NHẬN RÕ BẢN CHẤT “CÔNG BẰNG XÃ HỘI” TRONG PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
NgVS
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến
cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở
hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản
chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực
chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.
Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình
đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân
phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó
không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến
trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển
KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo
của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục
tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư
sản.
Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều
chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ
chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã
xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số
hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm
xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ
nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy
đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn
bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.
Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không
thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải
chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ
phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản,
giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao
động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và
thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản
thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân,
những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần,
cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất
bóc lột, bất công của CNTB.
Bản chất của các nền
chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số
giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng
lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài
chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi
phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình
đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình
thức, trống rỗng mà không thực chất”. Xét đến cùng, những bất công trong xã hội
tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức
sản xuất và chế độ chính trị TBCN.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét