Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018


HÃY CẢNH GIÁC VỚI PHÁP LUÂN CÔNG
Thời gian gần đây Pháp luân công đã có những hoạt động mang màu sắc chính trị, vi phạm pháp luật, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, với âm mưu, thủ đoạn phức tạp, khó lường, dưới dạng rèn luyện sức khỏe, tu sửa tâm tính, có dấu hiệu chính trị đối lập, phản văn hóa và lợi dụng các yếu tố tâm linh, tinh thần, nhằm lôi kéo quần chúng tham gia, trong đó có cả cán bộ, đảng viên.
Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, không công nhận, không cấp đăng ký sinh hoạt đối với Pháp luân công. Đây là hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam, lợi dụng tâm linh để lôi kéo quần chúng, nhân dân tuyên truyền văn hóa đối lập phong tục, tập quán truyền thống, dân tộc. Nhận thức đúng bản chất của Pháp luân công, không tham gia Pháp luân công và hoạt động của các tổ chức bất hợp pháp khác, không tán phát, chia sẻ các thông tin, hoạt động của Pháp luân công, phê phán việc lợi dụng các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Cấp ủy, chính quyền, các lực lượng chức năng cần nắm chắc tình hình địa bàn, có biện pháp ngăn chặn, xử lý phù hợp, tham mưu, phối hợp, bóc tách các đối tượng, kịp thời có các biện pháp xử lý nghiêm minh số cầm đầu, chống đối, vi phạm pháp luật. Đồng thời làm tốt việc tuyên truyền để mọi người nhận thức rõ sự nguy hại, tránh bị lợi dụng, lôi kéo vào các hoạt động vi phạm pháp luật. cung cấp thông tin hỗ trợ người dân hiểu rõ và nâng cao cảnh giác, không tin tưởng mù quáng vào việc tuyệt đối hóa khả năng chữa bệnh của Pháp luân công; tránh việc ngộ nhận về các bài tập Pháp luân công có thể chữa bách bệnh dẫn đến chối bỏ phương pháp điều trị, bỏ lỡ cơ hội chữa bệnh của bản thân. Đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú; tích cực tuyên truyền, vận động mọi người thực hiện nếp sống văn hóa mới trong khu dân cư, phong trào nông thôn mới, tham gia rèn luyện sức khỏe, thể thao, dưỡng sinh lành mạnh, thu hút toàn dân tham gia, tránh ảnh hưởng của Pháp luân công.
HƯỚNG DƯƠNG


NHÂN DIỆN SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA

Các thế lực thù địch sử dụng “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa chống phá cách mạng Việt Nam với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó một số biểu hiện cơ bản đó là: 
Một là, các thế lực thù địch đánh phá nền tảng tư tưởng, xuyên tạc quá khứ, bôi đen lãnh đạo để phá rã niềm tin của quần chúng vào Đảng và chế độ, làm cho toàn xã hội hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng đòi thay đổi chế độ XHCN. 
Hai là,với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” thông qua tác động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với những luận điểm mị dân, lừa bịp, dễ làm cho đối phương mất cảnh giác, dễ bị cám dỗ, mất phương hướng chính trị, không phân biệt đúng sai, thật giả, tạo ra “khoảng trống” về chính trị, tinh thần để truyền bá các quan điểm tư sản và đánh thẳng vào nội bộ ta, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động lật đổ và bạo loạn chính trị. 
Ba là, với nhiều thủ đoạn khác nhau, các thế lực thù địch làm mê muội con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên Việt Nam bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng; tạo ra được một tầng lớp đông đảo “phi chính trị hóa”, để khi có điều kiện thì tập hợp lực lượng xấu, gây áp lực chính trị, dùng bạo loạn lật đổ và cướp chính quyền. Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua giao lưu hợp tác về văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, báo chí... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hóa tư tưởng, cài cắm người vào các tổ chức của ta, móc nối với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Bốn là, với hình thức tung tin đồn nhảm, tạo dư luận và áp lực xã hội, dưới chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chúng đưa ra những lời hứa mị dân để gây tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác, cả tin của một số người; từ đó cô lập các lực lượng cách mạng trung kiên, phân hóa những người dao động, thiếu chính kiến, thiếu thông tin; lôi kéo, kích động những người có tâm trạng bất mãn, những lực lượng xấu trong xã hội để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.
                                                                                                BIỂN RỘNG



GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

Một là: Phải xác định, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh của giai cấp và ý thức hệ, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Đảng, nhà nước và chế độ XHCN. Cuộc chiến này sẽ diễn ra lâu dài và ngày càng quyết liệt. Chúng ta không cường điệu, đánh giá quá cao kẻ địch, nhưng thực tế đã chỉ rõ, không bao giờ được lơi lỏng mất cảnh giác để kẻ thù thực hiện được âm mưu của chúng.
Hai là: Coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải quán triệt phương châm phòng ngừa bên trong là chính, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp. Phải tuân thủ sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng. Phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” đặc biệt là “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng văn hóa.
Ba là: Phải tiếp tục tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tiếp tục thực hiện tốt, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII); nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ XHCN. Tăng cường công tác bảo về chính trị nội bộ, kịp thời đấu tranh ngăn chặn dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành chức năng trong đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”…
Bốn là: Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề căn bản cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra trên con đường đi lên CNXH ở nước ta. Tập trung củng cố, nâng cao và hoàn thiện hệ thống thông tin, truyền thông phong phú, đa dạng và hiện đại, làm cho hệ thống này đảm bảo đủ sức mạnh và khả năng đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền. Đồng thời, có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, văn hoá, truyền thông, trong đó đặc biệt chú trọng đến các lực lượng xung kích trên mặt trận đấu tranh phòng, chống " DBHB".
Năm là: Chủ động đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm. Phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch; chống các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong công tác xây dựng Đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chủ động dự báo những sự thay đổi trong âm mưu, phương thức hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch, thông qua đó, đề ra các chủ trương, giải pháp phòng chống, đấu tranh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong tình hình mới.
                                                                                           BIỂN RỘNG

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018


CHỐNG "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" TRÊN LĨNH VỰC

TƯ TƯỞNG, VĂN HOÁ LÀ NHIỆM VỤ CẤP BÁCH


Thực tế cho thấy, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tăng cường thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, sử dụng các biện pháp, tiến hành nhiều hoạt động phức tạp từ âm thầm đến công khai phá hoại Tư tưởng, văn hóa đối với Việt Nam thông qua các phương thức, thủ đoạn chủ yếu như: lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài, sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin trên mạng internet với các trang mạng xã hội  để đăng tải, tán phát hàng triệu bài viết với nội dung phê phán, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền, xuyên tạc tình hình nội bộ Đảng, đời tư các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, nhà nước; phủ nhận thành tựu của sự nghiệp đổi mới, cường điệu hóa yếu kém, khuyết điểm của nền kinh tế - xã hội.
Ngoài ra chúng tăng cường móc nối, lôi kéo, mua chuộc, khống chế và lợi dụng các cán bộ, đảng viên, trí thức, chức sắc tôn giáo, các đối tượng có biểu hiện bất mãn, cơ hội chính trị và các phần tử xấu trong nước để tạo dựng “ngọn cờ” trong nội bộ; hậu thuẫn cho việc hình thành, công khai hóa các tổ chức “xã hội dân sự”, “yêu nước”, “phản biện xã hội” để hoạt động chống đối chính trị. Lợi dụng các sự kiện chính trị, xã hội, các vụ việc nhạy cảm, phức tạp, như các kỳ Họp BCH TW Đảng, họp Quốc hội; các vụ án kinh tế, vụ án có liên quan đến cán bộ, đảng viên; các vụ việc tham nhũng để lồng ghép các nội dung tuyên truyền chống Đảng, nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế….
Tất cả những hành vi đó đều với một âm mưu, ý đồ lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ ta.
Thực tế là những âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch đã có những tác động không nhỏ đến đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tình trạng thoái hóa, biến chất về phẩm chất đạo đức; dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phai nhạt niềm tin vào Đảng ngày càng rõ nét, đặc biệt là diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên. Điều đó đã đặt ra nguy cơ và thách thức hiện hữu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Nhận thức rõ tính chất và mức độ nguy hiểm của âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ của nước ta. Sau đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, của đảng đều nhắc đến đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình”. Gần đây nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nêu rõ: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình”, “Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này phải có các giải pháp đồng bộ nhằm tạo ra sức đề kháng trong mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch”.
Có thể khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quản lý của nhà nước, sự thống nhất về ý chí và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân, những năm qua, công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã đạt được những kết quả tích cực trong xây dựng, tổ chức lực lượng cũng như đấu tranh với các hoạt động chống phá, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch. Các ban, bộ, ngành, tỉnh ủy, thành ủy từ Trung ương đến địa phương đã tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Thông báo Kết luận 94 của Ban Bí thư khóa IX; Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư (khoá X) về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Thông báo Kết luận 213-TB/TW về “Đấu tranh chống quan điểm sai trái trong văn học, nghệ thuật”. Nghị quyết số 04-NQ/TW khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
Thời gian tới, tình hình thế giới sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường sẽ tác động đến nước ta; tình hình tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông; công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu sẽ càng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp; những khó khăn, yếu kém của nền kinh tế, suy giảm kinh tế không thể khắc phục được một sớm một chiều; sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa ngăn chặn, đẩy lùi, dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ ngày càng bộc lộ rõ nét.
Để chủ động nâng cao hiệu của công tác phòng chống, đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch chúng ta cần quan tâm, xác định rõ và tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải xác định, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh của giai cấp; phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải quán triệt phương châm phòng ngừa bên trong là chính, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong các giải pháp. Phải tuân thủ sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng; tiếp tục tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo NQ TW 4 (lần 2); nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ XHCN. Tăng cường công tác bảo về chính trị nội bộ; mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại.
Với sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong xã hội cùng ý chí quyết tâm chiến đấu cao, nhất định toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta sẽ đấu tranh làm thất bại mọi mưu đồ của địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
BÀN LUẬN




ÂM MƯU DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA ĐỊCH
Ở VÙNG BIÊN CƯƠNG TỔ QUỐC
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm chính sách dân tộc và tôn giáo đối với đồng bào nơi biên cương Tổ quốc, coi đây là một biện pháp quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Trong thời gian vừa qua, các thế lực phản động và thù địch lợi dụng những tồn tại, yếu kém của một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương để thực hiện “chiến lược diễn biến hòa bình” nhằm gây chia rẽ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Chúng tập trung mũi nhọn tuyên truyền, khuếch đại những vấn đề nhạy cảm về biên giới, dân tộc, tôn giáo hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước ta, cuối cùng là xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
Nội dung của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực phản động và thù địch thường sử dụng đối với đồng bào dân tộc thiểu số  vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa là lợi dụng điều kiện địa hình hiểm trở, phức tạp, trình độ văn hóa, xã hội của đồng bào hạn chế, từ đó dùng các thủ đoạn về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, đối ngoại, an ninh, quốc phòng để phá hoại, làm suy yếu từ bên trong nội bộ các tổ chức Đảng, chính quyền.
Chúng kích động hòng gây mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo nhằm tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, sắc tộc. Chúng hết sức coi trọng thủ đoạn khích lệ lối sống thực dụng, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên, học sinh. Đồng thời, chúng triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và những thiếu sót của các cấp chính quyền để kích động, tạo sức ép nhằm từng bước chuyển hóa, làm thay đổi đường lối chính trị, chế độ xã hội theo sắc màu riêng do chúng nặn ra.
Âm mưu, thủ đoạn chúng đã và đang sử dụng để chống phá đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa nơi biên cương là: Tung tin thất thiệt, khuyến khích di dân tự do, truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Song song với đó, chúng tiến hành xây dựng nhân cốt, tạo dựng ngọn cờ; tuyển chọn người vào các tổ chức phản động, đồng thời chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết bằng các thủ đoạn lừa gạt, chiếm đoạt, kết hợp mê hoặc với cưỡng chế, kết hợp giữa thuyết phục với tung tin để răn đe; tuyên truyền kích động, lôi kéo, tạo dựng thời cơ để gây bạo động chống phá chính quyền. Khi bị phát hiện, chúng sẵn sàng thủ tiêu, tàn sát, thanh trừng lẫn nhau để bịt đầu mối.
Điển hình cho hoạt động chống phá về mặt chính trị - kinh tế trong những năm qua, ở một số nơi trên tuyến biên giới Tây Nam, Tây Bắc nước ta là các hoạt động kích động chính trị trên lĩnh vực tranh chấp đất đai, chia rẽ khối đại đoàn kết trong thôn bản. Lợi dụng những yếu kém, sơ hở của chính quyền địa phương xuyên tạc sự thật, kích động, chia rẽ nhân dân, chống đối chính quyền, làm mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống hoà bình, làm ăn sinh sống của đồng bào.
Đặc biệt, chúng hết sức chú trọng yếu tố tâm lí và sự dồn nén khó khăn về đời sống tinh thần, vật chất để tạo dựng xu hướng bất bình với Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Ở các mức độ khác, chúng còn ngấm ngầm truyền bá tư tưởng phản động, kích động ly khai dân tộc, đòi thành lập Nhà nước tự trị; lôi kéo, kích động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ Việt Nam với các nước láng giềng.
Mục tiêu sâu xa của chúng là tổ chức, tập hợp lực lượng phản động, xây dựng cơ sở ngầm chống đối trong nội bộ các dân tộc, gây nên các cuộc bạo loạn mang tính chất chính trị, hòng tạo cớ để các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp, gây mất ổn định chính trị đất nước. 
Về thủ đoạn chống phá trong lĩnh vực dân tộc và tôn giáo, chúng đã có bước điều chỉnh mới so với những năm trước đây. Lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo của một bộ phận cán bộ để kích động tư tưởng đòi li khai, tự quyết dân tộc.
Chúng vừa ngấm ngầm, vừa công khai truyền đạo trái pháp luật để thực hiện âm mưu “tôn giáo hoá dân tộc”, từng bước gây mất ổn định xã hội và làm chệch hướng chế độ CNXH ở Việt Nam. Thực tiễn diễn ra trong các năm 2001 trên địa bàn các tỉnh Tây Nam bộ, Tây Nghệ An và vùng Tây Bắc; tại các tỉnh Tây Nguyên tháng 10-2004; tại Mường Nhé, tỉnh Điện Biên và đầu năm 2011 và một số nơi khác gần đây đã chứng minh điều đó.
Lợi dụng sự mê tín, dị đoan nhẹ dạ, cả tin của một số người, bọn phản động bên ngoài cấu kết với bọn xấu tại địa phương để lừa bịp, mê hoặc quần chúng, hình thành “chân rết” của các tổ chức phản động như Tân Việt; từng bước phát triển lực lượng, tuyên truyền, kích động chia rẽ dòng họ, dòng tộc, làng bản với mưu đồ khống chế và vô hiệu hóa một số cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương yếu kém để khi có thời cơ, chúng thực hiện ý đồ chính trị của mình...
Để làm thất bại âm mưu “chiến lược diễn biến hòa bình” của địch đối với đồng bào vùng biên giới, hải đảo cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của nhiều ngành, nhiều cấp, của cả hệ thống chính trị. Trong đó, vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định là tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân. Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt, bảo đảm cho chính quyền địa phương luôn ổn định, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả, nền nếp hoạt động của các tổ chức quần chúng... Mặt khác, quan tâm củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh theo quan điểm của Đảng; giữ gìn tình đoàn kết, thân ái và hữu nghị với nhân dân các dân tộc các nước láng giềng cùng chung sống gần gũi trên một dải biên cương. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng, Nhà nước tiếp tục ưu tiên phát triển kinh tế, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào vùng biên cương, vùng sâu, vùng xa.
BÀN LUẬN



LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ ĐÚNG ĐẮN 

Con đường phát triển của dân tộc ta chỉ có thể là con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn vì:
1- Kinh nghiệm lịch sử thế kỷ 20 đã chỉ ra rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và phát triển đất nước-hội nhập quốc tế duy nhất đúng đắn của nhân dân Việt Nam.
Còn nhớ trong thế kỷ 19 và 20, lực lượng chính trị cực hữu ở các quốc gia phát triển đương thời, trong đó có Pháp, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã đến Việt Nam dưới khẩu hiệu “khai hóa”, nhưng thực chất đó là những cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo. Khi đánh bại lực lượng phong kiến Việt Nam, thực dân Pháp áp đặt chế độ thuộc địa, đồng thời duy trì chế độ phong kiến, đẳng cấp, bóc lột nhân dân Việt Nam đến tận xương tận tủy. Nạn đói khủng khiếp năm 1945 là một ví dụ. Chỉ tính từ tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc Bộ (với “đỉnh điểm” là tỉnh Thái Bình) nạn đói đã làm chết hơn 2 triệu người, chiếm gần 10% dân số Việt Nam khi đó. Theo con số ghi chép từ công trình nghiên cứu “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam-những chứng tích lịch sử” của GS Văn Tạo và GS Furuta Moto (Nhật Bản): “Nhiều làng xã chết từ 50% đến 80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai. Làng Sơn Thọ, xã Thái Thượng, huyện Thái Ninh (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người”[1]. Nối tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh mang tính hủy diệt đối với dân tộc Việt Nam; đồng thời sử dụng chủ nghĩa thực dân mới: Xây dựng chính quyền tay sai nhằm thống trị và chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Còn nhớ ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của chúng đã gây ra bao nhiêu vụ thảm sát. Không kể chế độ khắc nghiệt, tù nhân phải ăn gạo mục, cá ươn, muối hạt, nước mắm có dòi… nhiều tù nhân cốt cán phải nằm xà lim, chuồng cọp, thường xuyên bị tra tấn dã man… 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các dân tộc trên thế giới, bao gồm cả nhân dân tiến bộ Pháp, Mỹ… đánh bại chủ nghĩa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hơn 30 năm qua (từ năm 1986 đến nay) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đem lại những thành tựu có ý nghĩa thời đại. Từ một nước nghèo, trải qua hơn 30 năm chiến tranh, bị cấm vận, cho đến nay, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bình đẳng với nhiều nước lớn, trong đó có Nga, Trung Quốc (đối tác chiến lược toàn diện) và Hoa Kỳ (đối tác toàn diện). Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thập niên 30 của thế kỷ 20 đến nay chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Tư tưởng xuyên suốt và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, gắn liền độc lập dân tộc với chế độ xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh của Đảng năm 1930 xác định: Tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2].
Cương lĩnh năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đại hội lần thứ XII (năm 2016) của Đảng đã xác định mục tiêu của dân tộc Việt Nam là: Xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
2- Để tiến đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, con đường duy nhất của dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính tất yếu của con đường XHCN của dân tộc Việt Nam trước hết bắt nguồn từ lịch sử, từ sự lựa chọn của nhân dân. Ngày nay, trên thế giới có nhiều mô hình xã hội với nhiều chế độ xã hội khác nhau. Mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn mô hình nào đó đều dựa trên những điều kiện lịch sử của dân tộc mình, đồng thời tùy theo thể chế xã hội và do đảng chính trị cầm quyền lãnh đạo thực hiện. Không ít nhà nước trên thế giới ngày nay là nhà nước “cộng hòa”, “cộng hòa dân chủ nhân dân"; “cộng hòa nhân dân”; “cộng hòa-tổng thống"; "cộng hòa đại nghị"; nhà nước tôn giáo (Vatican). Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và luật pháp các quốc gia đều tôn trọng sự lựa chọn chế độ xã hội và nhà nước của các dân tộc. Một số người lợi dụng internet, mạng xã hội tán phát quan điểm xuyên tạc, phủ nhận xã hội XHCN nói chung, phủ nhận con đường XHCN của dân tộc Việt Nam là vô căn cứ. Họ chỉ dựa vào tên gọi, hoặc tư tưởng chính trị theo quan điểm giáo điều hoặc những mặt tiêu cực nào đó của xã hội để đánh giá nước này là “văn minh”, nước kia là “lạc hậu”. Đó chỉ là những thủ đoạn chính trị cổ hủ, vô căn cứ. Tư tưởng về cách mạng xã hội tiến đến chủ nghĩa cộng sản, trong đó “sự tự do phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản) do Mác và Ăngghen sáng tạo trước khi có cách mạng XHCN. Lênin và Đảng Cộng sản Nga (sau đó là Đảng Cộng sản Liên Xô) đã vận dụng, phát triển lý luận đó, lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười đưa đến sự ra đời nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, đồng thời mở ra hệ thống XHCN, phá thế độc quyền của tư bản chủ nghĩa (TBCN) thế giới. Cho dù thế giới ngày nay đã có những thay đổi lớn lao nhưng không thể phủ nhận được những sự kiện lịch sử mang tính thời đại này. Ở Việt Nam, đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết này phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng. Cuộc Cách mạng Tháng Tám không phải là một cuộc cách mạng vô sản như ở nước Nga (năm 1917), mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo Chủ nghĩa Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói. Nhà nước mới, sau cách mạng cũng không phải theo mô hình nhà nước Xô-viết, mà là nhà nước “dân chủ, cộng hòa” do nhân dân làm chủ, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hướng tới xã hội XHCN.
Chế độ xã hội ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay đã trải qua hai mô hình xã hội với những thể chế và chính sách khác nhau. Mô hình trước đổi mới (1976-1986) là “Chế độ làm chủ tập thể XHCN”[3]. Về chính trị, đó là chế độ xã hội dựa trên nhà nước, thực sự của dân, do dân, vì dân… dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về kinh tế, đó là chủ trương “xóa bỏ chế độ sở hữu TBCN… xác lập chế độ sở hữu XHCN dưới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể” bằng những phương pháp và bước đi thích hợp. Mô hình xã hội XHCN trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) là sự phát triển sáng tạo chế độ xã hội XHCN, đồng thời khắc phục những sai lầm nhận thức về CNXH. Mô hình đó, về chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Về kinh tế, đó là kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Về quan hệ quốc tế, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách rộng mở, không phân biệt chế độ xã hội, hệ tư tưởng.
Cần phải khẳng định, Việt Nam đi theo con đường XHCN là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay. Chế độ dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN của dân tộc Việt Nam ngày nay là sự kế thừa và phát triển lịch sử dân tộc. Về mặt lý luận, chế độ Việt Nam nằm trong hình thái quá độ từ CNTB lên CNXH, mở đầu từ sự ra đời của Nhà nước Xô-viết. Sự ra đời của hệ thống XHCN và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc (từ thập niên 1960) đã xác nhận tính chất đúng đắn của lý luận đó. Còn nhớ, sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, hàng trăm quốc gia, dân tộc, nơi các đảng chính trị theo chủ nghĩa yêu nước, Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có nhiều đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân lao động đứng lên lật đổ chế độ thuộc địa, giành được độc lập dân tộc, trong đó có nhân dân Việt Nam. Do nhiều nhân tố, trong đó có tác động của hệ thống XHCN, ở các nước TBCN đã hình thành phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, tạo ra sự biến đổi những cơ chế, chính sách ít nhiều dung hòa lợi ích giữa giới chủ với người lao động. Điển hình cho phong trào này là kết quả đạt được giữa giới chủ với các tổ chức công đoàn ở các nước Bắc Âu, do các đảng dân chủ XHCN (còn gọi là các đảng xã hội dân chủ) lãnh đạo.
Thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay khác với thể chế “Nhà nước chuyên chính vô sản” (trong thời kỳ trước đổi mới), đó là Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Hiến pháp năm 2013 thể hiện toàn diện những bước phát triển về tư tưởng chính trị và pháp lý của Nhà nước Việt Nam.
Về chế độ xã hội, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. (Điều 2).
Về vai trò và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày nay là rộng mở, không phân biệt chế độ xã hội, hệ tư tưởng, dựa trên các nguyên tắc-đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Tóm lại, đó là đường lối đối ngoại: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa…; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng).
Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên đã dành cả một chương để quy định về quyền con người trên tất cả các nhóm quyền, từ quyền dân sự, chính trị đến các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Những quy định này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc.
Đảng và Nhà nước Việt Nam không phủ nhận những mặt tiêu cực đang tồn tại trong xã hội. Đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam công khai hóa, đồng thời đang triển khai cuộc đấu tranh chống tham nhũng một cách có bài bản và quyết liệt. Các nghị quyết Đại hội XI, XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cho thấy rõ quyết tâm của toàn Đảng và toàn dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh này như thế nào. Trong những năm gần đây, không ít cán bộ có chức, có quyền ở cả cấp cao, lực lượng vũ trang đã bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.
Tại Hội nghị Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, chiều 27-4-2018 ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và “làm đến cùng”[4]. Gần đây, ngày 1-8-2018, trong buổi làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn lưu ý: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, lãng phí, phòng, chống tiêu cực, chúng ta thường nói nhiều đến công tác cán bộ… “nhưng điều cốt yếu là gì? Đó là sự kiên định đi lên CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Lịch sử thế kỷ 20 cho thấy: Không có lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có Cương lĩnh xác định mục tiêu là giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; không có lực lượng chính trị nào có lý luận cách mạng khoa học sáng tạo, có đường lối, chính sách phù hợp với xu thế của thời đại; có hệ thống tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện và sẵn sàng hy sinh như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy có thể nói, sự phát triển của dân tộc Việt Nam chỉ có thể là đi theo con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
TRUNG LẬP



GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM KẾT HỢP CHẶT CHẼ
GIỮA “XÂY” VÀ “CHỐNG” TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG,
CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”
Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động.
Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân. Để bảo đảm được tính thống nhất này, liên quan đến các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương theo phân cấp quản lý cần cung cấp thông tin kịp thời để định hướng xử lý, đề xuất phương án chỉ đạo và thực hiện một cách chủ động và khoa học. Cơ chế thực hiện công tác thông tin về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm cần được xây dựng thành văn bản, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân.
Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.
Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm. Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội.
Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện công tác định hướng thông tin tuyên truyền các cấp cần được tham gia ngay từ khâu hoạch định chính sách, dự án đến quá trình triển khai thực hiện. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên internet hiện nay.
Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.
Cần nắm vững quyền chủ động trong công tác định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, cụ thể là: 1) Chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; việc lựa chọn chủ đề cần tăng tính tương tác, tạo sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích, thông tin một cách sinh động, cụ thể, gắn với cuộc sống, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt chuẩn xác theo kiểu “mỗi cái chìa chỉ mở được một cái ổ khóa”. 2) Nắm vững quy luật truyền tải thông tin. Internet có quy luật riêng, chỉ khi nắm chắc quy luật, nghiên cứu chắc tâm lý của cư dân mạng, thích ứng với các kỹ thuật mới, ứng dụng mới trong vận dụng quy luật truyền tải trên mạng, thì công tác định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng mới có kết quả. Việc truyền tải thông tin tuyên truyền dẫn dắt dư luận trên mạng không chỉ cần coi trọng nguồn gốc thông tin, mà còn phải coi trọng việc dẫn dắt và bảo vệ quá trình truyền tải, lưu thông thông tin. 3) Sự thống nhất thông tin trong truyền thông không phải là sự chắp nối đơn giản, mà là sự sắp xếp thống nhất trong hệ thống, giữa thông tin phản ánh trên báo chí, truyền hình và thông tin trên báo chí điện tử, trang tin điện tử... tạo thành chuỗi dòng chảy thông tin tích cực, lan tỏa nhanh trong cộng đồng, góp phần định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ./.
TRUNG LẬP


VẠCH TRẦN VÀ PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LUẬT AN NINH MẠNG


        Trong những ngày gần đây, trước, trong và sau khi Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng và việc công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật này, dư luận trong nước và ngoài nước đều hết sức quan tâm. Thế nhưng, núp dưới chiêu trò “tự do ngôn luận” những kẻ cơ hội và các thế lực thù địch ở trong nước, ở nước ngoài có những thủ đoạn xuyên tạc Luật An ninh mạng nhằm mục đích gây hỗn loạn thông tin, tạo ra sự ngờ vực và dư luận xấu trong xã hội.Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với luận điệu xuyên tạc Luật An ninh mạng hiện nay là rất cấp bách.
        Một số kẻ cơ hội và các thế lực thù địch ở trong nước, nước ngoài cho rằng những nội dung Luật an ninh mạng là hết sức mơ hồ, không có quốc gia nào có luật này. 
        Điều này thực sự không đúng và sai sự thật. “An ninh là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu đe dọa sự tồn tại, phát triển bình thường của cá nhân, của tổ chức, của từng lĩnh vực hoặc của toàn xã hội… Duy trì an ninh toàn diện là điều kiện để phát triển toàn diện”. Tại Điều 2, khoản 1 của Luật An ninh mạng khẳng định: “An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Như vậy, về mặt thuật ngữ - an ninh mạng - về nội hàm của nó đã chỉ ra tính tất yếu phải ban hành và thực hiện luật này.
        Việc họ cho rằng “không có quốc gia nào có luật này”! Đây lại là một sự bịa đặt nữa dựa trên sự đánh tráo khái niệm. Đến nay, 138 quốc gia đã có luật An ninh mạng bao gồm cả luật chuyên đề và các quy định pháp quy nằm rải rác ở các luật khác và không ít các luật đó còn gắt gao hơn nhiều so với Việt Nam. Ngày 07-12-2015, các nghị sĩ và các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã đạt thỏa thuận về Luật An ninh mạng đầu tiên áp dụng cho toàn khối: “Theo luật trên, các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng như: Google và Amazon sẽ phải báo cáo mọi vi phạm có tính chất nghiêm trọng cho các cơ quan chức năng quốc gia nếu không sẽ bị phạt. Luật mới mang tên “Chỉ dẫn an ninh mạng và thông tin”, đặt ra những quy định nghiêm ngặt về an ninh và trình báo bắt buộc đối với các công ty hoạt động trong những lĩnh vực trọng yếu, như: Giao thông, năng lượng, y tế và tài chính. Các công ty hoạt động trên mạng như: Google, Amazon, eBay và Cisco sẽ phải trình báo những vi phạm nghiêm trọng với cơ quan chức năng quốc gia nếu không sẽ phải chịu những biện pháp xử phạt từ các cơ quan này”.
         Tại Đức, Bộ Tư pháp rất xem trọng việc an ninh mạng. Họ ra chỉ thị rõ ràng cho Facebook nếu quản lý không tốt để người dân kích động bạo lực, chửi bới trên mạng, xuyên tạc sẽ bị phạt thẳng tay từ những người quản lý Facebook đến những người phát biểu phát biểu. Đạo luật Netzwerkdurchsetzungsgesetz (NetzDG) được thông qua giữa năm ngoái nhưng chính thức có hiệu lực vào 1-1-2018 vừa qua sau 2 tháng gia hạn để các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội phát triển các công cụ ngăn chặn phát ngôn kích động thù hận.
        Hay tại Hàn Quốc, nếu ai dùng mạng xã hội để tung ra những lời xúc phạm một “thần tượng” nào đó thì người sẽ sớm nhận được đơn kiện từ công ty chủ quản của nhân vật nổi tiếng ấy. Như vậy, luận điểm cho rằng, “những nội dung Luật An ninh mạng là hết sức mơ hồ và không có quốc gia nào có luật này” là sự bịa đặt, hoàn toàn trái với những gì trên thực tế.
         Vấn đề đặt ra trong tình hình hiện nay là, cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, đập tan tư tưởng phản động kích động, gây rối từ những luận điệu sai sự thật, phản động về luật an ninh mạng. Trước hết chúng ta cần tiếp tục giải thích, tuyên truyền làm rõ những nội dung trong Luật an ninh mạng để các tầng lớp nhân dân hiểu, nắm được và mỗi người dân nâng cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Kiên quyết đập tan những luận điệu hòng kích động, gây rối của một số phần tử cực đoan, lợi dụng dân chủ để chống phá những chủ trương, chính sách tốt đẹp của Đảng, nhà nước ta, trong đó có Luật an ninh mạng.
                                                                                                          
                                                                                                                                     ĐỨC BÁCH




Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018




NHẬN DIỆN PHÁP LUÂN CÔNG VỚI DANH NGHĨA 
MỘT PHƯƠNG PHÁP LUYỆN KHÍ CÔNG

- “Khí công” có thể hiểu là một tiến trình hít thở không khí kết hợp với cử động của các bộ phận cơ thể, để gia tăng nguồn sinh lực của thể chất lẫn tinh thần trong con người. Trong đó, “dưỡng khí” (oxy) được hấp thụ qua không khí, và “thán khí” (Cacbonic) được loại trừ ra ngoài cơ thể. Đây là hai yếu tố chính yếu trong việc gia tăng nguồn sinh lực cơ thể.
- Một số điểm đáng lưu ý trong Pháp luân công
Trong tài liệu hướng dẫn luyện Pháp luân công (Viên mãn đại pháp), giới thiệu năm bài công pháp, đơn giản dễ học gồm:  Phật Triển Thiên Thủ pháp; Pháp Luân Trang pháp; Quán Thông Lưỡng Cực pháp; Pháp Luân Chu Thiên pháp; Thần Thông Gia Trì pháp.Yêu cầu thời gian không cố định nhưng hàng ngày phải luyện và thời gian luyện tập khoảng 1-2 giờ, trong đó có luyện động tác và đọc sách (Viên mãn đại pháp). Nghiêm cấm các đệ tử Đại Pháp luyện tập lẫn công pháp khác; trong khi luyện công mà mang theo ý niệm hay hoạt động tư tưởng của công pháp khác hoặc lĩnh vực khác là Pháp Luân sẽ biến hình, mất hiệu quả. Người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp phải đồng tu cả tâm tính và động tác; phải coi việc học Pháp đọc sách là khóa tu cần làm hàng ngày; phải luôn giữ tâm niệm bản thân đang tu luyện Pháp luân công. Tác dụng của luyện tập Pháp luân công (theo Lý Hồng Chí): “Tức khắc đánh thông các chỗ năng lượng bị ứ tắc trên thân của người tu luyện, hấp thụ một lượng lớn năng lượng vũ trụ, trong một thời gian cực ngắn bài trừ vật chất phế thải trong thân thể, tịnh hóa thân thể, đề cao tầng, gia trì thần thông, tiến nhập vào trạng thái tịnh bạch thể”. “Thông qua luyện công mà cải biến bản thể; bản thể không mất; chủ ý thức và nhục thể hợp nhất, đạt đến toàn bộ chỉnh thể đều tu thành. Tu mệnh là từ căn bản mà cải biến thành phần phân tử của con người, lấy vật chất cao năng lượng thay thế cho thành phần tế bào, tạo thành thân thể cấu thành từ vật chất của không gian khác; cá nhân ấy sẽ thanh xuân mãi mãi, xử lý từ gốc rễ vấn đề…”.
- Kết quả tu luyện: Một số thông tin của cá nhân lan truyền trên các trang mạng về sự thần kỳ, chữa khỏi bệnh tật (kể cả ung thư) sau khi luyện tập một thời gian. Đối tượng thông tin, nhiều người tự nhận là giáo sư, nhà khoa học, bác sĩ, sĩ quan công an, quân đội…. tuy nhiên đều không được kiểm chứng. Chưa có ai tuyên bố luyện tập đến viên mãn. Một số người đã chết do luyện tập Pháp luân công nên từ chối dùng thuốc khi mắc bệnh.