Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020


NHẬN DIỆN ÂM MƯU HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ NGUY HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Là một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm nhưng “bất bạo động” lại thường được ngụy trang dưới danh nghĩa phản kháng “ôn hòa”, “dân sự”. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất của phương thức “bất bạo động” không chỉ góp phần thống nhất nhận thức mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.
Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước không gian hậu Xô viết như: Gruzia (2003), Ucraina (2004), Kưrgưstan (2005)...; “Cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; “Cách mạng ô dù” ở Hồng Kông năm 2014; các cuộc biểu tình phản đối Dự luật Dẫn độ ở Hồng Kông, Trung Quốc năm 2019… cho thấy vai trò đặc biệt to lớn của “bất bạo động”. Được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài, các lực lượng đối lập, phần tử chống đối chính phủ tại các quốc gia này triệt để lợi dụng sự khủng hoảng, tình trạng mất ổn định chính trị, xã hội trong nước, thông qua hô hào sử dụng “bất bạo động” đã kích động, lôi kéo được hàng vạn người dân xuống đường biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính phủ cầm quyền tại các nước này. “Bất bạo động” được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trên thế giới, Mahatma Gandhi được xem là người đầu tiên áp dụng phương thức đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh. Đấu tranh “bất bạo động” cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ đòi quyền bình đẳng, chống lại nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, được lãnh đạo bởi mục sư Martin Luther King. Ở nước ta, thuật ngữ “bất bạo động” được xuất hiện vào khoảng thập niên đầu của thế kỷ XX. Những tư tưởng ban đầu của phương pháp đấu tranh “bất bạo động” đã được nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh tiến hành để đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược với phong trào Duy Tân. Phương thức hoạt động của phong trào là “bất bạo động”, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lĩnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghiệp, bỏ mê tín dị đoan… Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”. Tư tưởng ban đầu là như vậy, tuy nhiên gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước không gian hậu Xô viết, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vậy, “bất bạo động” là gì? Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng vũ khí, súng đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia. Nhận diện phương thức “bất bạo động” với những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, “bất bạo động” là phương thức hoạt động không sử dụng vũ khí, súng, đạn mà sử dụng áp lực của quần chúng, từng bước làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia. Khác với phương thức bạo lực, vũ trang, “bất bạo động” là phương thức hoạt động chống đối không sử dụng vũ trang mà chủ yếu tập trung vào việc sử dụng sức mạnh của quần chúng để chống đối chính quyền, trên cơ sở hô hào, kích động quần chúng tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền; kích động công nhân đình công, bãi công; lôi kéo, lừa bịp, kích động các giai tầng xã hội xuống đường tuần hành, biểu tình, gây áp lực với Đảng, Nhà nước, đòi thực hiện các yêu sách như: đòi Đảng cầm quyền từ bỏ vai trò lãnh đạo; đòi cải cách chính trị; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang… từ đó làm suy yếu, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền, chính quyền đương nhiệm, lập nên chính quyền mới thân với các thế lực thù địch nước ngoài.
Hai là, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền, đưa chính quyền vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” là những nội dung cơ bản của phương thức “bất bạo động”. Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” diễn ra tại một số nước trên thế giới thời gian qua cho thấy, những nội dung chính được các lực lượng đối lập, chống đối sử dụng trong đấu tranh “bất bạo động” là:
 1) Bất tuân dân sự: Tức là người tham gia phương thức này có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của luật pháp (tẩy chay bầu cử, biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa…).
2) Hành động một cách có chủ đích: Tức là người tham gia có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện (tập hợp lực lượng, rải truyền đơn, kích động quần chúng xuống đường, chiếm trụ sở, bắt giữ cán bộ; tạo sự kiện, lấy cớ cho các tổ chức quốc tế, các nước phương Tây can thiệp...).
3) Thuyết phục và thương lượng: Đưa ra các điều kiện phù hợp với tình hình, từ thấp đến cao, đẩy chính quyền vào thế buộc phải dùng vũ lực, gây đổ máu, tạo cớ bên ngoài can thiệp buộc chính quyền phải nhượng bộ. Nói cách khác, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền được thực hiện trong phương thức “bất bạo động” chủ yếu là tẩy chay, bất hợp tác về kinh tế (không tuân theo các quy định, luật lệ, pháp luật của nhà nước về kinh tế, công nhân đình công, doanh nghiệp dừng sản xuất, bãi thị đồng loạt, rút tiền khỏi ngân hàng, từ chối trả các lệ phí, từ chối nhận tiền của nhà nước…); bất hợp tác về chính trị (công khai từ chối ủng hộ nhà nước; viết và phát biểu kêu gọi chống đối; tẩy chay bầu cử; ngồi ăn vạ; bất hợp tác về tư pháp, phản ứng; cản trở các hệ thống thông tin và tin tức…); bất hợp tác xã hội (tẩy chay giao tiếp; sinh viên biểu tình, bất phục tùng dân sự, rút lui khỏi các định chế xã hội; ở nhà, tạo khu an toàn, tiêu thổ tập thể...)…
Ba là, đình công, biểu tình, tuần hành chống đối chính quyền là hình thức chủ yếu, đặc trưng chính của “bất bạo động”. Mục tiêu chính của các thế lực thù địch, phản động trong thực hiện phương thức “bất bạo động” là bằng những “chiến thuật” hòa bình trong đấu tranh chính trị để lật đổ chính quyền. Do đó, đình công, biểu tình, tuần hành là hình thức được chúng xác định mang lại hiệu quả cao nhất, ít thiệt hại nhất. Đồng thời, sử dụng các hình thức này, trong trường hợp chính quyền sử dụng vũ lực để đàn áp thì đó sẽ là điều kiện thuận lợi, là “cái cớ” để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng can thiệp, gây sức ép, thậm chí sử dụng sức mạnh quân sự để tấn công.
Bốn là, “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động” khi có điều kiện, thời cơ. Về hình thức, “bất bạo động” được thể hiện thông qua các biện pháp “ôn hòa”, “dân sự”. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, không phải bất cứ lúc nào, trong trường hợp nào “bất bạo động” cũng đều là ôn hòa, phi bạo lực. Khi “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động”. Nói cách khác, ranh giới giữa “bất bạo động” và “bạo động” là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Ở Việt Nam, thời gian gần đây được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan trong nước đang ra sức hô hào, tuyên truyền rộng rãi về phương thức “bất bạo động” trên các trang mạng xã hội; mở các lớp huấn luyện, đào tạo về “bất bạo động” cho số đối tượng chống đối, phản động; triệt để lợi dụng các vụ việc, sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm để lôi kéo, kích động, thu hút quần chúng tham gia vào các hoạt động trái pháp luật…
Các cuộc biểu tình phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình năm 2016, 2017; các cuộc biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và dự thảo Luật Đặc khu tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… năm 2018… là những vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự mang bóng dáng của “bất bạo động”. Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng. Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhận diện bản chất của “bất bạo động” có ý nghĩa hết sức quan trọng…


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020


Tăng cường giáo dục, đề cao
trách nhiệm phòng gian, bảo mật
Bàn Luận
Theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến cuối năm 2019, cả nước có hơn có 64 triệu người Việt sử dụng internet và MXH. Việt Nam là một trong 10 quốc gia có nhiều người dùng MXH nhất thế giới. Trong bối cảnh “thế giới phẳng” hiện nay, việc bảo vệ bí mật nhà nước càng trở nên cấp bách, quan trọng. Vì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn coi việc tiếp cận, nắm bắt được các thông tin nhạy cảm liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia, quốc phòng, quân sự, đối ngoại, kinh tế-xã hội… của đất nước là một trong những cơ hội để thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình” và tác động đến quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội bộ của ta.
Vì vậy, việc làm cần thiết hiện nay là cần đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ bí mật nhà nước cho mọi người dân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Phải làm cho mọi người hiểu biết sâu sắc rằng, bảo vệ bí mật nhà nước nói chung, bảo vệ những thông tin nội bộ của cơ quan, đơn vị nói riêng là thiết thực góp phần xây dựng môi trường thông tin an toàn, môi trường văn hóa lành mạnh trên MXH; đồng thời góp phần phòng, chống, ngăn chặn âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường khả năng “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc.
Theo luật định, hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác. Nhưng trên thực tế, không ít người làm việc trong bộ máy công quyền thường nghĩ rằng, chỉ có các tài liệu dán các nhãn “tuyệt mật", "tối mật", "mật” mới thuộc danh mục bí mật nhà nước. Thế nên, nhiều người vẫn tự ý đưa lên MXH những địa điểm, hoạt động, lời nói thuộc diện bí mật nhà nước mà không biết rằng mình đang phạm luật. Chẳng hạn, có người đăng ảnh hoạt động diễn tập quân sự ở một địa điểm chiến lược quan trọng; hay tán phát, chia sẻ, bình luận trên MXH về lời nói của cán bộ lãnh đạo trong cuộc họp, hội nghị nội bộ… Để phòng ngừa tình trạng này, cần quán triệt, phổ biến cho mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nắm vững những nội dung cơ quan của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, trong đó tập trung vào các nội dung quan trọng, như: Nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước; các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước; danh mục bí mật nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước…
Trong bối cảnh MXH bùng nổ hiện nay, thông tin nội bộ của cơ quan, đơn vị và thông tin bí mật nhà nước rất dễ bị rò rỉ vì chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh là người ta có thể ghi âm, ghi hình, chụp ảnh “lén” trong một cuộc họp, hội nghị, hội thảo có nội dung nhạy cảm rồi đăng tải, tán phát trên internet, MXH. Chỉ một chút sơ suất, lơ là của ban tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo có thể tạo cơ hội cho những người thiếu ý thức chính trị vi phạm các quy định về bảo vệ thông tin nội bộ, bí mật nhà nước rồi gây ra những hệ lụy, hậu quả đáng tiếc. Điều này đặt ra cho các cơ quan, đơn vị phải đề ra những quy định nội bộ để phòng ngừa việc rò rỉ thông tin nhạy cảm từ ngay cơ quan, đơn vị mình.
Bên cạnh đó, cần chú trọng làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, nhân viên văn thư, bảo mật, cơ yếu và những người làm việc trong các cơ quan tổ chức, cán bộ, thanh tra, kiểm tra, nội chính, tư pháp, xuất nhập cảnh… Đây là lực lượng cốt yếu trong việc lưu giữ những thông tin nội bộ, thông tin nhạy cảm, thông tin bí mật nhà nước. Nếu đội ngũ này không được kiểm soát, quản lý sâu sát về mọi phương diện, nhất là về các mối quan hệ xã hội, thì có thể làm rò rỉ thông tin gây bất lợi cho việc bảo vệ bí mật nhà nước.
Một giải pháp không kém phần quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ để làm tốt công tác bảo mật đường truyền mạng, bảo mật cổng thông tin, trang thông tin điện tử; tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng tại cơ quan, đơn vị, tạo dựng các “tường lửa” để phòng, chống hiệu quả tin tặc tấn công, lấy cắp thông tin nội bộ, thông tin thuộc bí mật nhà nước trên mạng máy tính.
Sử dụng MXH là một nội dung thuộc quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin của mọi người dân, trong đó có cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Nhưng quyền tự do đó cần được đặt trong khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội để bảo đảm cho người sử dụng MXH vừa được thể hiện nhu cầu kết nối, bày tỏ, chia sẻ chính đáng của mình, vừa góp phần phòng ngừa nguy cơ rò rỉ thông tin nội bộ và lộ bí mật nhà nước.


Chủ quan, khinh suất, lơ là
có thể dẫn đến hậu quả khôn lường
Bàn Luận
Với tính chất siêu kết nối, tốc độ lan tỏa thông tin siêu nhanh, bất cứ thông tin nào xuất hiện trên MXH cũng có thể đến với mọi người có mặt ở khắp nơi trên thế giới trong thời gian ngắn. Nếu đó là những thông tin tích cực, lành mạnh, nhân văn sẽ góp phần nhân lên những điều tốt đẹp trong cuộc sống, trong xã hội. Ngược lại, nếu đó là những thông tin tiêu cực, độc hại sẽ như thứ “đại dịch” lây lan, gây ra những tác hại không nhỏ đối với môi trường thông tin, môi trường văn hóa xã hội.
Thống kê của các cơ quan chức năng cho thấy: Trong khoảng 10 năm qua đã phát hiện hơn 1.000 vụ làm lộ bí mật nhà nước. Bên cạnh những trường hợp cố tình làm lộ bí mật nhà nước phải xử lý nghiêm minh, vẫn còn nhiều trường hợp làm rò rỉ thông tin nội bộ, thông tin nhạy cảm của cơ quan, đơn vị xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, từ sự vô tư đến mức vô tâm của chính những người sử dụng MXH. Thế nên mới xảy ra tình trạng “trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường” bởi tốc độ lan truyền “chóng mặt” của thông tin trên MXH.Thời gian qua, trong khi đại đa số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức luôn có ý thức phòng gian bảo mật, đề cao trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ bí mật nhà nước, thì vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên chủ quan, lơ là, khinh suất, thiếu cảnh giác, làm rò rỉ, lộ, lọt thông tin nội bộ cơ quan, đơn vị và những thông tin nhạy cảm liên quan đến chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, gây bất lợi cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 không chỉ quy định những vấn đề liên quan đến các chiến lược an ninh chính trị, an ninh quốc gia, cơ yếu, quốc phòng, quân sự, đối ngoại… nếu bị lộ có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn quy định những nội dung không được phép để rò rỉ, tán phát, như: Thông tin về quy trình chuẩn bị và triển khai, thực hiện công tác tổ chức, cán bộ; đề thi, đáp án thi tuyển chọn lãnh đạo, quản lý và tuyển dụng, nâng ngạch công chức, viên chức; đề thi, đáp án và thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi cấp quốc gia…  
Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm, như: Chuẩn bị nhân sự đại hội; thi tuyển công chức, viên chức; tổ chức kỳ thi của ngành giáo dục… đã để lộ, lọt nhiều nội dung liên quan đến các vấn đề nhạy cảm này trên MXH. Hệ lụy kéo theo là hàng chục cán bộ, công chức, giáo viên… bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự do vi phạm nghiêm trọng các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Để xảy ra tình trạng rò rỉ thông tin nội bộ của cơ quan, đơn vị và lộ thông tin thuộc bí mật nhà nước, ngoài nguyên nhân khách quan do tác động mặt trái của thời đại công nghệ số và MXH không dễ quản lý, kiểm soát một sớm một chiều, còn xuất phát từ ý thức chủ quan của một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong thực hiện công tác phòng gian, bảo mật và quản lý thông tin nội bộ; đồng thời vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác dẫn đến vô ý làm rò rỉ thông tin nội bộ và lộ bí mật nhà nước. Cùng với đó, tình trạng lưu trữ tài liệu mật trong máy tính xách tay và trong các thiết bị lưu trữ có kết nối internet còn khá phổ biến cũng làm cho công tác bảo vệ bí mật nhà nước chưa được thực hiện nghiêm ngặt, hiệu quả. 



Cán bộ, đảng viên làm điểm tựa vững chắc
cho nhân dân trong lúc khó khăn, hoạn nạn
Bàn Luận
Trước đây, trong xã hội nông nghiệp cổ truyền và cộng đồng làng xã, con người ít dịch chuyển, giao lưu và thường sống trong một phạm vi nhỏ hẹp, thì ngày nay, trong thế giới hội nhập và xã hội thông tin, khoảng cách con người hầu như không có giới hạn. Toàn cầu hóa đã mang đến nhiều điều kiện sống thuận lợi, văn minh cho nhân loại, nhưng cũng kéo theo nhiều hệ lụy không thể xem thường, nhất là vấn nạn dịch bệnh, sự cố xã hội xảy ra ngoài mong muốn của con người. Trước những tình huống đó đòi hỏi mọi người dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hết sức bình tĩnh, giữ gìn thái độ tỉnh táo, đề cao trách nhiệm và nâng tầm bản lĩnh ứng phó trước các sự cố phát sinh trong đời sống xã hội.
Sống trong thể chế xã hội nào cũng vậy, đội ngũ quan chức, công chức nhà nước phải luôn lấy kỷ cương phép nước làm trọng, thượng tôn pháp luật, ứng xử đúng mực, công tâm trước các sự cố, biến cố, thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Được nhân dân ủy thác quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên ở nước ta cũng không đứng ngoài thông lệ đó. Khi xã hội, đất nước phải đối mặt với những tình huống, sự cố ngoài ý muốn xảy ra đối với cộng đồng, không chỉ lãnh đạo cấp cao, mà mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên từng cương vị, chức trách cũng phải nhận thức thấu đáo bổn phận “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của nhân dân và đề cao trách nhiệm chính trị để làm điểm tựa vững vàng, chắc chắn cho đồng bào, chiến sĩ trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.
Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Cán bộ, đảng viên cần bày tỏ thái độ bình tĩnh, ý chí kiên định, không hề nao núng, dao động trước những tình huống phức tạp, sự cố phát sinh như dịch bệnh, thiên tai… không may xảy ra trong xã hội; đồng thời chung tay, góp sức để cùng cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp kiên quyết đẩy lùi nguy cơ, giảm thiểu thiệt hại, góp phần ổn định tình hình theo chiều hướng tích cực. Đó vừa là bổn phận, trách nhiệm công dân, vừa là đạo đức, lương tâm của người cộng sản.




Tung tin thất thiệt, gây nhiễu dư luận,
làm hoang mang cộng đồng
Bàn Luận
Trong khi toàn xã hội đang dốc lòng, chung sức phòng, chống dịch nCoV gây ra, thì vẫn có một số người, trong đó có cả đảng viên, công chức, viên chức sử dụng mạng xã hội đưa những thông tin trái chiều, thật-giả lẫn lộn, gây nhiễu dư luận, thậm chí có những phản ứng không đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ. Chẳng hạn, có ý kiến nóng vội phê phán việc chậm ra quyết định cho học sinh nghỉ học; nhưng sau khi có ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, nhiều địa phương quyết định cho học sinh nghỉ học ở trường, thì có người lại đưa ra ý kiến cực đoan là để học sinh nghỉ ở nhà làm xáo trộn cuộc sống gia đình, vì cha mẹ đi làm thì không ai trông nom con cái (!).
Sau khi báo chí phê phán nhiều cơ sở kinh doanh bất chấp đạo lý, pháp luật, tự ý đội giá bán khẩu trang y tế gấp nhiều lần nên đã bị lực lượng chức năng xử phạt hành chính, thế là một số người lại sử dụng mạng xã hội “kêu gọi” đóng cửa hàng, không nhập và bán khẩu trang y tế nữa. Đấy là chưa kể, có một số tung tin thất thiệt về nơi này có dịch, nơi kia có người mắc bệnh, nơi khác sắp có người tử vong do dịch bệnh… Những thông tin cẩu thả, võ đoán đó không những làm hoang mang dư luận, mà còn gây khó cho các cơ quan chức năng trong thực thi công vụ, giải quyết công việc chuyên môn.
Không chỉ bày tỏ thái độ bàng quan, thiếu trách nhiệm trong thời điểm xảy ra dịch bệnh hiện nay, mà trước đó, vào những lúc xã hội xảy ra những vụ việc “nóng” liên quan đến giải phóng đất đai, thực hiện chính sách đền bù cho người dân như ở Thủ Thiêm, Đồng Tâm… hay một vài “sự cố” liên quan đến an ninh trật tự xã hội ở Bình Dương, Bình Thuận…, một số cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo đã đưa ra những thông tin chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội không có lợi cho sự nghiệp chung, thậm chí đưa ra những ý kiến phản biện theo lối quy chụp, đổ lỗi cho chính quyền, cố ý lèo lái dư luận nghĩ theo hướng khác. Hành vi này vô hình trung tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có thêm nguồn tin sai lệch để ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Trong kỷ nguyên công nghệ số lên ngôi, khi mạng xã hội trở thành “diễn đàn tự do” toàn cầu thì không ít người tự cho mình cái quyền ảo tưởng là “nhà báo công dân”, “diễn giả”, “nhà bình luận”, thậm chí cả cái gọi là “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà hoạt động vì nhân quyền”... Nếu lợi dụng tự do ngôn luận để gặp đâu nói đấy, nói cho hả dạ, nói cho sướng mồm, nói để câu view, câu lile nhằm mục đích nhiều người biết đến để bán hàng online, hoặc muốn “nổi tiếng” theo kiểu “đốt đền” thì tự mình gánh chịu hậu quả. Thực tế cho thấy, thời gian qua có một số sự cố phát sinh, dịch bệnh, điểm nóng xảy ra trong đời sống xã hội, một số người hoặc là do thiếu thông tin, hoặc do ý đồ thiếu lành mạnh đã có những lời nói, phát ngôn, bình luận, chia sẻ sai trái, lệch lạc, thất thiệt trên mạng xã hội, vì thế đã bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính, thậm chí bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự theo luật định.


Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
mặt trái của thế giới hội nhập
Bàn Luận
Hiếm thời nào mà con người lại có điều kiện hưởng thụ cuộc sống tiện ích, sung sướng như thời nay. Nhưng cũng hiếm thời nào mà con người cũng phải đương đầu, đối phó với nhiều vấn đề xã hội như thời nay. Đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ biến đổi khí hậu; tin tức giả, tin đồn tràn lan trên mạng xã hội; nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm mới phát sinh… Trong đó, đáng quan ngại hơn là nguy cơ bệnh dịch lan truyền một cách nhanh chóng, rộng rãi, làm ảnh hưởng, đảo lộn sinh hoạt, cuộc sống, lao động sản xuất của người dân nhiều quốc gia trên thế giới. Những năm qua, nhiều loại dịch bệnh, như: Sars, cúm gà, dịch tả lợn châu Phi… và những ngày gần đây là dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) gây ra đang hoành hành tại Trung Quốc và lây lan ra nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Chấp hành, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương đã và đang tập trung sức lực, thực hiện các biện pháp đồng bộ, ráo riết, quyết liệt nhằm phòng, chống dịch bệnh này hiệu quả nhất, góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống, lao động sản xuất của nhân dân và giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội. Nhiều cán bộ lãnh đạo đã không ngại đường sá xa xôi đích thân đến thị sát ở những cửa khẩu, địa bàn có nguy cơ cao về phát sinh dịch bệnh; trực tiếp chỉ đạo các lực lượng chức năng, chuyên ngành làm tốt công tác vận động, tuyên truyền, khuyến nghị, khuyến cáo các tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức, nhận thức, trách nhiệm trong việc phòng dịch, thực hiện nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa học. Nhiều cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã có những việc làm thiết thực như hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp phòng dịch tại nơi cư trú, nơi làm việc; phát miễn phí khẩu trang y tế phòng, chống lây nhiễm; chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực trên mạng xã hội để giúp người dân đề cao trách nhiệm trong công tác phòng dịch…Không ai mong muốn dịch bệnh phát sinh, lây lan trong cộng đồng. Nhưng chúng ta cũng khó có thể giải quyết tận gốc vấn đề dịch bệnh, mà phải tìm mọi cách để phòng, chống, giảm tối đa thiệt hại mà nó gây ra. Tiên lượng trước những diễn biến phức tạp khôn lường của dịch nCoV từ Vũ Hán (Trung Quốc) ảnh hưởng đến nước ta, cả thời điểm trước, trong và sau Tết Nguyên đán, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chỉ thị chỉ đạo, yêu cầu các cấp, các ngành và toàn xã hội phải nỗ lực bằng mọi giá để phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm này, coi việc phòng, chống dịch có tính cấp bách, khẩn trương, quyết liệt như phòng, chống giặc.


Tôn trọng kỷ luật Đảng là đạo đức
cách mạng của người cộng sản
Bàn Luận
Đội ngũ CB, ĐV là những người trực tiếp tuyên truyền, thực hiện đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Hơn ai hết, đây là những người phải nắm chắc, hiểu sâu nguyên tắc của Đảng và đường lối, chủ trương của Đảng để tuyên truyền đúng, đủ đến các tầng lớp nhân dân. Người CB, ĐV khi tiếp xúc, giao tiếp với nhân dân, với các cơ quan báo chí phải phát ngôn đúng với chức trách, nhiệm vụ, vị trí công tác của mình; đặc biệt, cần bám sát các quy định, quy chế phát ngôn do các cơ quan chức năng cũng như cơ quan, địa phương mình ban hành.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của mọi đảng viên và mọi tổ chức đảng. Tăng cường kỷ luật đảng không phải để kỷ luật nhiều đảng viên mà quan trọng nhất là để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết cho đội ngũ CB, ĐV. Để bảo đảm kỷ luật được chặt chẽ, tự giác thì phải mở rộng, tăng cường dân chủ trong Đảng; có như vậy mới bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và từ đó tăng cường dân chủ.
Thực hiện nhất quán những vấn đề mang tính nguyên tắc trên, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy dân chủ, để mọi người được tham gia đóng góp, xây dựng Đảng, hệ thống chính quyền Nhà nước và đề đạt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến riêng của mình. Đảng mở rộng dân chủ trong đóng góp ý kiến, trong phát ngôn, nhưng phải trong khuôn khổ những quy định của nguyên tắc, Điều lệ Đảng. Do vậy, trong các hội nghị, trên các phương tiện thông tin đại chúng, CB, ĐV phát biểu ý kiến phải theo đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng; phải giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được phát ngôn tùy tiện, hoặc lợi dụng các diễn đàn, các cuộc hội thảo, hội nghị để đả kích tổ chức, phê phán lãnh đạo, bôi nhọ cá nhân và tuyên truyền các quan điểm sai trái. Tuỳ tiện phát ngôn sẽ tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và những phần tử xấu lợi dụng chống Đảng.
Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của các diễn đàn online, mạng xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý chặt chẽ CB, ĐV trong cả lời nói và việc làm. Những thông tin trên các diễn đàn, mạng xã hội rất khó kiểm soát, kiểm chứng về mức độ tin cậy. Bởi vậy, khi tham gia các diễn đàn này, bất kỳ một bình luận, phát ngôn nào của CB, ĐV cũng dễ trở thành chủ đề bàn luận, thậm chí bị các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá. Trách nhiệm trước hết thuộc về cấp ủy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đặt ra các yêu cầu, quy chế về việc phát ngôn đối với mọi đảng viên sinh hoạt ở chi bộ mình. Cấp ủy các cấp, các đảng bộ, chi bộ cần đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường phổ biến, quán triệt, nâng cao ý thức tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Đảng cho CB, ĐV; kịp thời ngăn chặn, xử lý khi có CB, ĐV vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm trái quan điểm, đường lối, quy định của Đảng và Nhà nước.
Cùng với việc siết chặt quản lý, cấp ủy các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những cá nhân có phát ngôn không đúng với chức năng, nhiệm vụ của mình; không đúng với đường lối, quan điểm của Đảng để giữ nghiêm nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn của Đảng. Đồng thời, mỗi CB, ĐV phải nâng cao bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, kịp thời nhận diện và đấu tranh trực diện chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, lợi dụng chống phá; nhất là khi tham gia các diễn đàn, mạng xã hội trên môi trường internet, từng CB, ĐV cần có nhận thức đúng đắn, không bị các thế lực thù địch, phản động dụ dỗ, lôi kéo, cài bẫy trong các bình luận, phát ngôn, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh của Đảng.
Mọi CB, ĐV dù ở cấp nào cũng đều phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nhất thiết không để CB, ĐV đứng ngoài sự quản lý của tổ chức. Mọi hành động vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, gây chia rẽ, bè phái trong Đảng đều phải bị xử lý nghiêm minh. Đây là yêu cầu cấp thiết thường xuyên để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng. Hơn ai hết, CB, ĐV phải tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật phát ngôn, làm lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, gây mất đoàn kết, nghi kỵ nội bộ, tiếp tay cho những hành vi vi phạm. Có như vậy, kỷ cương, kỷ luật của Đảng không những được phát huy hiệu lực, hiệu quả, mà uy tín, vai trò, vị thế của Đảng ngày càng được tăng cường và khẳng định.


Phát ngôn tùy tiện - biểu hiện xa rời nguyên tắc của Đảng
Bàn Luận
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy chế, quy định về kỷ luật phát ngôn đối với CB, ĐV, nhằm giữ vững tính Đảng, bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước. Nhìn chung, CB, ĐV đều giữ vững quan điểm, lập trường, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ trên từng vị trí công tác, từ đó nói, viết đúng với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của tổ chức. Tuy nhiên, thời gian gần đây, một số CB, ĐV có những phát ngôn tùy tiện, không đúng với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Cách đây một năm, việc ông Chu Hảo bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng, vì đã có những vi phạm vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, vi phạm tư cách, tiêu chuẩn đảng viên và quy định những điều đảng viên không được làm; có những bài viết, phát ngôn trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, trả lời phỏng vấn các hãng thông tấn báo chí nước ngoài không đúng sự thật, cổ súy cho những tư tưởng sai trái, lệch lạc, để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta... Đó là biểu hiện rõ nét của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của người đảng viên, phai nhạt lý tưởng cách mạng, không chịu trui rèn bản lĩnh, nhận thức chính trị, không tuân thủ kỷ luật phát ngôn của Đảng...
Thời gian gần đây, trước thềm đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, một số CB, ĐV đang ở giai đoạn giao thời, hoặc có biểu hiện “chợ chiều cuối khóa” đã không giữ được tính Đảng trong lời nói của mình. Biểu hiện là khi trong hội nghị thì phát ngôn một đằng, nhưng ngoài hội nghị lại nói một nẻo liên quan đến những vấn đề về nhân sự đại hội đảng, vi phạm nguyên tắc của Đảng. Những phát ngôn sai lệch, không đúng bản chất, khi gặp “chất xúc tác” của những người đưa tin theo kiểu “cắt gọt”, giật tít “nóng” để câu view, đã tạo ra những luồng dư luận xấu trên các diễn đàn, mạng xã hội; ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị về mọi mặt cho đại hội đảng các cấp.Một số CB, ĐV hưu trí lợi dụng dân chủ, phát ngôn sai trái, đi ngược lại đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, lộ rõ là những kẻ hai mặt, bởi khi còn đương chức thì không tham gia xây dựng, đóng góp cho Đảng, cho đất nước, nhưng khi nghỉ hưu thì phát ngôn tùy tiện, không mang tính xây dựng, hoặc lợi dụng những thông tin không chính thống để quy kết, luận bàn thiếu trách nhiệm, thiếu ý thức chính trị, thậm chí bị lôi kéo, kích động. Tại buổi tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, quận Tây Hồ, TP Hà Nội, thông báo kết quả Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, nhân sự việc ông Chu Hảo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Về cơ bản CB, ĐV là rất tốt, nhưng không phải không có những người cậy mình có chút công lao để sinh ra kiêu ngạo, muốn nói gì thì nói, phán gì thì phán, nói trái điều lệ, nói trái Cương lĩnh. Như vậy, có còn là đảng viên nữa không...?”
Nhìn rộng ra, ở các chi bộ, đảng bộ, nơi này, nơi kia có những CB, ĐV nhận thức chưa đầy đủ, hoặc không đúng về chủ trương của cấp ủy, có những phát ngôn mang nặng thiên kiến chủ quan, gây mất đoàn kết, dẫn đến có những suy nghĩ, lời nói, việc làm vi phạm kỷ luật phát ngôn, ảnh hưởng xấu đến vai trò, uy tín của tổ chức đảng và đảng viên. Một số CB, ĐV vẫn còn biểu hiện “hẹp hòi”, phát ngôn không có cơ sở, cung cấp những thông tin không thuộc thẩm quyền, làm ảnh hưởng uy tín của người đảng viên và gây nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ; trong hội họp, tự phê bình và phê bình còn biểu hiện nể nang, né tránh, ít tranh luận, ít đấu tranh phê phán. Cũng có những đảng viên trong cuộc họp, lấy “im lặng là vàng”, nhưng khi ra khỏi cuộc họp thì bàn tán, phê người này, nói xấu người kia…


Cách mạng Tháng Mười Nga là ngọn đuốc soi đường
cho dân tộc Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới
Bàn Luận
Thấu hiểu hơn ai hết nỗi thống khổ của người dân mất nước, từ tháng 6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh) đã bôn ba khắp bốn biển, năm châu để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Khi nghiên cứu “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” do V.I.Lênin soạn thảo và được thông qua tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản (năm 1920), Nguyễn Ái Quốc đã vui mừng đến phát khóc, ngồi một mình nhưng Người đã nói to như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”2. Từ đó, Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I.Lênin-con đường Cách mạng Tháng Mười Nga; muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”3. Năm 1924, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Giô-van-ni Giéc-man-ét-tô, đăng trên Báo L'Unita của Đảng Cộng sản Italy, Người nói: “Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” ở các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”.
Trong gần 90 năm qua, Đảng ta luôn trung thành với lý tưởng cao đẹp của Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định với con đường Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; lãnh đạo toàn dân tiến hành các cuộc kháng chiến thần kỳ chống ngoại xâm, làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; tiếp theo giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do bè lũ phản động Pol Pot-Ieng Sary gây ra…
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm từ sự thoái trào của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và một số nước ở Đông Âu, để kịp thời đề ra những quyết sách đúng đắn, khắc phục triệt để các sai lầm, khuyết điểm và khởi xướng, lãnh đạo đường lối đổi mới toàn diện đất nước (từ năm 1986). Đảng ta đã khẳng định quan điểm nhất quán: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho các mục tiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng những quan niệm đúng, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.
Qua hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, những lý tưởng nhân văn, nhân đạo cao cả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện thực hóa bằng nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”5. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng ta là hoàn toàn đúng, phù hợp với xu thế thời đại; “lòng dân, ý Đảng” luôn hòa quyện, gắn kết chặt chẽ với nhau trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Ngày nay trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã và đang tranh thủ lợi thế về kinh tế, khoa học-công nghệ, mạng xã hội, sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, chống phá quyết liệt Chủ nghĩa Mác-Lênin, xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga. Bởi thế, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga sẽ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song, dấu ấn lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn không ngừng tỏa sáng, giữ nguyên giá trị là một cuộc cách mạng “vạch thời đại”.


Ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều biến động, đổi thay,
nhưng Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn giữ nguyên giá trị
Bàn Luận
Trong quá trình vận động, phát triển hơn một thế kỷ đã qua (kể từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi năm 1917), nhân loại đã chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm, phức tạp. Trong đó, tổn thất do những kẻ thâm thù với cách mạng gây ra cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế suốt mấy thập kỷ qua là vô cùng lớn, nhưng xu thế vận động khách quan của lịch sử mà Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra và tính tất yếu thắng lợi của CNXH là không thể đảo ngược. Hiện nay, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; tình hình thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội vẫn là xu thế lớn của thời đại. Lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại vẫn đang hiện diện và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới đã và đang lựa chọn con đường tiến lên XHCN bằng những phương thức cụ thể khác nhau. Đồng thời, đảng cánh tả ở nhiều nước tư bản đang từng bước chiếm ưu thế trên chính trường... Điều đó cho thấy, mặc dù CNXH hiện thực đang gặp nhiều sóng gió, thử thách lớn; các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách phủ định, hạ thấp ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại và ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với tiến trình phát triển của nhân loại, nhưng con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra vẫn là “ngọn đuốc” vạch thời đại, là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới; bởi nó phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử và ước nguyện ngàn đời của con người. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.


Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917
mở ra trang sử mới đối với nước Nga và thời đại
quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Bàn Luận
Cuộc cách mạng vĩ đại đó của giai cấp vô sản Nga đã khai phá con đường đi lên CNXH cho toàn thể nhân loại, đưa đến khả năng sáng tạo to lớn và cách mạng triệt để của giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động ở các nước trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, đế quốc. Đồng thời, trở thành “ngọn đuốc” soi đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản các nước vững niềm tin bước lên vũ đài chính trị với tư cách là giai cấp trung tâm của thời đại mới-“hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới, đưa thời kỳ “bão táp cách mạng” từ châu Âu lan tỏa nhanh chóng và mạnh mẽ sang châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin, đã khiến cho giai cấp tư sản vô cùng hoảng sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và điều chỉnh để tồn tại.
Lãnh tụ Đảng Bolshevich V. I. Lenin tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết tại Đại hội Xô Viết
toàn Nga ngày 7-11-1917 tại điện Smolnya, ngay sau khi chiếm Cung điện mùa Đông. Ảnh tư liệu.
Thực tiễn cho thấy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối phù hợp với tiến bộ xã hội, Đảng Cộng sản Nga, đứng đầu là lãnh tụ V.I.Lênin đã lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nga tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, khoa học-kỹ thuật, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh... đưa Liên Xô từ nước tư bản trung bình trở thành quốc gia hùng mạnh trên thế giới. Điều đó tạo nên thế và lực để Hồng quân Liên Xô trở thành lực lượng chủ yếu quyết định tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít, cứu nhiều dân tộc trên thế giới thoát khỏi thảm họa diệt chủng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Dưới tác động to lớn, sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga và chế độ XHCN ở Liên Xô, hàng loạt nước trên khắp các châu lục đã tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc, giành được độc lập; nhiều quốc gia, dân tộc đã lựa chọn con đường phát triển lên CNXH.
Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến cuối thập niên 1980, CNXH hiện thực với mục tiêu “độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội” đã trở thành giá trị phổ quát mang tính thời đại, được đông đảo các nước, các dân tộc trên thế giới hướng tới xây dựng và nhanh chóng phát triển thành một hệ thống XHCN hùng mạnh trên thế giới. Thực tế đó đã làm sụp đổ hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc được thiết lập trên toàn thế giới trong nhiều thế kỷ; do đó, sự “vĩnh hằng” của CNTB không còn nữa, nó đã bị phủ định về mặt nguyên tắc; mọi mưu toan của các thế lực phản động, cơ hội chính trị hòng bôi nhọ, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH, phủ nhận những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đều vô vọng.


Chủ nghĩa đế quốc cùng những kẻ thâm thù
với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm thay đổi lịch sử
và giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga
Bàn Luận
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi, giai cấp tư sản Nga vừa bị đánh đổ đã cầu viện 14 đế quốc liên kết, tập trung toàn bộ sức mạnh nhằm tiêu diệt chính quyền cách mạng Xô-viết non trẻ, ra sức xuyên tạc, vu cáo lãnh tụ V.I.Lênin và những người cộng sản Nga. Chúng cho rằng, đó là sự “đảo chính”, “tiếm quyền” lãnh đạo của giai cấp tư sản và việc thiết lập Nhà nước công-nông Xô-viết là “đi chệch” khỏi quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Đặc biệt, từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Ðông Âu lâm vào thoái trào trong thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước, các thế lực thù địch tăng cường chống phá quyết liệt chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chúng tìm mọi cách công kích, bôi nhọ, xóa nhòa những lý tưởng nhân văn, nhân đạo của Cách mạng Tháng Mười Nga và cơ sở tư tưởng, lý luận của cuộc cách mạng này là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng tung ra và cổ xúy đủ mọi luận điệu xuyên tạc trắng trợn, thâm độc, như: Cách mạng Tháng Mười chỉ là “cuộc nổi dậy mang tính chất Nga thuần túy”; là “một cuộc bạo động phản dân chủ”; là “quái thai của lịch sử”, thậm chí cho rằng đó là một sự “đẻ non”… nhằm lừa bịp, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình XHCN hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác-Lênin và võ đoán rao giảng rằng: “Mô hình đổ thì học thuyết cũng đổ theo”(!). Từ đó, chúng không ngớt rao giảng rằng, CNXH đã đến “hồi kết thúc”. Chúng còn ra sức khuếch trương cổ xúy chỉ có chủ nghĩa tư bản (CNTB) là “vĩnh hằng” nhằm hướng lái các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đi theo quỹ đạo của CNTB.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020


ĐƯỜNG LỐI TĂNG CƯỜNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ
ĐỐI NGOẠI  QUỐC PHÒNG ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM
          Nhân Trần
Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối tăng cường hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Chính sách quốc phòng không liên minh quân sự không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để quản trị được tình hình an ninh, không để phát sinh xung đột và xảy ra chiến tranh; nhưng khi đất nước có nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp. “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”([1]). Tăng cường hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước, giải quyết các thách thức an ninh chung và luôn coi đó là kế sách giữ nước từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình. Là một quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ quốc tế; đồng thời, tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác để giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên. Việt Nam đánh giá cao vai trò của Liên hợp quốc trong các hoạt động giải trừ quân bị, gìn giữ hòa bình, ngăn ngừa xung đột, chạy đua vũ trang, chiến tranh; thực thi những chuẩn mực cốt lõi trong quan hệ theo luật pháp quốc tế; hoan nghênh và ủng hộ những sáng kiến nhằm ngăn chặn việc phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Việt Nam luôn nỗ lực tham gia giải quyết các vấn đề chung của thế giới; tích cực, chủ động tham gia và đóng góp nhiều sáng kiến, định hình cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng và lợi ích của quốc gia, nhất là với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; mở rộng phạm vi, quy mô tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, diễn tập an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác. Coi trọng và từng bước tham gia các cơ chế quốc phòng, an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh châu Âu. Tham gia sâu vào diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF); đối thoại Shangri-la; hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN; Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol)... Cam kết thực hiện nghiêm túc các hiệp định, thỏa thuận đã ký với các nước; đồng thời, thiết lập và duy trì đường dây nóng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam với Bộ Quốc phòng các nước để trao đổi thông tin, giải quyết những vấn đề tồn đọng. Đến nay, chúng ta đã cử nhiều lực lượng (trong đó có 37 sĩ quan quân đội) tham gia các Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Xuđăng; đã tổ chức triển khai 2 bệnh viện dã chiến cấp Hai (mỗi bệnh viện biên chế 63 quân nhân) tại Phái bộ Nam Xuđăng và đang tích cực chuẩn bị đội Công binh để triển khai theo yêu cầu. Chúng ta đã chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng Tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác; có 49 quốc gia đặt văn phòng Tùy viên quân sự tại Việt Nam([2]). Phối hợp cùng các quốc gia khác tổ chức thành công nhiều đợt huấn luyện, diễn tập thực địa về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, chống dịch bệnh, bảo đảm an ninh hàng hải, chống khủng bố tại nhiều quốc gia như Ấn Độ, Brunây, Singapo, Thái Lan…; tham gia giao lưu, kết nghĩa biên cương thắm tình hữu nghị với các nước láng giềng. Đây là những việc làm thể hiện vai trò, trách nhiệm cao của Việt Nam trong ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới; nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân trên trường quốc tế./.



([1])Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019, Sđd, tr.25.
([2])Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019, Sđd, tr.16, 29.


KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ LÀ
CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM
          Nhân Trần
Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất trên thế giới không tham gia liên minh quân sự và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là quan điểm, chính sách nhất quán và sự khẳng định đó dựa trên một số cơ sở là:
Thứ nhất, liên minh quân sự tuy là một vấn đề khá phổ biến với nhiều nước nhưng luôn bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Tính khách quan, hai mặt của liên minh quân sự luôn đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, tác động trực tiếp đến giữ vững độc lập, tự chủ của các nước. Trong đó, mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược, chiến dịch quân sự cả tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế đối với các nước tham gia. Tuy nhiên, mặt trái của liên minh quân sự trực tiếp gia tăng căng thẳng, sự đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước đang có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia vào một liên minh có thể bị nước thứ ba coi đó là hành động thù địch và hệ quả làm gia tăng các hoạt động gây hấn, chạy đua vũ trang, đẩy các nước đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, đó còn là nguy cơ bị tiến công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, mất cảnh giác. Mặt khác, khi tham gia liên minh các nước tuy nằm trong một khối quân sự chung nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của nước lớn có tiềm lực mạnh và phải tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, kể cả khi nguyên tắc ấy không phù hợp với lợi ích của nước mình. Mỗi thành viên, nhất là các nước yếu hơn sẽ không còn sự độc lập, tự chủ về những vấn đề cơ bản của đất nước mà rất dễ trở thành “vật hy sinh”, “con tốt trên bàn cờ” để các nước lớn, các tập đoàn quân sự hùng mạnh thỏa hiệp với nhau, thực thi chính sách lôi kéo, khống chế các nước nhỏ trong liên minh. Trên thực tế, xung đột, leo thang quân sự, nội chiến ở nhiều nơi xuất phát từ nguyên nhân chính phủ một số nước không đề cao nguyên tắc độc lập và quyền tự quyết của quốc gia mà luôn trông chờ sự cứu giúp của các thế lực bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là những mưu đồ, tham vọng, toan tính chiến lược của các cường quốc. Vì vậy, hòa bình, ổn định chưa thấy mà hậu quả là sự chia cắt, xung đột, “nồi da nấu thịt”, chiến tranh sẽ hiện hữu kéo lùi sự phát triển của đất nước. Và như vậy, đúng là “lợi bất cập hại” khi tham gia liên minh quân sự; nhất là trong giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.
Thứ hai, liên minh quân sự không phải là giải pháp tối ưu trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc Việt Nam. Việc tham gia liên minh hay không, liên minh với ai, lúc nào, để làm gì, liên minh đến đâu tùy thuộc các yếu tố khách quan, chủ quan của từng thời kỳ lịch sử; nhất là chính sách quốc phòng và các mối đe dọa an ninh quốc gia của mỗi nước. Không hề có cái gọi là tính tất yếu hay bắt buộc phải tham gia liên minh. Trong lịch sử, đã có một số nước lớn lợi dụng liên minh quân sự để thỏa hiệp với nhau vì lợi ích dân tộc hẹp hòi của họ; thông qua viện trợ quân sự để có những động thái chi phối, tác động đến phương thức tác chiến của quân đội ta. Để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể dựa vào bất kỳ liên minh nào, hiệp ước nào mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, mồ hôi, công sức và xương máu của đất nước, con người Việt Nam. Chúng ta không có chủ trương tham gia liên minh quân sự hoặc dùng liên minh quân sự để bảo vệ Tổ quốc. Nếu tham gia liên minh quân sự nghĩa là phải gắn với bên này và có thể đối đầu với bên kia tức đã chuốc thêm kẻ thù; sẽ phải chấp nhận để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ của đất nước; rất dễ bị kéo vào mâu thuẫn, xung đột giữa các nước và trở thành “bàn đạp” để nước ngoài phát động chiến tranh xâm lược nước khác. Chúng ta không đứng về bên nào, chỉ đứng về phía hòa bình, công lý và tiến bộ theo pháp luật quốc tế.
Thứ ba, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không xuất phát từ tham gia liên minh quân sự mà là sức mạnh nội lực của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh của độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thống chính trị; lấy sức mạnh nội lực là chính. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình mới, chúng ta tiếp tục phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[1].
Thứ tư, không tham gia liên minh quân sự bởi tính chất quốc phòng của Việt Nam là vì hòa bình, để  tự vệ. Việt Nam nhất quán chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không cho nước khác đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam để tiến công nước khác; không liên kết với nước này để chống nước kia; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Kiên trì đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ quốc tế; đồng thời, sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia nếu bị xâm phạm. Trong trường hợp phải tiến hành chiến tranh thì đó cũng là chiến tranh tự vệ, giữ nước; khẳng định rõ khát vọng và thiện chí cùng chung sống hòa bình, hợp tác, phát triển của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.




[1]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.147.