VIỆT NAM ĐÃ CHIẾN THẮNG VÌ LẼ PHẢI, CÔNG LÝ, YÊU CHUỘNG
HOÀ BÌNH VÀ TINH THẦN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
THN
Trong lịch sử chống giặc ngoại
xâm của dân tộc, Việt Nam - một quốc gia nhỏ bé những luôn giành chiến thắng. Một
trong những yếu tố tạo lên sức mạnh Việt Nam trong giữ nước đó là dân tộc ta đã
chiến đấu vì lẽ phải, vì công lý. Người Việt Nam có câu: “Nói phải củ cải cũng
nghe" như khẳng định hiển nhiên rằng đúng lý lẽ thì ai cũng phải công nhận.
Việt Nam có lẽ phải, có công lý nên dẫu hệ thống tuyên truyền đồ sộ của phương
Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ có mở hết công suất thì cũng không bóp méo được một lẽ
phải hiển nhiên: Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới cần và phải được
độc lập, thống nhất và hòa bình. Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới,
trong đó có nhân dân Mỹ, hiểu rõ điều đó là công lý, là chân lý. Mở đầu
bản “Tuyên ngôn độc lập” đọc trước toàn thể quốc dân đồng bào ngày 2/9/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, coi đó là những “lời bất hủ”,
là công lý, là lẽ phải: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những
lẽ phải không ai chối cãi được”. Nhân dân Việt Nam đứng về phía lẽ phải đó và
quyết đòi bằng được hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc mình. Tuy nhiên, con
đường chính nghĩa thắng phi nghĩa, cái thiện thắng cái ác cũng trải qua vô vàn
gian khổ, hy sinh. Dân tộc ta đã đoàn kết xung quanh Đảng, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh, khẳng định ý chí sắt đá: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu
mất nước, không chịu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Và lẽ phải ấy
đã chiến thắng.
Trong lịch sử dựng nước và giữ
nước, nhân dân Việt Nam đã nhiều lần buộc phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh
hơn mình nhưng cuối cùng chúng ta đã giành chiến thắng nhờ yêu chuộng hoà bình
và phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nói về sức mạnh
Việt Nam chỉ có thể nói đến hai chữ “thần kỳ”. Bởi nếu không thần kỳ thì không
thể nào giành chiến thắng. Lịch sử hàng nghìn năm trước, đế quốc Nguyên Mông từng
chiếm một vùng rộng lớn từ Á sang Âu, sức mạnh tưởng không gì ngăn cản,
nhưng 3 lần đến Việt Nam đều thất bại thảm hại. Tìm lời giải cho câu hỏi “Vì
sao Việt Nam nhỏ bé chiến thắng?”, những nhà lý luận quân sự tài ba của thế giới
cũng chưa bao giờ lý giải đầy đủ. Bởi thế, sử sách cũng chỉ khẳng định tổng
quát đó là sự kỳ diệu, thậm chí là kỳ lạ của một dân tộc. Một số người đã cố gắng
chỉ ra rằng chúng ta có địa hình rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt
làm kẻ thù thất bại. Nhưng nếu chỉ có thế thì vũ khí hiện đại có thể bù lấp vào
chỗ “khuyết” ấy chăng? Và nếu chỉ có thế thì đối phương chỉ cần tránh ải
Chi Lăng, tránh Bạch Đằng giang là thoát khỏi thảm bại? Trong kháng chiến chống
thực dân Pháp, lợi dụng núi rừng hiểm trở, người Pháp đã lập cứ điểm Điện Biên
Phủ và nghĩ rằng Việt Minh có cánh cũng không vào được. Vậy mà chỉ với xe đạp
thồ và ý chí sắt đá, sự sáng tạo và quả cảm của nhân dân Việt Nam, mọi thứ đều
được chuyển đến Điện Biên để làm nên một chiến thắng “chấn động địa cầu”. Rồi
thời chống đế quốc Mỹ, “trận Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội càng khó lý giải
hơn khi lý thuyết chỉ ra rằng không lực Hoa Kỳ là bất khả chiến bại, nhưng họ lại
thảm bại…
Có thể nói, mọi lý giải như
trên đều không thỏa đáng nếu chỉ so sánh cơ học, số học về vũ khí, tiền bạc giữa
Việt Nam và đối phương. Sau chiến tranh, ông McNamara - cựu Bộ trưởng Quốc
phòng Hoa kỳ - phải thừa nhận tính toán sai lầm của mình trong chiến tranh Việt
Nam, trong đó, sai lầm lớn nhất là không hiểu văn hóa Việt Nam. Có thể khẳng định,
sự ngộ ra của nguyên tác giả hàng rào điện tử, đạo diễn chính của Hoa Kỳ trong
chiến tranh Việt Nam, là tương đối thỏa đáng cho câu trả lời vì sao Việt Nam nhỏ
bé luôn chiến thắng.
Văn hóa chung của nhân loại
luôn khẳng định thiện thắng cái ác, cái chính nghĩa thắng phi nghĩa. Với Việt
Nam, một nước đã từng chịu bao tang thương, mất mát trong chiến tranh giữ nước
thì văn hóa hòa bình là số một. Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, không
đem vũ khí xâm lược đất nước khác, không muốn có chiến tranh - truyền thuyết Hồ
Hoàn Kiếm (trả gươm) giữa trái tim Thủ đô là minh chứng cho điều đó; nhưng
chúng ta “càng nhân nhượng” thì kẻ thù càng lấn tới, buộc toàn dân tộc phải cố
kết chặt chẽ, dốc toàn lực đánh đuổi quân xâm lược. Toàn lực là “ai có súng dùng
súng, không có súng thì dùng cuốc xẻng, gậy gộc”, “Giặc đến nhà đàn bà cũng
đánh”, “còn cái lai quần cũng đánh”, ngọn giáo, cây chông đều là vũ khí và ngay
cả đến “con ong Việt Nam cũng thành chiến sĩ”… tất cả chỉ để giành lại hoà
bình, độc lập, tự do cho dân tộc. Mặc dù buộc phải “giặc dùng đạn bom thì ta
giáng trả đạn bom”. Nhưng ngay trong chiến sự, nhân văn Việt Nam vẫn toả sáng:
“Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”; Bao dung Việt Nam
luôn được đề cao bằng việc cấp lương thảo, phương tiện cho kẻ thù rút về nước
trong danh dự, miễn sao đất nước sạch bóng quân thù và muôn đời dập tắt chiến
tranh.
Lịch sử Việt Nam hàng nghìn
năm khẳng định Việt Nam cần hòa bình, yêu chuộng hòa bình. Trong trường hợp buộc
phải cầm vũ khí, chiến đấu, thì đó là chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc,
vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, chứ không vì sự đối đầu đua tranh hơn
kém, thắng thua. Truyền thống Việt Nam nghìn đời nay vẫn vậy. Lãnh đạo Đảng,
Nhà nước và nhân dân Việt Nam ngày nay vẫn giữ gìn vá phát huy nét đẹp văn hoá ấy.
Khép lại quá khứ, không có nghĩa là quên quá khứ, bởi quá khứ lưu giữ hàng
nghìn bài học quý giá cho tất cả mọi người, mọi quốc gia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét