ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỂM “ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM
Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024
Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./.
Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024
BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU QUY KẾT, CHỤP MŨ NHẰM PHỦ NHẬN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
NMT
Thực hiện trò “hạ bệ” quen thuộc,
vào dịp nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác 19/5/2024, các thế
lực thù địch hồ đồ quy kết “Hồ Chí Minh nhấn mạnh đảng cầm quyền là nguyên nhân
dẫn đến tệ nạn lạm dụng, lợi dụng quyền lực, tham nhũng của cán bộ, đảng viên
trong cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay”. Đây là luận điệu quy kết, chụp mũ hết sức
thô thiển nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền,
làm mất phương hướng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay. Chúng lập luận hết sức
phi lý rằng, “Nếu chỉ nói đảng lãnh đạo cách mạng sẽ không dẫn đến tình trạng lạm
quyền, lợi dụng quyền lực của cán bộ, đảng viên”; rằng “đảng cầm quyền có nghĩa
là đảng nắm toàn bộ quyền lực; cán bộ, đảng viên có quyền quyết định hết thảy”(!!!).
Như đã biết, hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực của một số cán bộ,
đảng viên dẫn đến thoái hóa, biến chất, vướng vào tham nhũng, tiêu cực là do họ
sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham lam, vụ lợi, lợi ích nhóm, cục bộ địa phương,
v.v. Và, cần khẳng định rõ: tuyệt nhiên, những hiện tượng đó không phải là toàn
bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên, mà chỉ ở một bộ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trên thực tế, đại đa số cán bộ, đảng viên
luôn giữ gìn đạo đức cách mạng trong sáng, cống hiến hết mình vì sự nghiệp cách
mạng của Đảng, của dân tộc và Nhân dân. Ngay sau khi Đảng ta trở thành đảng cầm
quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo những nguy cơ suy thoái của một đảng cầm
quyền, trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước.
Người chỉ ra ba nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng cầm quyền: sai lầm về đường
lối, quan liêu, xa rời thực tiễn, xa rời nhân dân và chủ nghĩa cá nhân. Trong
đó, chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh gốc, nó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói hư tật
xấu của cán bộ đảng viên, nên Người đặc biệt quan tâm đến việc phòng, chống các
nguy cơ, nhất là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên của Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi
con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay
và và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn
trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[1]. Như vậy, Hồ
Chí Minh không chỉ dự báo, mà còn luôn giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng
viên giữ vững đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, lạm dụng, lợi
dụng quyền lực khi được Đảng, Nhà nước, Nhân dân tin tưởng giao phó nhiệm vụ
cách mạng, để cán bộ, đảng viên thực sự “vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”, chứ không phải như các thế lực thù
địch quy kết rằng: “những hiện tượng lạm dụng, lợi dụng quyền lực trong một bộ
phận cán bộ, đảng viên là do Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò cầm quyền của Đảng”!
Luận điệu này cần phải lên án, đấu tranh bác bỏ./.
“TRÒ LỐ” CỦA HAI DÂN BIỂU HOA KỲ
NMT
Ngày 11/5, trang facebook Đài RFA đăng bài: “Hai Dân biểu Hoa Kỳ
ra nghị quyết lên án những vi phạm nhân quyền của Việt Nam”. Theo bài viết, hai
Dân biểu Hoa Kỳ đồng chủ tịch Ủy ban Việt Nam tại Quốc hội Mỹ - bà Michelle Steel
và ông Lou Correa vào ngày 10/5 ra nghị quyết “Lên án Đảng Cộng sản Việt Nam bỏ
tù các nhà báo độc lập, giới bảo vệ nhân quyền, các nhân vật tôn giáo và những
tiếng nói đối lập ở Việt Nam”. Trong đó, đưa ra danh sách 31 người mà họ cho là
tù nhân lương tâm, như: Trương Duy Nhất, Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Lân Thắng,
Nguyễn Vũ Bình,... Đồng thời, lên án Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam
vào Hội đồng nhân quyền, v.v.
Cần khẳng định ngay rằng: những nội dung của nghị quyết của hai Dân biểu
nói trên là trò lố bịch, hoàn toàn phi lý, thiếu khách quan, không phản ánh
đúng tình hình thực tế tại Việt Nam. Bởi vì:
Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán tôn trọng, bảo đảm thực
thi các quyền con người trong Hiến pháp, pháp luật và trên thực tế đời sống xã
hội. Ngay sau khi giành được chính quyền, thành lập ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Đảng, Nhà nước luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên
hàng đầu. Vấn đề này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ trong bản “Tuyên
ngôn độc lập” ngày 02/9/1945: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền
được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tiếp đó, quyền con người được
quy định rõ trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 và hệ thống
pháp luật hiện hành. Tại Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Ở Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,
bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật,...”. Trong các văn kiện lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đều xác định rõ nội dung, đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo
bảo đảm quyền con người. Trong Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12/7/1992 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khóa VII) “Về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ
trương của Đảng”, đã xác định những nội dung cốt lõi nhất về quyền con người và
quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề này. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011) đã nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng
thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con
người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân
dân”, v.v.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản,
quan trọng về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước
về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (ký ngày 24/9/1982); Công ước về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (ký ngày 18/12/1982); Công ước về xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ký ngày 19/3/1982); Công ước về quyền trẻ em
(ký ngày 20/02/1990),… và những công ước này đều đã được luật hóa trong hệ thống
pháp luật của Việt Nam.
Trên thực tế, mọi công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền, như: tự
do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền
khiếu nại,… không những được thể hiện qua bức tranh sinh động đang hiện hữu
trong đời sống xã hội mà còn được cộng đồng quốc tế, các tổ chức của Liên hợp
quốc ghi nhận, đánh giá cao. Phát biểu tại kỳ kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR)
chu kỳ IV đối với Việt Nam tại trụ sở Liên hợp quốc ngày 07/5 vừa qua, bà Kelly
Billingsley, Phó đại diện thường trú tại Liên hợp quốc của Phái bộ Ngoại giao
Hoa Kỳ cho biết: “Chúng tôi hoan nghênh những tiến bộ của Việt Nam trong việc bảo
vệ quyền con người,...” đã minh chứng cho những thành tựu trong bảo đảm nhân
quyền của Việt Nam.
Thứ hai, ở Việt Nam hoàn toàn không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những
đối tượng vi phạm pháp luật và bị các cơ quan chức năng truy tố, xét xử theo
đúng quy định của pháp luật. Những đối tượng nằm trong danh sách được nghị quyết
nêu ra đều có những hành vi vi phạm pháp luật và bị các cơ quan thực thi pháp
luật xét xử khách quan với đầy đủ bằng chứng, đúng người, đúng tội. Đơn cử như:
Trương Duy Nhất phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành
công vụ” theo khoản 3, Điều 356 Bộ Luật Hình sự 2015 hay Nguyễn Tường Thụy,
Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Vũ Bình đã phạm tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc
tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ Luật Hình sự 2015, v.v. Chính vì thế, cái
gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là sự bịa đặt, suy diễn sai lệch công tác pháp
lý, cố tình vu cáo Việt Nam mà thôi. Bởi lẽ, khi có hành vi phạm tội, đối tượng
phải chịu sự điều tra, truy tố, xét xử công khai, bị tuyên án và phải chịu hình
phạt theo quyết định của tòa án là hoàn toàn bình thường, không chỉ Việt Nam mà
bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ làm vậy.
Thứ ba, việc Việt Nam được giới thiệu và bầu là thành viên Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 là hoàn toàn xứng đáng, phù hợp luật
pháp, thông lệ quốc tế. Xuất phát từ những thành tựu, tiến bộ trong bảo đảm
nhân quyền, quyền con người mà Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhất quán, kiên trì
thực hiện trong suốt những năm qua nên đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp
quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 và trúng cử với tín nhiệm cao. Và trên thực tế,
Việt Nam đã, đang phát huy tốt vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 khi tích cực tham gia và chủ trì các nghị
quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con
người…; có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc. Nổi bật
là, Việt Nam đã chứng tỏ vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên
phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất
diễn ra vào tháng 02/2023; Việt Nam đã đề xuất và soạn thảo để Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn
quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên
(VDPA) (ngày 03/4/2023), v.v.
Hơn nữa, thông thường nghị quyết phải do một tập thể cơ quan, tổ chức thảo
luận, nhất trí ban hành. Đằng này, lại do 02 cá nhân đơn lẻ là dân biểu tự đưa
ra cái gọi là “nghị quyết” thì đúng là phi lý, “dân chủ” kiểu Mỹ. Và, thử hỏi,
với tư cách gì mà bà Michelle Steel và ông Lou Correa lại còn đòi lên án Đại hội
đồng Liên hợp quốc? Thật nực cười cho cái “trò lố” của hai vị./.
CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
QUY ĐỊNH 142 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
NMT
Ngay khi Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142-QĐ/TW, ngày 23/4/2024 quy
định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ (Quy
định số 142), các thế lực thù địch, phản động, chống đối đã phát tán nhiều
tài liệu để xuyên tạc, cho rằng Quy định trên là “không hợp lý”
Cần khẳng định: xuất phát từ thực tiễn, Quy định số 142 về thí điểm giao
quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ ra đời trong bối cảnh
nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao phải nhận kỷ luật Đảng vì chịu trách nhiệm khi
để cấp dưới của mình vi phạm khuyết điểm, làm sai, làm trái pháp luật, tham
nhũng,... gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và của cá nhân, làm mất
niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Vì vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định số 142, với thời gian thực hiện thí
điểm này là 05 năm kể từ khi ban hành được xem là một hướng mới trong công tác
tổ chức cán bộ của Đảng, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu và cấp ủy, tổ
chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị trong việc
chủ động lựa chọn cán bộ cấp phó để giúp việc cho mình, vừa xây dựng tập thể
cán bộ lãnh đạo có đủ năng lực, phẩm chất, đoàn kết, cùng hành động vì lợi ích
chung.
Quy định số 142 đã cụ thể phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền,
trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm:
giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của đơn vị mình; bầu bổ sung ủy
viên Ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực
tiếp thuộc thẩm quyền quản lý. Người đứng đầu được quyền giới thiệu 01 nhân sự
trong quy hoạch tại chỗ, hoặc 01 nhân sự từ nguồn ở nơi khác cho 01 chức danh để
cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét đưa vào danh
sách, tiến hành quy trình công tác cán bộ để hoàn thiện ban lãnh đạo của cơ
quan, đơn vị mà mình được giao phụ trách. Có thể thấy, Quy định số 142 đã tăng
quyền cho người đứng đầu trong việc lựa chọn nhân sự cấp phó trực tiếp của
mình. Đồng thời, cũng quy trách nhiệm đích danh người giới thiệu. Cụ thể, tại
Điều 6, xác định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, Quy định
này nhấn mạnh: người đứng đầu bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính
trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của nhân sự do mình giới thiệu; thực
hiện nghiêm các quy định về công tác cán bộ, quy định về kiểm soát quyền lực và
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Người đứng đầu chịu
trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu
trong các trường hợp sau: Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm,
khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức,
lối sống, năng lực công tác. Miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục
theo quy định. Việc xem xét xử lý trách nhiệm của người đứng đầu trong trường hợp
vi phạm quy định này được thực hiện theo quy định về công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật của Đảng và các quy định có liên quan.
Đây là một bước đột phá của Đảng khi đề cao trách nhiệm của người đứng đầu
trong việc lựa chọn nhân sự cấp dưới của mình, chấm dứt tình trạng tồn tại lâu
nay là không cá nhân nào phải chịu trách nhiệm chính khi để xảy ra sai sót
trong việc giới thiệu nhân sự. Quy định mới tạo ra sự minh bạch, công tâm hơn
trong công tác tổ chức cán bộ; đồng thời, kiểm soát quyền lực và phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Vì vậy, các tổ chức đảng, đảng viên
và nhân dân cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ mọi luận điệu
xuyên tạc để Quy định này sớm đi vào thực tiễn cuộc sống./.
Thứ Tư, 22 tháng 5, 2024
THÔNG ĐIỆP HÒA BÌNH CỦA VIỆT NAM
NVS
Quan điểm “Bốn không” trong “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm
2019” là thông điệp hòa bình. Khẳng định Việt Nam không tham gia liên minh quân
sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn
cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây chính là quan điểm
“Bốn không” của Đảng; là thông điệp hòa bình, thể hiện sâu sắc khát vọng hòa
bình của dân tộc Việt Nam gửi tới tất cả các quốc gia trên thế giới. Thực chất
quan điểm “Bốn không” đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm
mống chiến tranh từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt
Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Thực tiễn
khắc nghiệt của đất nước, Việt Nam thấu hiểu hòa bình không phải là mỹ từ để
ngợi ca, mà là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính. Không một ai trong số
những người có lương tri trên trái đất này lại không yêu chuộng hòa bình, đấu
tranh vì hòa bình. Cũng vì thế mà Nhân dân Việt Nam và các dân tộc từng bị áp
bức, nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân, đế quốc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh
đến cùng, không khoan nhượng để giành độc lập, tự do, hòa bình cho dân tộc
mình. Để có được điều đó dân tộc Việt Nam đã phải trả giá bằng máu cùng sự đau
thương, mất mát của nhiều thế hệ. Ngay trong cuộc sống hòa bình hôm nay, trên
dải đất hình chữ “S” vẫn hằn sâu những vết thương chiến tranh, di chứng chiến
tranh. Vẫn còn đó những Mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương binh, liệt sĩ,
nạn nhân chất độc da cam vì vậy dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng hòa bình và
hành động vì hòa bình. Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới Romesh Chandra đã
khâm phục, ngợi ca: “Việt Nam là lương tri của thời đại”. Cũng không phải ngẫu
nhiên mà Hà Nội – Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vốn bị
tàn phá nặng nề trong chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của đế quốc
Mỹ lại được UNESCO trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, bạn bè quốc tế
vinh danh “Thủ đô của phẩm giá con người”. Thật đáng tự hào. Việt Nam một dân
tộc biết chiến đấu, dám hy sinh bởi khát vọng hòa bình, vì hòa bình và quyết
biến nó thành hiện thực, dân tộc đó hiểu rõ giá trị của hòa bình. Trước đây là
thế và bây giờ vẫn vậy, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả
những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực
vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực, trên thế giới.
Quan điểm “Bốn không”, thông điệp hòa bình và cũng là cam kết
của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi tới các quốc gia trên thế giới.
Trước sau như một, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong
quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng,
trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát
triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt
hoặc sức ép nào. Từ lịch sử đến hiện tại và tương lai, Việt Nam chưa từng, sẽ
không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa
lâu đời đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Như vậy, với cam kết “Bốn
không”, Việt Nam đã chủ động bày tỏ thẳng thắn thái độ của mình xuất phát từ
khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của
nhân loại.
Đặc biệt, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới hiện
nay, khi mà các mối quan hệ đan xen lợi ích với những toan tính chiến lược rất
khó nhận biết của các nước lớn, họ bất chấp mọi luân thường đạo lý, sẵn sàng
“đi đêm”, “mặc cả” sau lưng người khác, thì việc giữ vững hòa bình càng trở nên
không đơn giản với mọi quốc gia. Việt Nam đủ tỉnh táo để nhận rõ điều đó và
biết rằng, nếu chỉ với quan điểm “Bốn không” sẽ không thể bảo vệ được nền hòa
bình của đất nước, mà phải nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương thức kết hợp,
trong đó không thể thiếu việc tăng cường sức mạnh quốc phòng. Đề cập về vấn đề
này trong tâm trí những người có lương tri lại dấy lên nỗi đau khi mà chiến sự,
xung đột đang diễn ra khốc liệt trên thế giới, với biết bao người dân vô tội ở
đó đang đổ máu, phải tạm rời bỏ đất nước mình. Một điều chắc chắn mà ai cũng
biết là sẽ không có người chiến thắng, có chăng chỉ những kẻ “đục nước béo cò”.
Thực tiễn thế giới, trong nước, soi chiếu vào chính sách quốc phòng của Việt
Nam mới thấy hết sự đúng đắn, sáng suốt, có ý nghĩa của quan điểm “Bốn không”
mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang thực hiện đối với sự tồn vong của đất
nước, của chế độ, sự an nguy của dân tộc.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, khát khao hòa bình
không chỉ cho đất nước mình mà còn cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế
giới. Cùng với việc khẳng định rõ quan điểm “Bốn không”, thông điệp hòa bình,
Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam đã và đang nỗ lực góp phần gìn giữ
hòa bình với tư cách là “thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế”. Hình ảnh
những cán bộ, chiến sĩ quân y, công binh của Việt Nam không quản ngại hy sinh,
gian khổ đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình là một minh chứng
cho khát vọng và hành động tích cực vì hòa bình hạnh phúc chung của nhân
loại./.
BÁC HỒ - TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”
NgVS
Bác Hồ, Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, nhà
tư tưởng giáo dục, nhà sư phạm thực tiễn vĩ đại, đồng thời là một tấm gương
sáng ngời về tinh thần tự học.
Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và
học tập khai mạc ngày 6-5-1950, Người nói: “Lê-nin khuyên chúng ta: “Học, học
nữa, học mãi”. Mỗi người phải ghi nhớ và thực hành điều đó”. Người còn cho treo
trong phòng họp lời dạy của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết
mỏi”. Người coi lời dạy của Lê-nin là phương châm sống và hành động trong suốt
cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Cũng tại Hội nghị này, Người nhấn mạnh:
“Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Người còn xác định: “Không phải có
thầy thì học, không thầy đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về cách
học tập, Người viết: “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”.
Thân phụ của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy là thầy dạy chữ
Hán cho Người. Nhờ chăm học và học rất giỏi, sau này Người sử dụng thành thạo
chữ Hán trong sáng tác thơ Đường. Quách Mạt Nhược, nhà thơ nổi tiếng của Trung
Quốc, đã từng nói rằng: nếu để một số bài thơ Đường trong tập Ngục trung nhật
ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh bên cạnh những bài thơ Đường bất hủ thì e khó mà
phân biệt nổi.
Khi theo thân phụ vào Huế, Người học ở Trường Tiểu học Pháp -
Việt Đông Ba, rồi Trường Quốc học Huế, Người rất yêu thích học tiếng Pháp.
Trong cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Người đã từng làm phiên
dịch giúp cho những người biểu tình đề đạt nguyện vọng, đấu tranh với viên Khâm
sứ Pháp.
Ra đi tìm đường cứu
nước (5-6-1911), trên tàu Latouche Tréville, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành
với tên mới Văn Ba đã nêu cao ý chí tự học: “Mỗi ngày, đến 9 giờ tối công việc
mới xong…, Anh mệt lử. Nhưng trong khi mọi người nghỉ hay đánh bài, anh đọc hay
viết đến mười một giờ hoặc nửa đêm”.
Trong thời gian ở thị trấn Saint Adret, làm vườn cho gia đình
viên chủ hãng tàu, Nguyễn Tất Thành cũng tranh thủ học tiếng Pháp. Khi gặp
những từ mới, anh Thành viết vào một tờ giấy dán vào chỗ dễ thấy, có khi viết
vào cánh tay để trong lúc làm việc vẫn học được. Cả khi đi đường, anh cũng nhẩm
những từ mới học. Và cứ như thế, mỗi ngày, anh học thêm vài từ mới, và tìm cách
ghép câu để dùng ngay. Sau đó không lâu, Nguyễn Tất Thành học cách viết báo.
Anh bắt đầu viết được những bài báo ngắn với sự giúp đỡ của ông chủ bút báo
“Đời sống thợ thuyền”. Sau đó, anh viết những bài báo dài hơn. Khi viết được
những bài báo dài, ông chủ bút lại khuyên anh viết ngắn lại. Sau đó, Nguyễn Tất
Thành nhanh chóng trở thành nhà báo có uy tín tại thủ đô nước Pháp, là chủ
nhiệm kiêm chủ bút tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) với nội dung đầy sức
chiến đấu, lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, đấu tranh cho quyền lợi của người
lao động.
Cuối chiến tranh thế giới lần thứ nhất, từ Anh trở lại Pháp, anh
Thành viết bài cho các báo, tạp chí và viết sách bằng tiếng Pháp. Những bài
đăng trên các báo Le Paria, Thư tín Quốc tế, Đời sống công nhân…, đặc biệt là
tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã minh chứng cho sự thành công của một
người tự học.
Chỉ trong một thời
gian chưa đầy 10 năm sống ở Pháp, người thanh niên có chí khí ấy đã học hỏi
được nhiều điều bổ ích cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của mình. Thường
thường, Nguyễn Tất Thành chỉ làm việc buổi sáng để kiếm tiền, còn buổi chiều
thì đi đến thư viện hoặc dự những buổi nói chuyện chính trị. Tối đến, dự
mit-tinh ở Paris.
Khi đến Liên Xô, đất nước của Lê-nin vĩ đại, làm việc ở Bộ
Phương Đông, học ở Trường Quốc tế Lê-nin, nghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các
vấn đề dân tộc học và thuộc địa, anh tự học tiếng Nga thật vất vả, nhưng đã
nhanh chóng thành công. Người đã viết bài đăng báo, tạp chí và đã hoàn thành
chương trình học tập ở Trường Quốc tế Lê-nin.
Không dừng lại ở những ngoại ngữ đã biết, Bác Hồ của chúng ta
còn nỗ lực tiếp tục học thêm một số ngoại ngữ khác. Năm 1928, khi hoạt động
cách mạng tại Thái Lan, Người đã tự học thêm tiếng Thái. Mỗi ngày học 10 chữ,
và chỉ sau ba tháng, Người đã xem được báo chữ Thái.
Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), với bí danh Lin, khi
khai lý lịch, trả lời câu hỏi về trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại
học), Người đã ghi: Tự học. Trả lời câu hỏi: Đồng chí biết những ngoại ngữ nào?
Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga.
Bác Hồ đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học. Sự tự
học của Người gắn chặt với mục tiêu lý tưởng mà Người phấn đấu.
Bác luôn nhắc nhở đồng chí của mình và thế hệ trẻ phải nỗ lực
học và tự học. Người ân cần dạy bảo: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt
đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự
cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta
ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp
nhân dân”.
Trong bài nói chuyện với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu
năm, ngày 9-12-1961, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải
học…Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt
mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30
tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ…thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng
dốt lắm…Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế
hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường
nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế, nhưng không có tư tưởng thụt
lùi nạnh kẹ…”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: còn sống thì còn phải học, còn phải
hoạt động cách mạng. Và chính cuộc đời của Người là tấm gương sáng ngời về tự
học./.
NHẬN RÕ BẢN CHẤT “CÔNG BẰNG XÃ HỘI” TRONG PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
NgVS
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến
cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở
hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản
chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực
chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.
Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình
đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân
phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó
không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến
trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển
KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo
của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục
tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư
sản.
Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều
chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ
chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã
xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số
hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm
xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ
nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy
đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn
bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.
Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không
thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải
chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ
phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản,
giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao
động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và
thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản
thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân,
những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần,
cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất
bóc lột, bất công của CNTB.
Bản chất của các nền
chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số
giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng
lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài
chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi
phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình
đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình
thức, trống rỗng mà không thực chất”. Xét đến cùng, những bất công trong xã hội
tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức
sản xuất và chế độ chính trị TBCN.
BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG VIỆT NAM ĐÀN ÁP NGƯỜI DÂN TỘC THEO ĐẠO TIN LÀNH
NgVS
Với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gần đây
trên nhiều diễn đàn phản động đã đồng loạt phát tán bài viết: “Việt Nam đàn áp
người dân tộc thiểu số theo đạo tin lành để phá hoại sự đoàn kết”. Nội dung bài
viết vu khống Việt Nam đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành và chia
rẽ dân tộc để dễ bề cai trị, nhằm kích động người người dân tộc thiểu số ly
khai, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong nhiều bài viết các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cho
rằng Việt Nam đã “đàn áp hết sức tàn ác với người dân tộc thiểu số theo đạo Tin
Lành” cụ thể là người Mông.
Thực tiễn cho thấy, từ những năm 2003 đến nay, vấn đề tuyên
truyền, thành lập “nhà nước Mông” trên địa bàn các tỉnh vùng cao, đặc biệt tại
huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên manh nha xuất hiện, sau đó nhanh chóng lan rộng
ra toàn huyện. Đỉnh điểm, năm 2011, nhóm đối tượng Vàng A Ía đã tập hợp lực
lượng với hơn 7000 người Mông, tổ chức đón “vua Mông”, “xưng vua”, lập “vương
quốc Mông” ở bản Huổi Khon, xã Nậm Kè. Chúng dựng hơn 300 lều, lán, lập barie,
bố trí người canh gác không cho người lạ vào, đồng thời chuẩn bị vũ trang, tập
võ, tập bắn, mua vũ khí, đồng thời móc nối với các đối tượng ở nước ngoài chuẩn
bị các điều kiện, phương để lập “vương quốc Mông”. Các đối tượng cực đoan, quá
khích còn bắt giữ 16 cán bộ quân đội và cấp ủy, chính quyền cơ sở khi đến công
tác tại bản...
Trước tình hình đó, lực lượng Công an đã phối hợp các đơn vị
chức năng tiến hành giải tán đám đông tại bản Huổi Khon, bắt giữ 127 đối tượng
cản trở người thi hành công vụ, thu nhiều quả nổ tự chế, súng kíp, bao đựng
thuốc nổ, đạn, súng AK, cung nỏ, dao kiếm... Sau đó, cơ quan chức năng đã khởi
tố, xét xử nhiều đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”,
“Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và tội “Che
giấu tội phạm” theo quy định tại các Điều 109, Điều 88, Điều 389 Bộ Luật hình
sự. Đó là hành động kịp thời, cần thiết, phù hợp với luật pháp Quốc tế và Việt
Nam, không giống như luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch đang rêu rao
trên mạng xã hội.
Chúng còn vu cáo chính quyền Việt Nam “luôn ngờ vực dân tộc
thiểu số nên duy trì chính sách chia rẽ để cai trị”.
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm các dân
tộc “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”. Điều 5, Hiến
pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm
mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân
tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong
tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện
chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát
huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Các thành tựu trong thực hiện chính sách dân tộc của Việt Nam là
những minh chứng thuyết phục phản bác luận điệu vu khống của các thế lực thù
địch. Về công tác phát triển giáo dục, đào tạo, hiện nay, đã có 316 trường phổ
thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố, với 109.245 học sinh, trong đó, có
khoảng 40% số trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia. Cùng với đó, Chính phủ
đã tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác xóa đói, giảm
nghèo và xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
miền núi. Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng dân tộc thiểu số và miền
núi giảm 0.4%/năm; 100% huyện có đường đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô
tô đến trung tâm xã; 100% xã và 97,2% thôn, bản có điện lưới quốc gia; Nhà nước
Việt Nam còn rất chú trọng đến công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống của các dân tộc. Hiện nay, các giá trị văn hóa truyền thống của
các dân tộc thiểu số, như: không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa
Mỹ Sơn, Cao nguyên đá Đồng Văn,... được bảo tồn, tôn vinh, được công nhận là Di
sản văn hóa thế giới. Cùng với đó, tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số
được tôn trọng. Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn giáo trình dạy 12
thứ tiếng dân tộc thiểu số; Đặc biệt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhìn chung ổn định, đúng pháp luật; quyền
tự do tín ngưỡng được đảm bảo.
Như vậy, luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch, phần tử cơ
hội là vô căn cứ và đã bị thực tiễn bác bỏ. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác,
kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các phần tử phản
động, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
CẦN NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG CHIÊU TRÒ THÂM ĐỘC, XẢO QUYỆT CỦA BBC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CÔNG CUỘC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA TRÊN MẠNG XÃ HỘI
NgVS
Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà
nước và Nhân dân ta đang ngày càng được triển khai tích cực, được tổ chức chặt
chẽ, có bước tiến mạnh mẽ, đột phá, ngày càng hiệu lực, hiệu quả, đạt nhiều kết
quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, lan tỏa mạnh mẽ trong
toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, được cộng
đồng quốc tế ghi nhận.
Điều đó ngày càng khẳng định, những luận điệu xuyên tạc thâm
độc, xảo quyệt, thậm chí là trơ trẽn của đài báo BBC và các thế lực thù địch,
phản động ngày càng thất bại tren phương tiện truyền thông và ngày càng được
nhân dân nhận rõ, vạch trần bộ mặt thật của chúng.
Một là, mượn chuyện tham
nhũng để hướng vào chống phá chế độ. Chúng cho rằng “bản thân bộ máy quan liêu
đẻ ra tham nhũng”, “tham nhũng là sản phẩm của chế độ XHCN ở Việt Nam”, rằng
“do xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công”. Một số kẻ
lộng ngôn: “trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xét xử theo
lệnh của Đảng thì không thể chống được tham nhũng, cho nên Việt Nam đã nhiều
lần phát động chống tham nhũng nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia
tăng”. Có những kẻ còn ngông cuồng phán rằng “cái lò này đẻ ra tham nhũng thì
phải vứt cái lò đó đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng, bởi không bao
giờ đốt hết được cả”.
Chúng không biết hay cố tình không biết một thực tế là tham
nhũng được sản sinh ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và dù là hình thức
nhà nước nào, thể chế chính trị nào thì tham nhũng vẫn sẽ tồn tại. Thực chất
của những giọng điệu ấy chỉ là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để nói
xấu, xuyên tạc, bịa đặt, hòng xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Hai là, vin vào chuyện tham
nhũng để hướng lái, chĩa mũi nhọn chống phá Đảng. Chúng cho rằng tham nhũng là
căn bệnh kinh niên của “chế độ độc đảng cầm quyền”, “do đảng cầm quyền độc đoán
cai trị nên tham nhũng tất yếu xảy ra...”; và rồi vòng vo thế nào cái đuôi của
chúng cuối cùng cũng lòi ra: “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do đảng đứng trên
pháp luật”, vì thế, “phải thực hiện đa đảng để không còn tham nhũng”. Chúng phủ
định kết quả to lớn và quyết tâm chống tham nhũng của Đảng ta khi lớn tiếng
“tuyên bố”: “cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam
không thể thành công”. Tất cả những lời lẽ xuyên tạc đến trơ trẽn ấy mục đích
chính vẫn chỉ là để phủ định, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta mà thôi.
Ba là, mượn chuyện chống
tham nhũng để chống phá công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng. Chúng trắng
trợn xuyên tạc, cho đây là “cuộc chiến của những chiếc ghế”, là “cuộc đấu phe
phái” hòng chia rẽ nội bộ ta; có kẻ còn cho rằng “vì chống tham nhũng, nhiều
cán bộ đã bị đẩy vào “bi kịch”, “oan nghiệt”. Nhiều trang báo phản động còn
triệt để khai thác đời tư của cán bộ, thêu dệt, gán ghép tạo sự tò mò, hiếu kỳ
rồi đổ đồng, cào bằng, biến sai phạm phải xử lý của cá nhân một số cán bộ thành
bản chất mặc định của cả đội ngũ, cố tình quy chụp, cho đó là “sự thất bại nặng
nề của công tác nhân sự mà Đảng lãnh đạo”.
Bốn là, xuyên tạc mục đích,
phủ nhận thành quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chúng tìm mọi cách xuyên
tạc, bẻ lái mục đích đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam từ vì lợi ích
của quốc gia, dân tộc thành ý muốn chủ quan của cá nhân, vì lợi ích của một
nhóm người; lập lờ “đánh lận con đen”, xuyên tạc hòng biến việc xử lý các vụ án
tham nhũng, tiêu cực và cán bộ sai phạm ở nước ta thành những chuyện “đấu đá”,
“thanh trừng”, “triệt tiêu” với rất nhiều dị bản. Từ những thông tin cóp nhặt
trên mạng xã hội, chúng thêm mắt, thêm râu, cắt xén, nhào nặn, tưởng tượng,
dựng nên những câu chuyện về các phe nhóm nội bộ, nào là cánh trung ương và
cánh địa phương, phe cấp tiến và phe bảo thủ, phái miền Nam và phái miền Bắc...
Chúng cho rằng, các biện pháp chống tham nhũng của Việt Nam là nửa vời, “chỉ
làm lấy lệ”, “tắm từ vai trở xuống”, cốt để "đánh bóng tên tuổi” hay
gần đây, cũng một chiêu trò cũ rích khi BBC News Tiếng Việt có bài viết: ông Vương
Đình Huệ mất chức, chiến dịch đốt lò của ông Nguyễn Phú Trọng thất bại"..
Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích nào khác ngoài việc
xuyên tạc mục đích, hạ thấp giá trị tốt đẹp của cuộc đấu tranh này, làm giảm ý
nghĩa thắng lợi của công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, gây phân tâm
trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
và làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Bên cạnh đó, một bộ
phận người dân do chưa hiểu đúng, hiểu chưa rõ về cuộc đấu tranh này nên còn
hoài nghi, có những phát ngôn lệch lạc, vô tình làm tiếp tay cho các thế lực
thù địch, phản động.
Rõ ràng, việc nâng cao khả năng “tự đề kháng”, “miễn nhiễm” cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những thông tin xấu độc trên Internet, mạng
xã hội như đã nêu trên lúc nào cũng cần thiết và ở thời điểm hiện nay, nó không
chỉ là cấp thiết mà còn thực sự cấp bách. Nó đòi hỏi mỗi người chúng ta phải
hiểu biết được thực chất âm mưu thủ đoạn của chúng là gì? Vì sao chúng lại
“chính trị hóa” chiến dịch chống tham nhũng mà bản chất của nó là các hành vi
pháp luật quy định, tác hại của nó như thế nào và làm thế nào để chống được nó?
Kiên quyết ngăn chặn, không cho nó xâm nhập vào trong suy nghĩ của mình, trong
gia đình, cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
Nâng cao khả năng “tự đề kháng”, tự “miễn nhiễm” đòi hỏi không
chỉ dừng lại ở việc nhận thức, hiểu biết mà phải được nâng lên thành ý thức,
thành lý tưởng, ý chí và niềm tin, từ đó hình thành nhân sinh quan, thành bản
lĩnh. Nó chính là một bức tường thành kiên cố làm vô hiệu hóa mọi sự xuyên tạc,
chống phá. Làm được như vậy tự nó đã thể hiện được sự tích cực, chủ động, thiết
thực, cụ thể và bài bản trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
ta. Việc định hướng tư tưởng, định hướng dư luận một cách chủ động (nhất là
trước các sự kiện lớn, những vụ việc lớn, những vụ án tham nhũng sắp được đưa
ra xét xử, những nội dung có thể còn có những ý kiến khác nhau, những vấn đề dự
báo sẽ còn nóng, những vấn đề đang được xã hội quan tâm) là vô cùng quan trọng,
bởi làm được như thế chắc chắn sẽ hạn chế được khoảng trống thông tin, ngăn
chặn được những suy diễn, đồn đoán, những hậu quả xấu từ sớm, từ xa; trên cơ sở
đó, xây chắc, củng cố bền vững lòng tin của mọi cán bộ, đảng viên và nhân
dân..../.
Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024
CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN NGỤY BIỆN
LỪA ĐẢO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
LMH
Các thế lực thù địch
luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, trong đó ngụy biện thổi phồng
khuyết điểm, đánh tráo bản chất là một trong những thủ đoạn thường thấy. Chúng
triệt để lợi dụng một số sai phạm, tiêu cực trong xã hội để cường điệu hóa nhằm
đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho họ nhầm tưởng cái khuyết điểm đó
là thuộc về bản chất, là rất lớn, rất nghiêm trọng, trái ngược hoàn toàn với thực
tiễn. Như mới đây trên trang mạng Bureau CTM Media - Á Châu có đăng bài “Một đất
nước kỳ lạ” của một đối tượng có bút danh VietTuSaiGon, đối tượng đã lợi dụng
hiện tượng fan cuồng thần tượng ở một số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay, cho rằng
“một đất nước (chỉ Việt Nam), tuổi trẻ gào khóc, lên đồng tập thể vì kết quả của
một trận bóng nhưng đồng loại, đồng bào, đồng tộc chết hơn hai mươi ba ngàn người
trong vòng một tháng, chẳng mấy người tuổi trẻ xúc động”; Y còn tạo dựng khuyết
điểm khi cho rằng “một đất nước mà ở đó người ta không quan tâm gì nhiều đến
giáo dục văn hóa hay quyền con người…”. Tất cả những điều này đều là ngụy biện,
lừa đảo bởi lẽ:
Thứ nhất, với sự phát triển của công nghệ
thông tin đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và nền công nghiệp giải trí thì hiện
tượng fan cuồng thần tượng ở một bộ phận giới trẻ là vấn đề của tất cả các quốc
gia trên thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ, tuy nhiên hiện tượng fan
cuồng thần tượng ở Việt Nam hiện nay mới chỉ thuộc về một số ít giới trẻ, mang
tính tự phát, rời rạc, ít đội nhóm có tổ chức. Đại bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện
nay đều thể hiện khát vọng và khẳng định bản thân, khát khao cống hiến cho xã hội,
điển hình như các đợt dịch Covid-19 ở Việt Nam vừa qua, đã có hàng triệu thanh
niên xung phong, tình nguyện tham gia chống dịch, không sợ khó khăn vất vả nguy
cơ lây nhiễm dịch bệnh, họ là những lực lượng nòng cốt xung kích đi đầu góp phần
quan trọng ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch bệnh.
Thứ hai, phát triển văn hóa, giáo dục và quyền
con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ở
Việt Nam. Tổng kết thành quả đất nước sau 35 năm đổi mới, trên lĩnh vực phát
triển văn hóa, con người, được Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Nhận thức về
văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn”. Hiện nay, nhiều
lĩnh vực, loại hình văn hóa mới ra đời, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội;
nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp đã được kế thừa, bảo tồn và phát
huy; phát triển con người Việt Nam toàn diện - từng bước trở thành trung tâm của
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; các vấn đề an sinh xã hội được quan tâm
và bảo đảm, giảm nghèo bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của người dân
được nâng cao rõ rệt... Đặc biệt, việc phòng, chống đại dịch Covid-19 chính là
thử thách để thấy được giá trị văn hóa, con người Việt Nam “tỏa sáng”, được cộng
đồng quốc tế đánh giá cao. Trong xã hội, tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhân ái,
yêu thương con người được lan tỏa rộng rãi. Đảng và Nhà nước cũng thể hiện thống
nhất quan điểm con người là vốn quý nhất, dù “chống dịch như chống giặc” nhưng
quyết tâm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Những thành tựu trên là minh chứng
cho thấy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam luôn quan tâm ưu
tiên phát triển văn hóa giáo dục thực hiện phát triển con người Việt Nam toàn
diện.
Tất cả những điều đó là những bằng chứng không
thể phủ nhận, vạch mặt những kẻ phản động, sử dụng thủ đoạn ngụy biện lừa đảo
người khác nhằm làm suy giảm niềm tin và tình cảm của nhân dân Việt Nam và cộng
đồng quốc tế giành cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Những luận điệu như thế không
thể lừa gạt được những người có lương tri, đó chỉ là những tiếng kêu lạc loài,
yếu ớt của những kẻ vì lợi ích cá nhân hoặc còn ôm lòng thù hận cá nhân. Những
kẻ mà sự ngụy biện đã trở thành thói quen, khiến cho tư duy trở nên sai trái, lệch
lạc, không phân biệt được đúng sai./.