Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

 ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỂM “ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

Nhân Trần
    Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với luận điểm ”ở Việt Nam không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ”. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải có ”đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định: Đây là luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm hướng tới mục đích hàng đầu là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là mưu đồ hết sức thâm độc, nguy hiểm, trắng trợn của chúng.
    Thực tiễn ở Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân ta. Và chắc chắn khẳng định rằng ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng vì những lý do sau:
Thứ nhất, dưới góc độ lý luận: Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng xuất phát từ chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Chiristian Woiff (1679 - 1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên là một học thuyết phi Mácxít với luận điểm phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Vì vậy, nếu áp dụng luận điểm này vào xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ làm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân (ở Việt Nam còn đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam) và đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn cách mạng của Việt Nam: Vào đầu thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị duy nhất dẫn dắt dân tộc ta đi đến độc lập, tự do và hạnh phúc. Trước sự bế tắc của nhiều phong trào, tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thì dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin (do Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu, tìm tòi và truyền bá vào cách mạng Việt Nam) và được sự chuẩn bị chín muồi về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời (03/02/1930) để lãnh đạo cách mạng Việt Nam - đây là một tất yếu lịch sử và đã chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc.
    Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất” thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.
    Giai đoạn 1945 - 1975, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” chúng ta đã chiến thắng thực dân Pháp xâm lược; tiếp theo đó, trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Với chiến thắng này, lịch sử và nhân dân Việt Nam một lần nữa đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Giai đoạn này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng song song tồn tại 02 đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời năm 1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời năm 1946). Tuy nhiên, cả 02 đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến năm 1988 đã tuyên bố tự giải tán.
Từ sau năm 1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước chung tay khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tập trung khôi phục kinh tế xã hội; chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đưa nước ta đến nay vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; chính trị, xã hội ổn định, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam cho đến nay chính là cơ sở thực tiễn thuyết phục nhất, là minh chứng hùng hồn nhất để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
    Thứ ba, có phải chỉ thực hiện đa đảng mới có dân chủ? Lý luận Mác - Lênin đã khẳng định: Dân chủ là phạm trù có tính lịch sử và giai cấp. Do đó, dân chủ xuất hiện khi có nhà nước, mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định và dân chủ còn phụ thuộc vào trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn nhất định, Lênin khẳng định: ... Bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định. Như vậy, thể chế một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, và cũng không phải dân chủ phát triển chỉ khi gắn với thể chế đa đảng. Hiện nay, nhiều nước tư bản thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Các đảng có thể thay phiên nhau cầm quyền ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng xét đến cùng, các đảng đó đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản. Do đó, nền dân chủ đó là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Như vậy, có thể khẳng định: Không phải chỉ có thực hiện đa đảng mới có dân chủ; không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn.
    Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay, nếu thực hiện đa đảng sẽ rất có thể dẫn đến tình trạng các đảng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho đất nước hỗn loạn, chính trị mất ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị phá vỡ. Đó chính là thời cơ để các thế lực thù địch tấn công, lợi dụng. Như vậy, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đất nước Việt Nam, Nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng./.
VIỆT NAM CẦN ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU ĐÒI “CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ”

Hoa Súng
    Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.
    
    Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”
    
    Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!). Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.
    Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng
    Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Do đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.
    
    Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng
    
    Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.
         Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta.
    Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Luận cương chính trị tháng 10/1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

    Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.
    
    Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
    
    Thực tiễn lịch sử hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:
    Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.
    
    Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH. Với những thắng lợi giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Với những thành quả đạt được chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
    
    Trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, tỉ lệ lạm pháp có lúc lên đến 774,7%, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu lương thực triền miên, khoảng ¾ dân số sống ở mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trung bình khoảng gần 7% mỗi năm. “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020”.
Việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển đã giúp cho văn hóa, xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống và chất lượng sống ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.
  
    Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

    Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./. 

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

 BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU QUY KẾT, CHỤP MŨ NHẰM PHỦ NHẬN 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

NMT

  Thực hiện trò “hạ bệ” quen thuộc, vào dịp nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác 19/5/2024, các thế lực thù địch hồ đồ quy kết “Hồ Chí Minh nhấn mạnh đảng cầm quyền là nguyên nhân dẫn đến tệ nạn lạm dụng, lợi dụng quyền lực, tham nhũng của cán bộ, đảng viên trong cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay”. Đây là luận điệu quy kết, chụp mũ hết sức thô thiển nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, làm mất phương hướng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay. Chúng lập luận hết sức phi lý rằng, “Nếu chỉ nói đảng lãnh đạo cách mạng sẽ không dẫn đến tình trạng lạm quyền, lợi dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên”; rằng “đảng cầm quyền có nghĩa là đảng nắm toàn bộ quyền lực; cán bộ, đảng viên có quyền quyết định hết thảy”(!!!).

Như đã biết, hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực của một số cán bộ, đảng viên dẫn đến thoái hóa, biến chất, vướng vào tham nhũng, tiêu cực là do họ sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham lam, vụ lợi, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương, v.v. Và, cần khẳng định rõ: tuyệt nhiên, những hiện tượng đó không phải là toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà chỉ ở một bộ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên thực tế, đại đa số cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn đạo đức cách mạng trong sáng, cống hiến hết mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và Nhân dân. Ngay sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo những nguy cơ suy thoái của một đảng cầm quyền, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Người chỉ ra ba nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, quan liêu, xa rời thực tiễn, xa rời nhân dân và chủ nghĩa cá nhân. Trong đó, chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh gốc, nó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói hư tật xấu của cán bộ đảng viên, nên Người đặc biệt quan tâm đến việc phòng, chống các nguy cơ, nhất là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[1]. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ dự báo, mà còn luôn giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vững đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, lạm dụng, lợi dụng quyền lực khi được Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó nhiệm vụ cách mạng, để cán bộ, đảng viên  thực sự “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”, chứ không phải như các thế lực thù địch quy kết rằng: “những hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là do Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò cầm quyền của Đảng”! Luận điệu này cần phải lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

 

 “TRÒ LỐ” CỦA HAI DÂN BIỂU HOA KỲ

NMT

 Ngày 11/5, trang facebook Đài RFA đăng bài: “Hai Dân biểu Hoa Kỳ ra nghị quyết lên án những vi phạm nhân quyền của Việt Nam”. Theo bài viết, hai Dân biểu Hoa Kỳ đồng chủ tịch Ủy ban Việt Nam tại Quốc hội Mỹ - bà Michelle Steel và ông Lou Correa vào ngày 10/5 ra nghị quyết “Lên án Đảng Cộng sản Việt Nam bỏ tù các nhà báo độc lập, giới bảo vệ nhân quyền, các nhân vật tôn giáo và những tiếng nói đối lập ở Việt Nam”. Trong đó, đưa ra danh sách 31 người mà họ cho là tù nhân lương tâm, như: Trương Duy Nhất, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Vũ Bình,... Đồng thời, lên án Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền, v.v.

Cần khẳng định ngay rằng: những nội dung của nghị quyết của hai Dân biểu nói trên là trò lố bịch, hoàn toàn phi lý, thiếu khách quan, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam. Bởi vì:

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán tôn trọng, bảo đảm thực thi các quyền con người trong Hiến pháp, pháp luật và trên thực tế đời sống xã hội. Ngay sau khi giành được chính quyền, thành lập ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng, Nhà nước luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu. Vấn đề này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ trong bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày 02/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tiếp đó, quyền con người được quy định rõ trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 và hệ thống pháp luật hiện hành. Tại Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật,...”. Trong các văn kiện lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định rõ nội dung, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo bảo đảm quyền con người. Trong Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) “Về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng”, đã xác định những nội dung cốt lõi nhất về quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề này. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”, v.v.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (ký ngày 24/9/1982); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (ký ngày 18/12/1982); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ký ngày 19/3/1982); Công ước về quyền trẻ em (ký ngày 20/02/1990),… và những công ước này đều đã được luật hóa trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Trên thực tế, mọi công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền, như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại,… không những được thể hiện qua bức tranh sinh động đang hiện hữu trong đời sống xã hội mà còn được cộng đồng quốc tế, các tổ chức của Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao. Phát biểu tại kỳ kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đối với Việt Nam tại trụ sở Liên hợp quốc ngày 07/5 vừa qua, bà Kelly Billingsley, Phó đại diện thường trú tại Liên hợp quốc của Phái bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết: “Chúng tôi hoan nghênh những tiến bộ của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người,...” đã minh chứng cho những thành tựu trong bảo đảm nhân quyền của Việt Nam.

Thứ hai, ở Việt Nam hoàn toàn không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật và bị các cơ quan chức năng truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Những đối tượng nằm trong danh sách được nghị quyết nêu ra đều có những hành vi vi phạm pháp luật và bị các cơ quan thực thi pháp luật xét xử khách quan với đầy đủ bằng chứng, đúng người, đúng tội. Đơn cử như: Trương Duy Nhất phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo khoản 3, Điều 356 Bộ Luật Hình sự 2015 hay Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Vũ Bình đã phạm tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ Luật Hình sự 2015, v.v. Chính vì thế, cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự bịa đặt, suy diễn sai lệch công tác pháp lý, cố tình vu cáo Việt Nam mà thôi. Bởi lẽ, khi có hành vi phạm tội, đối tượng phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chịu hình phạt theo quyết định của tòa án là hoàn toàn bình thường, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ làm vậy.

Thứ ba, việc Việt Nam được giới thiệu và bầu là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 là hoàn toàn xứng đáng, phù hợp luật pháp, thông lệ quốc tế. Xuất phát từ những thành tựu, tiến bộ trong bảo đảm nhân quyền, quyền con người mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhất quán, kiên trì thực hiện trong suốt những năm qua nên đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và trúng cử với tín nhiệm cao. Và trên thực tế, Việt Nam đã, đang phát huy tốt vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 khi tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người…; có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc. Nổi bật là, Việt Nam đã chứng tỏ vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất diễn ra vào tháng 02/2023; Việt Nam đã đề xuất và soạn thảo để Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) (ngày 03/4/2023), v.v.

Hơn nữa, thông thường nghị quyết phải do một tập thể cơ quan, tổ chức thảo luận, nhất trí ban hành. Đằng này, lại do 02 cá nhân đơn lẻ là dân biểu tự đưa ra cái gọi là “nghị quyết” thì đúng là phi lý, “dân chủ” kiểu Mỹ. Và, thử hỏi, với tư cách gì mà bà Michelle Steel và ông Lou Correa lại còn đòi lên án Đại hội đồng Liên hợp quốc? Thật nực cười cho cái “trò lố” của hai vị./.

 CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

QUY ĐỊNH 142 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

NMT

Ngay khi Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142-QĐ/TW, ngày 23/4/2024 quy định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ (Quy định số 142), các thế lực thù địch, phản động, chống đối đã phát tán nhiều tài liệu để xuyên tạc, cho rằng Quy định trên là “không hợp lý”

Cần khẳng định: xuất phát từ thực tiễn, Quy định số 142 về thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ ra đời trong bối cảnh nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao phải nhận kỷ luật Đảng vì chịu trách nhiệm khi để cấp dưới của mình vi phạm khuyết điểm, làm sai, làm trái pháp luật, tham nhũng,... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và của cá nhân, làm mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142, với thời gian thực hiện thí điểm này là 05 năm kể từ khi ban hành được xem là một hướng mới trong công tác tổ chức cán bộ của Đảng, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị trong việc chủ động lựa chọn cán bộ cấp phó để giúp việc cho mình, vừa xây dựng tập thể cán bộ lãnh đạo có đủ năng lực, phẩm chất, đoàn kết, cùng hành động vì lợi ích chung.

Quy định số 142 đã cụ thể phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm: giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của đơn vị mình; bầu bổ sung ủy viên Ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý. Người đứng đầu được quyền giới thiệu 01 nhân sự trong quy hoạch tại chỗ, hoặc 01 nhân sự từ nguồn ở nơi khác cho 01 chức danh để cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét đưa vào danh sách, tiến hành quy trình công tác cán bộ để hoàn thiện ban lãnh đạo của cơ quan, đơn vị mà mình được giao phụ trách. Có thể thấy, Quy định số 142 đã tăng quyền cho người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp phó trực tiếp của mình. Đồng thời, cũng quy trách nhiệm đích danh người giới thiệu. Cụ thể, tại Điều 6, xác định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, Quy định này nhấn mạnh: người đứng đầu bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của nhân sự do mình giới thiệu; thực hiện nghiêm các quy định về công tác cán bộ, quy định về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu trong các trường hợp sau: Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác. Miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục theo quy định. Việc xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu trong trường hợp vi phạm quy định này được thực hiện theo quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và các quy định có liên quan.

Đây là một bước đột phá của Đảng khi đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp dưới của mình, chấm dứt tình trạng tồn tại lâu nay là không cá nhân nào phải chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra sai sót trong việc giới thiệu nhân sự. Quy định mới tạo ra sự minh bạch, công tâm hơn trong công tác tổ chức cán bộ; đồng thời, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Vì vậy, các tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc  để Quy định này sớm đi vào thực tiễn cuộc sống./.

 

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024

 THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH CỦA VIỆT NAM

NVS

Quan điểm “Bốn không” trong “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019” là thông điệp hòa bình. Khẳng định Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây chính là quan điểm “Bốn không” của Đảng; là thông điệp hòa bình, thể hiện sâu sắc khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới. Thực chất quan điểm “Bốn không” đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Thực tiễn khắc nghiệt của đất nước, Việt Nam thấu hiểu hòa bình không phải là mỹ từ để ngợi ca, mà là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính. Không một ai trong số những người có lương tri trên trái đất này lại không yêu chuộng hòa bình, đấu tranh vì hòa bình. Cũng vì thế mà Nhân dân Việt Nam và các dân tộc từng bị áp bức, nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh đến cùng, không khoan nhượng để giành độc lập, tự do, hòa bình cho dân tộc mình. Để có được điều đó dân tộc Việt Nam đã phải trả giá bằng máu cùng sự đau thương, mất mát của nhiều thế hệ. Ngay trong cuộc sống hòa bình hôm nay, trên dải đất hình chữ “S” vẫn hằn sâu những vết thương chiến tranh, di chứng chiến tranh. Vẫn còn đó những Mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ, nạn nhân chất độc da cam vì vậy dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng hòa bình và hành động vì hòa bình. Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới Romesh Chandra đã khâm phục, ngợi ca: “Việt Nam là lương tri của thời đại”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Hà Nội – Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vốn bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc Mỹ lại được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, bạn bè quốc tế vinh danh “Thủ đô của phẩm giá con người”. Thật đáng tự hào. Việt Nam một dân tộc biết chiến đấu, dám hy sinh bởi khát vọng hòa bình, vì hòa bình và quyết biến nó thành hiện thực, dân tộc đó hiểu rõ giá trị của hòa bình. Trước đây là thế và bây giờ vẫn vậy, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực, trên thế giới.

Quan điểm “Bốn không”, thông điệp hòa bình và cũng là cam kết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi tới các quốc gia trên thế giới. Trước sau như một, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng, trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Từ lịch sử đến hiện tại và tương lai, Việt Nam chưa từng, sẽ không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa lâu đời đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Như vậy, với cam kết “Bốn không”, Việt Nam đã chủ động bày tỏ thẳng thắn thái độ của mình xuất phát từ khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của nhân loại.

Đặc biệt, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, khi mà các mối quan hệ đan xen lợi ích với những toan tính chiến lược rất khó nhận biết của các nước lớn, họ bất chấp mọi luân thường đạo lý, sẵn sàng “đi đêm”, “mặc cả” sau lưng người khác, thì việc giữ vững hòa bình càng trở nên không đơn giản với mọi quốc gia. Việt Nam đủ tỉnh táo để nhận rõ điều đó và biết rằng, nếu chỉ với quan điểm “Bốn không” sẽ không thể bảo vệ được nền hòa bình của đất nước, mà phải nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương thức kết hợp, trong đó không thể thiếu việc tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đề cập về vấn đề này trong tâm trí những người có lương tri lại dấy lên nỗi đau khi mà chiến sự, xung đột đang diễn ra khốc liệt trên thế giới, với biết bao người dân vô tội ở đó đang đổ máu, phải tạm rời bỏ đất nước mình. Một điều chắc chắn mà ai cũng biết là sẽ không có người chiến thắng, có chăng chỉ những kẻ “đục nước béo cò”. Thực tiễn thế giới, trong nước, soi chiếu vào chính sách quốc phòng của Việt Nam mới thấy hết sự đúng đắn, sáng suốt, có ý nghĩa của quan điểm “Bốn không” mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang thực hiện đối với sự tồn vong của đất nước, của chế độ, sự an nguy của dân tộc.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, khát khao hòa bình không chỉ cho đất nước mình mà còn cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Cùng với việc khẳng định rõ quan điểm “Bốn không”, thông điệp hòa bình, Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam đã và đang nỗ lực góp phần gìn giữ hòa bình với tư cách là “thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế”. Hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ quân y, công binh của Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình là một minh chứng cho khát vọng và hành động tích cực vì hòa bình hạnh phúc chung của nhân loại./.

 BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”

NgVS

Bác Hồ, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng giáo dục, nhà sư phạm thực tiễn vĩ đại, đồng thời là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học.

Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6-5-1950, Người nói: “Lê-nin khuyên chúng ta: “Học, học nữa, học mãi”. Mỗi người phải ghi nhớ và thực hành điều đó”. Người còn cho treo trong phòng họp lời dạy của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Người coi lời dạy của Lê-nin là phương châm sống và hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Cũng tại Hội nghị này, Người nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người còn xác định: “Không phải có thầy thì học, không thầy đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về cách học tập, Người viết: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.

Thân phụ của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là thầy dạy chữ Hán cho Người. Nhờ chăm học và học rất giỏi, sau này Người sử dụng thành thạo chữ Hán trong sáng tác thơ Đường. Quách Mạt Nhược, nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc, đã từng nói rằng: nếu để một số bài thơ Đường trong tập Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh những bài thơ Đường bất hủ thì e khó mà phân biệt nổi.

Khi theo thân phụ vào Huế, Người học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, rồi Trường Quốc học Huế, Người rất yêu thích học tiếng Pháp. Trong cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Người đã từng làm phiên dịch giúp cho những người biểu tình đề đạt nguyện vọng, đấu tranh với viên Khâm sứ Pháp.

Ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911), trên tàu Latouche Tréville, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên mới Văn Ba đã nêu cao ý chí tự học: “Mỗi ngày, đến 9 giờ tối công việc mới xong…, Anh mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài, anh đọc hay viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm”.

Trong thời gian ở thị trấn Saint Adret, làm vườn cho gia đình viên chủ hãng tàu, Nguyễn Tất Thành cũng tranh thủ học tiếng Pháp. Khi gặp những từ mới, anh Thành viết vào một tờ giấy dán vào chỗ dễ thấy, có khi viết vào cánh tay để trong lúc làm việc vẫn học được. Cả khi đi đường, anh cũng nhẩm những từ mới học. Và cứ như thế, mỗi ngày, anh học thêm vài từ mới, và tìm cách ghép câu để dùng ngay. Sau đó không lâu, Nguyễn Tất Thành học cách viết báo. Anh bắt đầu viết được những bài báo ngắn với sự giúp đỡ của ông chủ bút báo “Đời sống thợ thuyền”. Sau đó, anh viết những bài báo dài hơn. Khi viết được những bài báo dài, ông chủ bút lại khuyên anh viết ngắn lại. Sau đó, Nguyễn Tất Thành nhanh chóng trở thành nhà báo có uy tín tại thủ đô nước Pháp, là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) với nội dung đầy sức chiến đấu, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất, từ Anh trở lại Pháp, anh Thành viết bài cho các báo, tạp chí và viết sách bằng tiếng Pháp. Những bài đăng trên các báo Le Paria, Thư tín Quốc tế, Đời sống công nhân…, đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã minh chứng cho sự thành công của một người tự học.

Chỉ trong một thời gian chưa đầy 10 năm sống ở Pháp, người thanh niên có chí khí ấy đã học hỏi được nhiều điều bổ ích cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của mình. Thường thường, Nguyễn Tất Thành chỉ làm việc buổi sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều thì đi đến thư viện hoặc dự những buổi nói chuyện chính trị. Tối đến, dự mit-tinh ở Paris.

Khi đến Liên Xô, đất nước của Lê-nin vĩ đại, làm việc ở Bộ Phương Đông, học ở Trường Quốc tế Lê-nin, nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc học và thuộc địa, anh tự học tiếng Nga thật vất vả, nhưng đã nhanh chóng thành công. Người đã viết bài đăng báo, tạp chí và đã hoàn thành chương trình học tập ở Trường Quốc tế Lê-nin.

Không dừng lại ở những ngoại ngữ đã biết, Bác Hồ của chúng ta còn nỗ lực tiếp tục học thêm một số ngoại ngữ khác. Năm 1928, khi hoạt động cách mạng tại Thái Lan, Người đã tự học thêm tiếng Thái. Mỗi ngày học 10 chữ, và chỉ sau ba tháng, Người đã xem được báo chữ Thái.

Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), với bí danh Lin, khi khai lý lịch, trả lời câu hỏi về trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học), Người đã ghi: Tự học. Trả lời câu hỏi: Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga.

Bác Hồ đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Sự tự học của Người gắn chặt với mục tiêu lý tưởng mà Người phấn đấu.

Bác luôn nhắc nhở đồng chí của mình và thế hệ trẻ phải nỗ lực học và tự học. Người ân cần dạy bảo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”.

Trong bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học…Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ…thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm…Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt lùi nạnh kẹ…”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng. Và chính cuộc đời của Người là tấm gương sáng ngời về tự học./.

 NHẬN RÕ BẢN CHẤT “CÔNG BẰNG XÃ HỘI” TRONG PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

NgVS

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.

Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư sản.

Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.

Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản, giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân, những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần, cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất bóc lột, bất công của CNTB.

Bản chất của các nền chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”. Xét đến cùng, những bất công trong xã hội tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức sản xuất và chế độ chính trị TBCN.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG VIỆT NAM ĐÀN ÁP NGƯỜI DÂN TỘC THEO ĐẠO TIN LÀNH

NgVS

Với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gần đây trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết: “Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo tin lành để phá hoại sự đoàn kết”. Nội dung bài viết vu khống Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành và chia rẽ dân tộc để dễ bề cai trị, nhằm kích động người người dân tộc thiểu số ly khai, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong nhiều bài viết các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cho rằng Việt Nam đã “đàn áp hết sức tàn ác với người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành” cụ thể là người Mông.

Thực tiễn cho thấy, từ những năm 2003 đến nay, vấn đề tuyên truyền, thành lập “nhà nước Mông” trên địa bàn các tỉnh vùng cao, đặc biệt tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên manh nha xuất hiện, sau đó nhanh chóng lan rộng ra toàn huyện. Đỉnh điểm, năm 2011, nhóm đối tượng Vàng A Ía đã tập hợp lực lượng với hơn 7000 người Mông, tổ chức đón “vua Mông”, “xưng vua”, lập “vương quốc Mông” ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè. Chúng dựng hơn 300 lều, lán, lập barie, bố trí người canh gác không cho người lạ vào, đồng thời chuẩn bị vũ trang, tập võ, tập bắn, mua vũ khí, đồng thời móc nối với các đối tượng ở nước ngoài chuẩn bị các điều kiện, phương để lập “vương quốc Mông”. Các đối tượng cực đoan, quá khích còn bắt giữ 16 cán bộ quân đội và cấp ủy, chính quyền cơ sở khi đến công tác tại bản...

Trước tình hình đó, lực lượng Công an đã phối hợp các đơn vị chức năng tiến hành giải tán đám đông tại bản Huổi Khon, bắt giữ 127 đối tượng cản trở người thi hành công vụ, thu nhiều quả nổ tự chế, súng kíp, bao đựng thuốc nổ, đạn, súng AK, cung nỏ, dao kiếm... Sau đó, cơ quan chức năng đã khởi tố, xét xử nhiều đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình sự. Đó là hành động kịp thời, cần thiết, phù hợp với luật pháp Quốc tế và Việt Nam, không giống như luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch đang rêu rao trên mạng xã hội.

Chúng còn vu cáo chính quyền Việt Nam “luôn ngờ vực dân tộc thiểu số nên duy trì chính sách chia rẽ để cai trị”.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm các dân tộc “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Điều 5, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Các thành tựu trong thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là những minh chứng thuyết phục phản bác luận điệu vu khống của các thế lực thù địch. Về công tác phát triển giáo dục, đào tạo, hiện nay, đã có 316 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Cùng với đó, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm nghèo và xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi giảm 0.4%/năm; 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; Nhà nước Việt Nam còn rất chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số; Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo.

Như vậy, luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội là vô căn cứ và đã bị thực tiễn bác bỏ. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các phần tử phản động, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 CẦN NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG CHIÊU TRÒ THÂM ĐỘC, XẢO QUYỆT CỦA BBC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CÔNG CUỘC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA TRÊN MẠNG XÃ HỘI

NgVS

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang ngày càng được triển khai tích cực, được tổ chức chặt chẽ, có bước tiến mạnh mẽ, đột phá, ngày càng hiệu lực, hiệu quả, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Điều đó ngày càng khẳng định, những luận điệu xuyên tạc thâm độc, xảo quyệt, thậm chí là trơ trẽn của đài báo BBC và các thế lực thù địch, phản động ngày càng thất bại tren phương tiện truyền thông và ngày càng được nhân dân nhận rõ, vạch trần bộ mặt thật của chúng.

Một là, mượn chuyện tham nhũng để hướng vào chống phá chế độ. Chúng cho rằng “bản thân bộ máy quan liêu đẻ ra tham nhũng”, “tham nhũng là sản phẩm của chế độ XHCN ở Việt Nam”, rằng “do xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công”. Một số kẻ lộng ngôn: “trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xét xử theo lệnh của Đảng thì không thể chống được tham nhũng, cho nên Việt Nam đã nhiều lần phát động chống tham nhũng nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng”. Có những kẻ còn ngông cuồng phán rằng “cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đó đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng, bởi không bao giờ đốt hết được cả”.

Chúng không biết hay cố tình không biết một thực tế là tham nhũng được sản sinh ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và dù là hình thức nhà nước nào, thể chế chính trị nào thì tham nhũng vẫn sẽ tồn tại. Thực chất của những giọng điệu ấy chỉ là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để nói xấu, xuyên tạc, bịa đặt, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Hai là, vin vào chuyện tham nhũng để hướng lái, chĩa mũi nhọn chống phá Đảng. Chúng cho rằng tham nhũng là căn bệnh kinh niên của “chế độ độc đảng cầm quyền”, “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tham nhũng tất yếu xảy ra...”; và rồi vòng vo thế nào cái đuôi của chúng cuối cùng cũng lòi ra: “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên pháp luật”, vì thế, “phải thực hiện đa đảng để không còn tham nhũng”. Chúng phủ định kết quả to lớn và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng ta khi lớn tiếng “tuyên bố”: “cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công”. Tất cả những lời lẽ xuyên tạc đến trơ trẽn ấy mục đích chính vẫn chỉ là để phủ định, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta mà thôi.

Ba là, mượn chuyện chống tham nhũng để chống phá công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng. Chúng trắng trợn xuyên tạc, cho đây là “cuộc chiến của những chiếc ghế”, là “cuộc đấu phe phái” hòng chia rẽ nội bộ ta; có kẻ còn cho rằng “vì chống tham nhũng, nhiều cán bộ đã bị đẩy vào “bi kịch”, “oan nghiệt”. Nhiều trang báo phản động còn triệt để khai thác đời tư của cán bộ, thêu dệt, gán ghép tạo sự tò mò, hiếu kỳ rồi đổ đồng, cào bằng, biến sai phạm phải xử lý của cá nhân một số cán bộ thành bản chất mặc định của cả đội ngũ, cố tình quy chụp, cho đó là “sự thất bại nặng nề của công tác nhân sự mà Đảng lãnh đạo”.

Bốn là, xuyên tạc mục đích, phủ nhận thành quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bẻ lái mục đích đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam từ vì lợi ích của quốc gia, dân tộc thành ý muốn chủ quan của cá nhân, vì lợi ích của một nhóm người; lập lờ “đánh lận con đen”, xuyên tạc hòng biến việc xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực và cán bộ sai phạm ở nước ta thành những chuyện “đấu đá”, “thanh trừng”, “triệt tiêu” với rất nhiều dị bản. Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, chúng thêm mắt, thêm râu, cắt xén, nhào nặn, tưởng tượng, dựng nên những câu chuyện về các phe nhóm nội bộ, nào là cánh trung ương và cánh địa phương, phe cấp tiến và phe bảo thủ, phái miền Nam và phái miền Bắc... Chúng cho rằng, các biện pháp chống tham nhũng của Việt Nam là nửa vời, “chỉ làm lấy lệ”, “tắm từ vai trở xuống”, cốt để "đánh bóng tên tuổi” hay gần đây, cũng một chiêu trò cũ rích khi BBC News Tiếng Việt có bài viết: ông Vương Đình Huệ mất chức, chiến dịch đốt lò của ông Nguyễn Phú Trọng thất bại"..

Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích nào khác ngoài việc xuyên tạc mục đích, hạ thấp giá trị tốt đẹp của cuộc đấu tranh này, làm giảm ý nghĩa thắng lợi của công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân do chưa hiểu đúng, hiểu chưa rõ về cuộc đấu tranh này nên còn hoài nghi, có những phát ngôn lệch lạc, vô tình làm tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động.

Rõ ràng, việc nâng cao khả năng “tự đề kháng”, “miễn nhiễm” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những thông tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội như đã nêu trên lúc nào cũng cần thiết và ở thời điểm hiện nay, nó không chỉ là cấp thiết mà còn thực sự cấp bách. Nó đòi hỏi mỗi người chúng ta phải hiểu biết được thực chất âm mưu thủ đoạn của chúng là gì? Vì sao chúng lại “chính trị hóa” chiến dịch chống tham nhũng mà bản chất của nó là các hành vi pháp luật quy định, tác hại của nó như thế nào và làm thế nào để chống được nó? Kiên quyết ngăn chặn, không cho nó xâm nhập vào trong suy nghĩ của mình, trong gia đình, cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Nâng cao khả năng “tự đề kháng”, tự “miễn nhiễm” đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc nhận thức, hiểu biết mà phải được nâng lên thành ý thức, thành lý tưởng, ý chí và niềm tin, từ đó hình thành nhân sinh quan, thành bản lĩnh. Nó chính là một bức tường thành kiên cố làm vô hiệu hóa mọi sự xuyên tạc, chống phá. Làm được như vậy tự nó đã thể hiện được sự tích cực, chủ động, thiết thực, cụ thể và bài bản trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Việc định hướng tư tưởng, định hướng dư luận một cách chủ động (nhất là trước các sự kiện lớn, những vụ việc lớn, những vụ án tham nhũng sắp được đưa ra xét xử, những nội dung có thể còn có những ý kiến khác nhau, những vấn đề dự báo sẽ còn nóng, những vấn đề đang được xã hội quan tâm) là vô cùng quan trọng, bởi làm được như thế chắc chắn sẽ hạn chế được khoảng trống thông tin, ngăn chặn được những suy diễn, đồn đoán, những hậu quả xấu từ sớm, từ xa; trên cơ sở đó, xây chắc, củng cố bền vững lòng tin của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân..../.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

 CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN NGỤY BIỆN

LỪA ĐẢO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

LMH

Các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó ngụy biện thổi phồng khuyết điểm, đánh tráo bản chất là một trong những thủ đoạn thường thấy. Chúng triệt để lợi dụng một số sai phạm, tiêu cực trong xã hội để cường điệu hóa nhằm đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho họ nhầm tưởng cái khuyết điểm đó là thuộc về bản chất, là rất lớn, rất nghiêm trọng, trái ngược hoàn toàn với thực tiễn. Như mới đây trên trang mạng Bureau CTM Media - Á Châu có đăng bài “Một đất nước kỳ lạ” của một đối tượng có bút danh VietTuSaiGon, đối tượng đã lợi dụng hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay, cho rằng “một đất nước (chỉ Việt Nam), tuổi trẻ gào khóc, lên đồng tập thể vì kết quả của một trận bóng nhưng đồng loại, đồng bào, đồng tộc chết hơn hai mươi ba ngàn người trong vòng một tháng, chẳng mấy người tuổi trẻ xúc động”; Y còn tạo dựng khuyết điểm khi cho rằng “một đất nước mà ở đó người ta không quan tâm gì nhiều đến giáo dục văn hóa hay quyền con người…”. Tất cả những điều này đều là ngụy biện, lừa đảo bởi lẽ:

 Thứ nhất, với sự phát triển của công nghệ thông tin đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và nền công nghiệp giải trí thì hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một bộ phận giới trẻ là vấn đề của tất cả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, tuy nhiên hiện tượng fan cuồng thần tượng ở Việt Nam hiện nay mới chỉ thuộc về một số ít giới trẻ, mang tính tự phát, rời rạc, ít đội nhóm có tổ chức. Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay đều thể hiện khát vọng và khẳng định bản thân, khát khao cống hiến cho xã hội, điển hình như các đợt dịch Covid-19 ở Việt Nam vừa qua, đã có hàng triệu thanh niên xung phong, tình nguyện tham gia chống dịch, không sợ khó khăn vất vả nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, họ là những lực lượng nòng cốt xung kích đi đầu góp phần quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch bệnh.

 Thứ hai, phát triển văn hóa, giáo dục và quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ở Việt Nam. Tổng kết thành quả đất nước sau 35 năm đổi mới, trên lĩnh vực phát triển văn hóa, con người, được Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn”. Hiện nay, nhiều lĩnh vực, loại hình văn hóa mới ra đời, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội; nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đã được kế thừa, bảo tồn và phát huy; phát triển con người Việt Nam toàn diện - từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; các vấn đề an sinh xã hội được quan tâm và bảo đảm, giảm nghèo bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao rõ rệt... Đặc biệt, việc phòng, chống đại dịch Covid-19 chính là thử thách để thấy được giá trị văn hóa, con người Việt Nam “tỏa sáng”, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong xã hội, tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người được lan tỏa rộng rãi. Đảng và Nhà nước cũng thể hiện thống nhất quan điểm con người là vốn quý nhất, dù “chống dịch như chống giặc” nhưng quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Những thành tựu trên là minh chứng cho thấy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam luôn quan tâm ưu tiên phát triển văn hóa giáo dục thực hiện phát triển con người Việt Nam toàn diện.

 Tất cả những điều đó là những bằng chứng không thể phủ nhận, vạch mặt những kẻ phản động, sử dụng thủ đoạn ngụy biện lừa đảo người khác nhằm làm suy giảm niềm tin và tình cảm của nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế giành cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Những luận điệu như thế không thể lừa gạt được những người có lương tri, đó chỉ là những tiếng kêu lạc loài, yếu ớt của những kẻ vì lợi ích cá nhân hoặc còn ôm lòng thù hận cá nhân. Những kẻ mà sự ngụy biện đã trở thành thói quen, khiến cho tư duy trở nên sai trái, lệch lạc, không phân biệt được đúng sai./.