Qua chiến đấu và chiến thắng,
Đảng ta, cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam yêu nước được rèn luyện về nhiều
mặt, càng nhận thức được đúng đắn hơn con đường đi tới tương lai, biết kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại...
Trong khi Đại hội lần thứ XII
của Đảng thành công rực rỡ với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi
mới” thì trên trang điện tử BBC tiếng Việt lại có bài viết lạc lõng: “Đại hội
Đảng và tính chính danh cầm quyền”. Tác giả bài viết cho rằng “Đảng Cộng sản
Việt Nam đã tự phong cho mình quyền lãnh đạo đất nước?”. Thực tế có phải như
vậy không, hay đây lại là một hành vi “rắc cát vào động cơ” đang thúc đẩy bánh
xe lịch sử đưa dân tộc tiến lên phía trước.
Một tất yếu
khách quan
Trong thời đại
ngày nay, đảng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã trở thành hiện tượng
phổ biến khắp toàn cầu. Ngay cả một số quốc gia còn tồn tại chế độ quân
chủ-vương quyền thì quyền lực nhà vua chỉ còn là tượng trưng, các đảng chính
trị mới thực sự là nhân tố lãnh đạo chính quyền, giữ vị trí quyết định đường
hướng phát triển của đất nước. Đây là giá trị mang tính phổ quát của nhân loại
và được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, đưa vào hiến pháp của
quốc gia mình. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, Điều 21 của Hiến pháp nước này quy
định: “Các đảng chính trị tham gia vào việc hình thành ý thức chính trị của
nhân dân”. Như vậy, việc một đảng chính trị xây dựng đường lối và tổ chức thực
thi công việc lãnh đạo chính quyền là một tất yếu khách quan. Nhà nước là cơ
quan đại diện quyền lực của nhân dân. Đảng nào giành được sự tín nhiệm của số
đông dân chúng, đảng ấy trở thành đảng cầm quyền. Đây cũng là quyền tự quyết
của mỗi dân tộc, không thể đem giá trị của dân tộc này áp đặt lên một dân tộc
khác.
Vấn đề tiếp theo
cần bàn là số lượng đảng chính trị ở mỗi quốc gia. Thực tế lịch sử các nước
trên thế giới cho đến nay cho thấy, vấn đề số lượng đảng chính trị không nói
lên chất lượng dân chủ, không là thước đo đánh giá trình độ dân chủ của quốc
gia đó. Theo một tài liệu thống kê năm 2003 được công bố ở nước Anh trong sách
“Species of Political Parties: A New Typology”, trên thế giới có hàng chục quốc
gia theo mô hình có nhiều đảng tham chính thì cũng có hàng chục quốc gia theo
mô hình chỉ một đảng tham chính. Rất nhiều quốc gia châu Âu, châu Á, châu Phi,
châu Mỹ la-tinh phát triển đất nước không theo mô hình xã hội chủ nghĩa cũng
chỉ có một đảng chính trị duy nhất lãnh đạo như Ả-rập Xê-út, Ba-ren, Bê-nanh,
Găm-bi-a, Gha-na, Ha-i-ti, Bô-xni-a Héc-dê-gô-ni-a, Mô-na-cô, Tát-gi-ki-xtan…
Riêng với các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa, có nước một đảng, có nước có
nhiều đảng chính trị, do sự lựa chọn của nhân dân nước đó quy định và được ghi
vào hiến pháp. Như ở Trung Quốc, có 8 đảng chính trị nhưng cả 8 đảng đều thừa
nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo chính quyền. Ở các nước
tư bản phát triển, nhiều nước theo mô hình đa đảng nhưng quyền lãnh đạo Nhà
nước cũng thường chỉ dồn vào một hoặc hai đảng. Như nước Mỹ, có tới 112 đảng
chính trị đăng ký hoạt động nhưng suốt lịch sử mấy trăm năm của nước này chỉ có
hai đảng Cộng hòa và Dân chủ thay nhau cầm quyền. Ở Xin-ga-po cũng có nhiều
đảng, nhưng chỉ có Đảng Nhân dân hành động cầm quyền. Rõ ràng, một đảng hay
nhiều đảng lãnh đạo nhà nước là quyền lựa chọn của nhân dân mỗi nước.
Đối với Việt
Nam, vào thời điểm đầu năm 1930 vẫn là một xứ thuộc địa của Pháp. Các cuộc khai
thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương đã thúc đẩy quá trình phân hóa xã hội thêm
gay gắt. Sau giai cấp công nhân, giai cấp tư sản cũng ra đời, là một giai cấp
nhỏ yếu, chủ yếu là những nhà buôn cung cấp dịch vụ cho giới chủ của “chính
quốc” Pháp và do đó hầu hết lệ thuộc chính trị vào các ông chủ. Giai cấp tư sản
dân tộc ở Việt Nam mà đại diện là Việt Nam Quốc dân đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái
Học đứng đầu đã tham gia phong trào yêu nước nhưng thiếu đường lối đúng đắn,
thiếu lòng tin vào sức mạnh của nhân dân, đã phiêu lưu khởi nghĩa giành chính
quyền thông qua cuộc khởi nghĩa Yên Bái ngày 10-2-1930 với phương châm “không
thành công thì cũng thành nhân”. Kết quả của sự phiêu lưu đó là cuộc khởi nghĩa
Yên Bái bị thực dân Pháp dìm trong bể máu, khiến tình thế dân tộc “đen tối như
không có đường ra”. Không một đảng phái chính trị nào còn tồn tại dưới sự
“khủng bố trắng” của thực dân Pháp.
Giữa lúc đó thì
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đường lối của Đảng chỉ rõ mâu thuẫn chủ yếu của
dân tộc, vạch rõ đối tượng và lực lượng cách mạng, chủ trương con đường “làm tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đường
lối đúng đắn đó ngay lập tức chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước.
Năm 1945, chỉ với khoảng 5.000 đảng viên nhưng Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân
đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám, một cuộc cách mạng “long trời lở đất”, đưa
Việt Nam từ xứ thuộc địa trở thành nước độc lập. Ở thời điểm đó, nhân dân ta
chỉ thừa nhận duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng lãnh đạo; nhưng do tình
thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, nhân dân ta đã chấp nhận cho hai đảng
chính trị phản động tồn tại là Việt Quốc và Việt Cách. Khi quân Tưởng rút khỏi
Việt Nam, cả hai đảng này đã bám gót quan thầy, bỏ chạy khỏi đất nước mình, tự
động bỏ lại cả 70 ghế trong Quốc hội mà nhân dân ta đã “nhượng” cho họ không
qua bầu cử. Sau ngày 30-4-1975, ở nước ta vẫn tồn tại 3 đảng chính trị, ngoài Đảng
Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Hai
đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, sau đó đã tuyên bố tự giải
tán.
Điểm lại đôi
nét về lịch sử các đảng chính trị tại Việt Nam như vậy để thấy rằng, việc Đảng
ta trở thành đảng chính trị duy nhất ở Việt Nam là một quá trình lịch sử tự
nhiên, hoàn toàn khách quan, do nhân dân tin tưởng và giao phó trọng trách. Ở
bất kỳ thời kỳ lịch sử nào, Đảng cũng luôn khẳng định mình là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, của nhân dân và của cả dân tộc Việt Nam. Thành công
không thể phủ nhận của cách mạng Việt Nam trong 86 năm qua, chính là thành công
trong công tác tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng giàu bản
lĩnh, trí tuệ
Được nhân dân
và lịch sử dân tộc chọn lựa trở thành Đảng lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
chứng tỏ bản lĩnh, tài năng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Đặc biệt,
càng trải qua những cơn bão táp hay những thử thách ngặt nghèo của lịch sử,
Đảng càng tỏ rõ bản lĩnh và trí tuệ, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên.
Sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng còn trong trứng nước, lâm vào tình
thế “nghìn cân treo sợi tóc”, phải đương đầu ngay với một liên minh phản động
quốc tế: Ở phía Bắc có 20 vạn quân Tưởng, ở phía Nam có quân Anh, Pháp cùng với
hàng chục nghìn hàng binh phát xít Nhật. Đặc biệt nguy hiểm là mưu đồ “diệt
Cộng, cầm Hồ” của Tưởng Giới Thạch. Trong tình thế hiểm nghèo đó, bản lĩnh và trí
tuệ của Đảng được thể hiện qua những sách lược quan trọng, thực hiện “hòa để
tiến” nhằm phân hóa kẻ thù, thực hiện “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, sẵn sàng
chấp nhận cả việc tuyên bố giải tán Đảng, đưa Đảng trở lại hoạt động bí mật
nhằm tranh thủ mọi cơ hội, biến thời gian thành lực lượng, đưa cách mạng vượt
qua bão tố.
Từ tháng 9-1945
đến tháng 4-1975, Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, 30 năm trời ròng rã, phải chịu nhiều tổn thất, hy sinh to lớn.
Sau đó, chúng ta còn phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, kết hợp
với việc cứu giúp nước bạn Cam-pu-chia trước nguy cơ bị diệt chủng, trong nhiều
tình huống không thể lường trước. Đặc biệt, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và
các nước Đông Âu bị sụp đổ, cơn bão táp của thoái trào chính trị trên thế giới
tưởng như sẽ cuốn phăng các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Nhưng bằng
sức mạnh nội sinh của một dân tộc khát khao hòa bình, độc lập và CNXH, Đảng đã
đồng hành cùng nhân dân, cùng đất nước bước qua khủng hoảng bằng công cuộc đổi
mới với những tư duy sáng suốt nhưng vẫn trên tinh thần kiên định Chủ nghĩa Mác
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí
Minh, sự vận dụng sáng tạo lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn
cách mạng ở nước ta càng đi vào cuộc sống, càng được chứng minh là rất đúng
đắn. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã "mang sức ta mà giải phóng
cho ta", vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các nước đế quốc. Việt Nam
đã trở thành một quốc gia độc lập thống nhất, có đầy đủ chủ quyền, có quan hệ
quốc tế rộng rãi và là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả các
cường quốc trên thế giới; thu nhập bình quân đầu người đã đạt mức trung bình;
đất nước có lực lượng vũ trang đủ mạnh và trung thành với lý tưởng của Đảng, có
nền văn hóa, khoa học công nghệ đang trên đà phát triển, luôn tích cực và chủ
động giải quyết các vấn đề đối nội, đối ngoại, có vị thế ngày càng quan trọng,
sánh vai cùng với các nước năm châu.
Qua chiến đấu
và chiến thắng, Đảng ta, cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam yêu nước được rèn
luyện về nhiều mặt, càng nhận thức được đúng đắn hơn con đường đi tới tương
lai, biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xử lý các vấn đề sao
cho “trong ấm, ngoài êm”, biết “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, “bảo vệ Tổ
quốc từ xa”. Tại Đại hội XII của Đảng, trong bài phát biểu giới thiệu những nội
dung cốt lõi của Văn kiện trình Đại hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn
mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, vận dụng sáng tạo, phát triển Chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo chính
xác và kịp thời có chủ trương, chính sách xử lý hiệu quả những vấn đề mới nảy
sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi
mới và phát triển ở nước ta”. Đó không chỉ là sự khẳng định ý chí kiên định của
Đảng ta, nhân dân ta và dân tộc ta, mà còn là lời khẳng định sự lớn mạnh,
trưởng thành của Đảng ta, một Đảng giàu bản lĩnh và trí tuệ đang quyết tâm và
tự tin đưa dân tộc vững bước trên con đường đã chọn.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét