu quả vào việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi giảng viên trước hết cần tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận chính trị, bản lĩnh cách mạng và khả năng “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Từ đó có ý thức tự giác, chủ động tuyên truyền, lan tỏa nhằm nâng cao ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đến học viên, sinh viên để huy động sức mạnh tổng hợp, tổng lực trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Mỗi giảng viên cũng cần phải phát huy tinh thần nêu gương, tiên phong trong việc đấu tranh bảo vệ các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận và không gian mạng; luôn vững vàng, kiên định với nền tảng tư tưởng tư tưởng của Đảng theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đại hội XIII: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(2). Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”(3).

Đội ngũ giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh là những người có tầm ảnh hướng lớn đến học viên nên cần tiên phong, gương mẫu trong lời nói, việc làm, cẩn trọng trong những phát ngôn kể cả trên giảng đường và trên không gian mạng; chấp hành nghiêm túc những quy định của Đảng, của cơ quan, đơn vị về kỷ luật phát ngôn; luôn tỉnh táo trước những luận điệu kích động, mua chuộc của các thế lực thù địch; tạo niềm tin vững chắc và chỗ dựa tin cậy cho học viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đội ngũ giảng viên cũng cần quán triệt đúng tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”. Do đó, bên cạnh việc tự mình thực hiện nhiệm vụ, cần hướng dẫn, tuyên truyền cho học viên những kiến thức; kỹ năng; chú ý đến việc phát triển đội ngũ kế cận tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm xây dựng lực lượng đấu tranh đông đảo, rộng khắp.

Nhằm thực hiện đúng phương châm: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(4); mỗi giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh cần nhận thức đúng vai trò, sứ mệnh của mình, từ đó có ý thức khắc phục những hạn chế, khó khăn để góp phần bảo vệ có hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

LHS