Thứ Ba, 22 tháng 10, 2024

 

VÌ SAO VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ?

Hoa Sung

“Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự có thể tổ chức thành khối quân sự hoặc chỉ là đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược”([1]). Trong lịch sử quân sự và chiến tranh của nhân loại vấn đề liên minh quân sự là một hiện tượng khá phổ biến giữa các quốc gia, có thể là liên minh nhất thời trong những giai đoạn ngắn hoặc liên minh lâu dài.  Một liên minh quân sự nhất thời hay lâu dài phụ thuộc vào cục diện quan hệ quốc tế hiện hành và mục đích, tính toán cụ thể của mỗi quốc gia tham gia liên minh quân sự đó.

Liên minh quân sự có thể mang tính tích cực nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm lược nhưng cũng có thể dùng liên minh quân sự để xâm lược, nô dịch quốc gia khác. Vấn đề trên phụ thuộc vào bản chất của các chủ thể, lực lượng tham gia của các thành viên trong từng tổ chức liên minh quân sự cụ thể. Trong điều kiện ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh thế giới và khu vực, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự là một chính sách đúng đắn, sáng suốt và phù hợp điều đó xuất phát từ một số lý do cơ bản:

Thứ nhất, liên minh quân sự luôn bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Tính hai mặt của liên minh quân sự luôn đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, gây nguy hại đến mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và an ninh của các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới. Về mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược chiến tranh hay chiến dịch quân sự cả trong tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh. Về mặt tiêu cực, liên minh quân sự trực tiếp khiến căng thẳng gia tăng, làm xuất hiện tình trạng đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước, các khối quân sự vốn có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia một liên minh có thể bị một nước thứ ba coi đó là hành động thù địch gây hệ quả rất khó lường. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc các nước, các khối quân sự công khai hoặc ngầm gia tăng tiềm lực, thực lực, chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích, tạo cớ; kéo quốc gia, khu vực và cả nhân loại đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, nếu tham gia liên minh quân sự có thể dẫn đến nguy cơ bị tấn công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Đặc biệt, khi tham gia liên minh, các nước tuy nằm trong một khối quân sự chung nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của nước lớn, có tiềm lực mạnh trong liên minh và phải tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, kể cả khi nguyên tắc ấy không phù hợp với lợi ích quốc gia mình. Khi tham gia liên minh quân sự mỗi thành viên, nhất là các nước nhỏ yếu sẽ không còn sự độc lập, tự chủ về những vấn đề cơ bản của quốc gia mà dễ trở thành “con tốt trên bàn cờ” để các nước lớn, các tập đoàn quân sự hùng mạnh thỏa hiệp với nhau, thực thi chính sách lôi kéo, ép buộc, khống chế. Mặt khác, trong thực tế cho thấy không có nước nào chấp nhận hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của nước khác, kể cả nước đó là đồng minh chiến lược của mình. Những cuộc xung đột, leo thang quân sự ở nhiều nơi trên thế giới diễn ra trong những năm qua đều có nguyên nhân xuất phát từ việc chính phủ và người dân ở những nơi này không đề cao nguyên tắc độc lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, mà lại trông chờ sự cứu giúp của các lực lượng bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là hàng loạt toan tính, mưu đồ, tham vọng về lợi ích, quyền lực của các cường quốc. Theo đó, hòa bình, ổn định chưa thấy mà hậu quả là sự chia cắt, bất ổn, nội chiến, “nồi da nấu thịt”,... hiện hữu, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Bài học từ xung đột vũ trang giữa Nga và Ucraina đang diễn ra chưa kết thúc cho thấy rõ có nguyên nhân cơ bản là chính phủ Ucraina mong muốn ra nhập tổ chức quân sự NaTo theo Mỹ và phương Tây để bảo vệ đất nước, điều này gây bất lợi cho Nga.

Thứ hai, Việt Nam không liên minh quân sự nhưng mở rộng đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc phòng góp phần tăng khả năng bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, đối ngoại quốc phòng đang ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, hướng tới mục tiêu thiết lập và mở rộng quan hệ, hợp tác về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, cùng có lợi, không phân biệt sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển. Theo đó, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác về quốc phòng dưới bất kỳ điều luật, áp đặt hoặc sức ép nào mà luôn nhận thức rõ, hợp tác quốc phòng là một trong những cơ sở quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định khu vực và thế giới; là yếu tố căn bản để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đối ngoại quốc phòng đã và đang đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược với nhiều quốc gia trên thế giới. Thông qua đối ngoại quốc phòng, bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc Việt Nam; về tính chất quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam cùng truyền thống, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trên tinh thần đó, Việt Nam chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ quốc phòng với nhiều quốc gia, tổ chức trong khu vực và trên thế giới, tham gia ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động hợp tác quốc phòng song phương và đa phương. Hiện nay, hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng được Việt Nam triển khai dưới nhiều hình thức, như: trao đổi đoàn quân sự; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; tham vấn - đối thoại quốc phòng; hợp tác huấn luyện, đào tạo; giải quyết các vấn đề nhân đạo; tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế,...; việc tăng cường trao đổi, giao lưu sĩ quan trẻ, hợp tác giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu với các nước cũng luôn được coi trọng; qua đó, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Về cơ bản, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với các đối tác chủ chốt; trong đó, Cuba, Lào, Campuchia là quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện; Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc là quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện; 13 nước có quan hệ đối tác chiến lược; 13 nước có quan hệ đối tác hợp tác toàn diện; Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (EHO) là quan hệ hợp tác. Ngoài ra, có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam và 20 nước kiêm nhiệm, Việt Nam cũng đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu. Những kết quả trên của đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã góp phần quan trọng để Việt Nam vừa trao đổi học tập kinh nghiệm trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng vừa tạo ra môi trường hòa bình, thân thiện với các nước trong khu vực và thế giới, nâng cao sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ ba, Việt Nam bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại chứ không dựa vào sức mạnh từ liên minh quân sự. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí. Đó chính là việc quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, xây dựng “thế trận lòng dân”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Phát huy sức mạnh chính nghĩa thống nhất với bản chất tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và lòng nhân ái, khoan dung của người Việt Nam được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn ấy còn khẳng định một chân lý: Khi nào kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, “cả nước chung sức”, “trên dưới đồng lòng”, “anh em hòa mục” thì chủ quyền đất nước được giữ vững và ngược lại. Trong tiến trình cách mạng của dân tộc, có lúc chúng ta phố hợp tác chiến với Lào, Cămpuchia để đánh bại kẻ thù chung và xem đây là một trong những phương thức để bảo vệ Tổ quốc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, chúng ta cần tiếp tục “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.([2]). Quán triệt và vận dụng đúng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định về nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc; thực hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đây không những là bài học kinh nghiệm quý báu, mà còn là yếu tố căn bản, cội nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí.

Thứ tư, không tham gia liên minh quân sự bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng đó là: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”([3]). Đó là sự kế thừa những truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của lịch sử dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam.  Kiên trì đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Một mặt, chúng ta lên án, phản đối các hành động gây hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang; mặt khác, chúng ta luôn chủ trương không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, giữ vững quan điểm, không để bị các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp với nhau xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác tiến hành phát động chiến tranh ủy nhiệm đối với Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ quốc tế; đồng thời, sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc nếu bị xâm phạm. Đây là vấn đề cốt lõi để xây dựng lòng tin, là cơ sở đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới, khẳng định rõ khát vọng và thiện chí cùng chung sống hòa bình, hợp tác, phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Từ những vấn đề trên đã trả lời rõ câu hỏi: Vì sao Việt Nam không tham gia liên minh quân sự?. Đồng thời mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phê phán rõ các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề Việt Nam không tham gia liên minh quân sự để xuyên tạc đường lối quốc phòng của Đảng, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc và đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trên thế giới hiện nay./.



([1]) Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 610.

([2]) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIINxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 155, 156

([3]) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 25

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG MỸ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

                                                                                                                               Hoa Súng

          Cuộc chiến tranh chính nghĩa của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đánh bại đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã kết thúc cách đây gần 50 năm rồi. Thắng lợi đó của cách mạng Việt Nam đã làm thất bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ trên chiến trường Việt Nam và Đông Dương. Tuy nhiên, hằng năm cứ đến gần ngày cả nước đẩy mạnh các hoạt động chào mừng ngày giair phóng hoàn toàn miền Nam 30/4 thì không ít các bài nói, bài viết trên các trang mạng của các lực lượng phản động, thù địch lại lợi dụng đưa ra các luận điệu xuyên tạc cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là cuộc “Nội chiến tương tàn” mà ở đó “miền Bắc xâm lược miền Nam”. Vậy bản chất của vấn đề này là như thế nào?

Thực chất đây là những thông tin sai trái, phản động đưa các tin bài với mục đích đánh lừa dư luận trong nước và quốc tế, phủ nguyên nhân gây ra chiến tranh phi nghĩa của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, gây chia rẽ, hận thù dân tộc trong nội bộ đất nước ta.

          Tiếp cận nghiên cứu về lịch sử cho thấy: Nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam là từ bản chất phản động, âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ chứ không phải là từ sự xâm lược của miền Bắc đối với miền Nam như chúng thường rêu rao. Bởi vì, sau khi kết thúc Đại chiến thế giới II (1945) Mỹ đã có bước phát triển mạnh, song phong trào độc lập dân tộc, cộng sản thế giới cũng phát triển mạnh. Ở châu Á: Cách mạng của Việt Nam (1945) và cách mạng Trung Quốc (1949) thành công tiếp tục lan tỏa đến các nước trong khu vực. Trước tình hình đó Mỹ đã xây dựng và thực hiện “Chiến lược ngăn chặn” để ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới nói chung và châu Á nói riêng. Ngày 30/12/1949 trong văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, xác định rõ: Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa sự ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương…Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ. Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, Mỹ ra sức viện trợ quân sự, “hà hơi” tiếp sức viện trợ tới 78% chi phí chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương. Sau khi thực dân Pháp thất bại ở chiến trường Việt Nam (1954), đế quốc Mỹ nhảy vào chiếm đóng miền Nam chia cắt lãnh thổ Việt Nam bằng cách dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm làm công cụ cho chiến lược thực dân của mình và đưa quân đội, vũ khí trangg bị vào thực hiện các chiến lược quân sự ở miền Nam Việt Nam. Như vậy, cội nguồn của nguyên nhân cuộc chiến tranh ở miền Nam là do đế quốc Mỹ với vai trò là chủ thể, chủ mưu, chính quyền phản động tay sai Việt Nam Cộng hòa trở thành công cụ phục vụ mục đích chính trị cho đế quốc Mỹ. Về phía Việt Nam, trước âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng cách mạng ở miền Nam không ngừng lớn mạnh, cùng quân dân miền Bắc đứng lên tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Qua đó cho thấy rằng thực chất không phải là miền Bắc xâm lược miền Nam mà các thế lực phản động với luận điệu rất tinh vi, xảo quyệt, lợi dụng không gian về địa lý để phủ nhận nguyên nhân của đề quốc Mỹ, đổ lỗi cho lực lượng cách mạng miền Bắc gây ra cuộc chiến tranh này hòng chia rẽ đoàn kết giữa hai miền Nam - Bắc./.

 


Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

 NỘI HÀM CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG 4 KHÔNG CỦA VIỆT NAM

 Nhân Trần      

Thứ nhất, không tham gia liên minh quân sự 

Việt Nam nhất quán “thêm bạn, bớt thù”. Khi tham gia liên minh quân sự, chúng ta sẽ phải gắn với một bên, phải san sẻ trách nhiệm tài chính, nhân lực; có thể phải nhân nhượng một số lợi ích, sẽ phải hy sinh một phần nhất định chủ quyền quốc gia, có thể phải đối đầu với bên khác, tức là “chuốc” thêm kẻ thù. Do đó, Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, lẽ phải, công lý, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Mặt khác, sau Chiến tranh Lạnh, các nước đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc, mỗi nước phải tự bảo vệ lợi ích quốc gia mình, không thể trông chờ và sẽ không có quốc gia nào bảo vệ lợi ích thay cho nước khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cố gắng duy trì quan hệ cân bằng giữa các nước lớn, đặc biệt trong bối cảnh diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực Biển Đông.

Thứ hai, không liên kết với nước này để chống nước kia

Việc thực hiện nguyên tắc “không liên kết với bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác” trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ. Nguyên tắc này giúp Việt Nam có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào các cơ chế đối thoại an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở khu vực. Tuy tham gia diễn tập với một số nước, nhưng Việt Nam không đi với đối tác này để chống lại nước thứ ba. Mỗi năm, Việt Nam đón hàng chục tàu chiến nước ngoài, thậm chí năm 2018 và năm 2020, Việt Nam đón tàu sân bay Mỹ vào thăm, nhưng không phải là Việt Nam dùng các chiến hạm nước ngoài để đối phó với các hành động đe dọa chủ quyền của mình ở Biển Đông.

Thứ ba, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác

Việt Nam khẳng định rõ ràng với thế giới là không chấp nhận cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba. Với quân cảng Cam Ranh, chúng ta xác định đây là căn cứ riêng của hải quân Việt Nam; đồng thời, Việt Nam đã cho xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để đáp ứng yêu cầu của không ít quốc gia muốn cho tàu chiến được ghé đậu quân cảng này. Như vậy, hoạt động của tàu chiến nước ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh không vi phạm nguyên tắc “không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác”. Đến nay, Việt Nam đã đón tiếp nhiều tàu hải quân nước ngoài, bao gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc…. đến thăm, ghé đậu tại cảng quốc tế Cam Ranh. Điều đó thể hiện sự kiên định về nguyên tắc và uyển chuyển trong cách thực hiện của Việt Nam. Việc vận dụng thực hiện các chính sách nói trên hoàn toàn tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thứ tư, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Việt Nam chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Việc bổ sung điểm này làm nổi bật bản chất phòng thủ và hòa bình trong chính sách quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực nâng cao năng lực quân sự của mình. Nguyên tắc không sử dụng vũ lực được đề cập từ lâu và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên tắc “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” được ghi nhận trong Điều 2, khoản 4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Điều 2, khoản 2, Hiến chương ASEAN. Do đó, Việt Nam chỉ nhắc lại một nguyên tắc đã được quốc tế thừa nhận rộng rãi, thể hiện chính sách quốc phòng Việt Nam tôn trọng nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp quốc; đồng thời, góp phần nhấn mạnh tính phi pháp của các hành vi gây hấn, đe dọa, cưỡng ép nước khác phải ngừng hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia. Nhắc lại nguyên tắc “không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”, Việt Nam muốn chuyển tải thông điệp: Mỗi quốc gia cần hành xử có trách nhiệm, tương xứng với trách nhiệm và vị thế quốc tế của mình. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng, không liên kết với nước này chống nước kia.

Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Điểm này tạo cho Việt Nam sự linh hoạt, chủ động ứng phó trong những tình huống phức tạp hoặc khi có yêu cầu cấp thiết bảo vệ Tổ quốc. Với tinh thần “Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”, Việt Nam có thể cân nhắc, tham gia một số hoạt động phối hợp bảo vệ chủ quyền vùng biển theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) trên các diễn đàn khu vực, quốc tế. Hiện nay quan hệ ngoại giao của Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam và quan hệ đối ngoại quốc phòng ngày càng rộng mở. Đặc biệt Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 8 quốc gia, quan hệ đối tác chiến lược với 10 quốc gia; quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Đây là thuận lợi chưa từng có, là cơ hội để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và quân đội trên trường quốc tế./.

 

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC

Nhân Trần      

 Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng, nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế - xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ba là, tích cực, chủ động quan hệ sâu rộng với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Tích cực, chủ động quan hệ sâu rộng với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên tinh thần Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần chú trọng hợp tác song phương với các đối tác, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực. Tiếp tục xây dựng lòng tin chiến lược với các nước, ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, liền kề, các nước lớn, các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo; tham gia tích cực, có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; nghiên cứu tham gia một số hoạt động diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác, như tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ thảm họa, xử lý bom mìn, chất độc hóa học. Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Trên tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa...; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước. Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc./.

 

THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI

Nhân Trần

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được biểu hiện thông qua các thành tựu cụ thể:

Về nhận thức: Từng bước thể chế hóa, cụ thể hóa nhận thức, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành luật pháp, chiến lược, sách lược, quy hoạch, kế hoạch để triển khai thực hiện trong thực tiễn: Luật Quốc phòng, Luật An ninh quốc gia, Luật An ninh mạng, Sách trắng Quốc phòng, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Nghị định về Đối ngoại quốc phòng; quy định, chỉ thị của Chính phủ về tổ chức thực hiện sự kết hợp giữa các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự ra đời của các văn bản pháp lý đã từng bước hoàn thiện về nhận thức và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi cả nước, từng ngành, từng địa phương.

Về đối nội: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chúng ta đã từng bước tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước; sức mạnh quân sự, quốc phòng không ngừng lớn mạnh; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố vững chắc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc; sớm nhận diện và kịp thời đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang.

Về đối ngoại: Với những quan điểm, chủ trương, đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng trên các phương diện, Đảng đã từng bước lãnh đạo đất nước phá thế bao vây cấm vận từ bên ngoài; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác; chuyển hóa tính chất, nâng cấp mối quan hệ với một số nước thành quan hệ đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; hình thành thế trận ngoại giao vững chắc, bao gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn với các nước trong khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; thiết lập quan hệ song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn; từng bước xây dựng được vị thế, uy tín của Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong các diễn đàn, các tổ chức quốc tế, khu vực. Với tư cách là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở một số ngành, địa phương vẫn còn hạn chế; hệ thống luật pháp về việc giải quyết mối quan hệ này chưa hoàn thiện, việc cụ thể hóa sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành các quy hoạch, kế hoạch, quy chế, cơ chế hoạt động có lúc chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ; sự phối hợp trong nghiên cứu, dự báo về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mặt chưa theo kịp diễn biến của tình hình./.

 

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI

Nhân Trần

Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”. Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”. Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”. Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

Tại Đại hội X (năm 2006), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có bước phát triển tương đối toàn diện; không dừng lại ở việc xây dựng quy chế phối hợp, kết hợp các hoạt động đó, Đảng còn chủ trương: “Bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các bộ, ngành có liên quan trong phân tích, dự báo tình hình và làm tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện”; đồng thời nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; xây dựng chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Cùng với việc chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cần phải mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 đã nhấn mạnh việc cần phải phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó “Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam”.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh” là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”, và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

Đại hội XIII chỉ rõ: Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XIII) ban hành nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác dịnh: Phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân./.

 

Ý NGHĨA LỊCH SỬ NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH KIỂM TRA ĐẢNG

(16/10/1948 -16/10/2024)

Mặt Trời

         Sau một thời gian chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đồng chí Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản đã đứng ra triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng nước ta. Từ 06 đến 08/01/1930 hội nghị diễn ra tại Hương Cảng - Trung Quốc. (Ngày 03/02/1930 là kỷ niệm sự kiện thành lập). Là một chính đảng tiền phong cách mạng, ngay từ khi mới thành lập cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là khi đã trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra và vấn đề giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng, luôn xác định: Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, muốn lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Điều lệ Đảng tháng 10/1930 đã ghi rõ: “Trách nhiệm của đảng viên và các đảng bộ là giữ theo kỷ luật của Đảng một cách rất nghiêm khắc”.

          Trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sự phát triển của tổ chức Đảng, công tác kiểm tra cần phải được tăng cường hơn, ngày 16/10/1948, tại Chiến khu Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Quyết nghị số 29-QN/TW về việc thành lập Ban Kiểm tra Trung ương đã xác định: “Trung ương quyết định thành lập Ban kiểm tra đi xuống các khu xét xem chủ trương của Đảng có được thi hành và có sát đúng không, đồng thời xem xét sự thi hành kỷ luật trong Đảng để thu thập kinh nghiệm giúp Trung ương bổ khuyết chính sách của Đảng”.

Lãnh đạo Ban Kiểm tra Trung ương đầu tiên gồm các đồng chí: Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Trung ương Đảng; đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ; đồng chí Hà Xuân Mỹ (tức Hà Minh Quốc) Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, do đồng chí Trần Đăng Ninh làm Trưởng ban. Ban Kiểm tra Trung ương làm việc tại đồi Pụ Miếu, xóm Phủng Hiển, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên ngày nay. Sau đó, các ban kiểm tra của khu ủy, liên khu ủy lần lượt được thành lập, như: Ban Kiểm tra Khu ủy Khu X thành lập tháng 10.1948, Ban Kiểm tra Liên Khu ủy Khu V thành lập tháng 4/1949, Ban Kiểm tra Khu ủy Khu I thành lập tháng 7/1949, Ban Kiểm tra Liên Khu ủy Việt Bắc thành lập tháng 12.1949.

          Sự ra đời của Ban Kiểm tra Trung ương - Cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng là một tất yếu khách quan, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là căn cứ để Thường vụ Bộ Chính trị khoá VIII đồng ý lấy ngày 16/10/1948 là Ngày truyền thống Ngành Kiểm tra của Đảng.

          Từ khi ra đời đến nay, cơ quan kiểm tra chuyên trách của Đảng đã nhiều lần được bổ sung, điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ, phát triển về tổ chức và đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Qua mỗi nhiệm kỳ đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra đã được bổ sung, sửa đổi và quy định trong Điều lệ Đảng. Từ nhiệm vụ phục vụ cấp uỷ kiểm tra việc thực hiện đường lối kháng chiến kiến quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xem xét tư cách và cách làm việc của cán bộ, đảng viên, xem xét những việc bất thường xảy ra, kiểm tra những vụ đảng viên làm trái Điều lệ, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, vi phạm đạo đức cách mạng của người đảng viên, giải quyết thư tố cáo và khiếu nại kỷ luật, kiểm tra tài chính của Đảng, đến kiểm tra việc thi hành kỷ luật của tổ chức đảng ở cấp dưới, kiểm tra thực hiện chỉ thị, nghị quyết (thường gọi là kiểm tra chấp hành); kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ủy ban kiểm tra các cấp đã được bổ sung nhiệm vụ “Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống... Riêng thẩm quyền xem xét kỷ luật của Ủy ban kiểm tra đã được quy định từ Điều lệ Đảng khóa III, theo đó, Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện ủy, quận uỷ, thị ủy trở lên có quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên, kể cả cán bộ thuộc diện cấp trên quản lý, nhưng không phải cấp ủy viên; quyền chuẩn y hoặc thay đổi hình thức kỷ luật trong việc giải quyết khiếu nại kỷ luật của đảng viên. Điều lệ Đảng từ khóa VIII đến nay, bổ sung quy định: Ủy ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra...

          Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, trong những năm qua, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp đã chủ động phối hợp với các tổ chức đảng có liên quan tham mưu và tổ chức thực hiện nhiều nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp uỷ giao, trong đó tham gia phục vụ nhiều cuộc vận động lớn, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của Đảng, như: thực hiện 3 chống (chống tham ô, lãng phí, quan liêu) ở ngành mậu dịch trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; thực hiện Nghị quyết 228-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa III về chống và bài trừ tệ lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tệ làm ăn phi pháp; thực hiện Chỉ thị 192-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa III về việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng; kiểm tra thực hiện “chế độ lãnh đạo có kiểm tra” theo Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư khóa V; thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VII về ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII...; thực hiện Chỉ thị 06-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; gần đây là thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21 tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua việc thực hiện các nhiệm vụ này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp đã phục vụ đắc lực, giúp các cấp ủy đảng trong mỗi đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình, góp phần giải quyết kịp thời các vụ việc bức xúc, nổi cộm, ban hành một số quy định để cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết.

         Suốt chặng đường lịch sử gần 80 năm qua, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban kiểm tra các cấp luôn bám sát nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng, tích cực và chủ động thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ do cấp ủy giao. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đã giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy đảng lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn cuộc sống; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc của cấp ủy; việc giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, phương pháp, tác phong công tác, lề lối sinh hoạt của cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giúp các cấp ủy đảng làm hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết toàn dân, toàn quân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.

          Từ ngày đầu thành lập, Ban Kiểm tra Trung ương chỉ có 3 thành viên chuyên trách và một số ít cán bộ giúp việc, đến nay Ngành Kiểm tra của Đảng đã có gần 2 vạn cán bộ chuyên trách và gần 8 vạn cán bộ kiểm tra kiêm chức các cấp. Cùng với việc kiện toàn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến cơ sở đảng, trong các giai đoạn của cách mạng, lúc chiến tranh hay khi đã hoà bình, trước diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế hay những khó khăn trong nước, kể cả những thời điểm thử thách, gay go, quyết liệt nhất, đội ngũ cán bộ kiểm tra luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, tin tưởng ở sự lãnh đạo và chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hầu hết có ý thức tổ chức kỷ luật và lối sống liêm khiết, lành mạnh; trung thực, đoàn kết, thương yêu đồng chí; luôn hết lòng, hết sức, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, bền bỉ, cần mẫn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiêu biểu là thế hệ cán bộ kiểm tra của những năm gian khổ, quyết liệt, hào hùng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong đó, nhiều đồng chí nay không còn nữa hoặc đã nghỉ hưu, nhưng công lao, kinh nghiệm, sự gương mẫu, tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức và ý chí phấn đấu của các đồng chí đã góp phần tạo nên truyền thống cao đẹp, là nguồn động viên, khích lệ mạnh mẽ các thế hệ cán bộ làm công tác kiểm tra về sau. Quá trình và công lao cống hiến cho cách mạng, nhiều tập thể và cá nhân trong Ngành đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, danh hiệu cao quý; Ngành Kiểm tra Đảng đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng nhân kỷ niệm 55 năm thành lập; Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng nhân kỷ niệm 60 năm thành lập. Các thế hệ cán bộ kiểm tra của Đảng đã xây đắp nên truyền thống “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, trung thực, liêm khiết, kỷ cương và tận tụy”./.

 

Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI CỦA NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954)

Mặt Trời

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Hà Nội đã cùng với cả nước kiên cường đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Tháng 10/1946, giặc pháp nổ súng chiếm Hải Phòng, tấn công Lạng Sơn, khiêu khích ở Hà Nội. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân Thủ đô Hà Nội đã đồng loạt đứng lên chống giặc, giành thế chủ động trong cuộc kháng chiến. Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến, với sức chiến đấu ngoan cường, trí dũng “gan không núng, chí không mòn”, “mưa dầm, cơm vắt” quân và dân ta đã làm lên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ rút hết quân về nước, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

Theo Nghị quyết ngày 17/9/1954 của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội được thành lập do thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh sư đoàn Quân tiên phong làm Chủ tịch và bác sĩ Trần Duy Hưng làm Phó chủ tịch. Ủy ban Quân chính có nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý thành phố. Bộ chỉ huy đã ra lệnh cho các đơn vị vào tiếp quản Hà Nội phải triệt để chấp hành các chính sách và kỷ luật của Chính phủ, nâng cao cảnh giác, đập tan mọi âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại. Sư đoàn Quân tiên phong đã được Trung ương Đảng và Chính phủ giao nhiệm vụ tiếp quản Hà Nội. Ngày 9/10 quân đội ta theo nhiều đường từ ngoại thành tiến vào nội thành qua năm cửa ô tiếp nhận nhà Ga, phủ Toàn quyền, khu Đồn Thủy, khu Bờ Hồ, phủ Thống sứ... 16h cùng ngày, quân đội Liên hiệp Pháp rời khỏi thành phố, rút sang phía bắc cầu Long Biên. 16h30, quân đội ta hoàn toàn kiểm soát thành phố Hà Nội trong nguyên vẹn và an toàn. Cổng chào, khẩu hiệu dựng lên khắp các đường phố, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên khắp các tầng nhà.

Sáng sớm ngày 10/10/1954 nhân dân Thủ đô với quần áo chỉnh tề, mang cờ, hoa, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh thành đội ngũ trật tự theo từng khối đơn vị như công sở, xí nghiệp, trường học, khu phố... tập trung đi tới những con đường được thông báo bộ đội sẽ đi qua. Từ ngoại thành, qua các cửa ô, từng đoàn quân tiến sâu vào nội thành với nhiệm vụ thiêng liêng cao cả tiếp quản Thủ đô. Đoàn xe đầu tiên do thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội và bác sĩ Trần Duy Hưng, Phó chủ tịch dẫn đầu. Đúng 8 giờ, cánh quân phía Tây xuất phát từ quần ngựa do Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Trị, anh hùng quân đội dẫn đầu. Các chiến sĩ diễu binh qua Kim Mã, Hàng Đẫy, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào... đến 9h45 tiến vào Cửa Nam, thành Hà Nội. 8h45, cánh quân phía Nam thuộc hai Trung đoàn 88 và 36 xuất phát từ Việt Nam học xá, tiến quan Bạch Mai, phố Huế, vòng quanh Hồ Gươm vòng lại đóng ở khu vực Đồn Thủy.

Đến 9h30 Đoàn cơ giới và pháo binh xuất phát từ Bạch Mai, qua Phố Huế, đến 10h15 đến Bờ Hồ, qua hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, rẽ sang đường Cửa Bắc tiến vào Thủ đô. Nhân dân hò reo phất cờ. Cả Hà Nội đều hân hoan, phấn khởi chào đón đoàn quân giải phóng. Hà Nội ngập tràn những lời ca, tiếng hát chào đón đoàn quân chiến thắng trở về. Đúng 15 giờ, còi Nhà hát Thành phố nổi lên, hàng chục vạn quân và dânThủ đô Hà Nội đã trang nghiêm dự lễ chào cờ do Ủy ban quân chính tổ chức tại sân vận động Cột Cờ. Lần đầu tiên lá cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh cột cờ Hà Nội. Hòa bình, độc lập đã về lại với Thủ đô của Tổ quốc anh hùng. Tại buổi lễ chào cờ lịch sử này, cả Hà Nội lặng yên lắng nghe Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng, từng câu, từng chữ của Bác thấm sâu vào trong trái tim mỗi con người Hà Nội lúc ấy: “Tám năm qua, Chính phủ phải rời xa Thủ đô để kháng chiến cứu nước. Tuy xa nhau, nhưng lòng Chính phủ luôn luôn gần cạnh đồng bào. Ngày nay, do nhân dân ta đoàn kết nhất trí, quân đội ta chiến đấu anh dũng, hòa bình đã thắng lợi, Chính phủ lại trở về với Thủ đô, với đồng bào. Muôn dặm một nhà, lòng vui mừng khôn xiết”.

Gần 70 năm đã qua đi kể từ ngày 10/10/1954 nhưng khí thế hào hùng của ngày đầu Giải phóng Thủ đô đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, Hà Nội từ một thành phố bị chiến tranh tàn phá, giờ Thủ đô Hà Nội đang thay đổi mỗi ngày. Để xứng đáng thành một trung tâm về kinh tế, văn hóa, khoa học và giáo dục, có vị trí quan trọng của cả nước Chính quyền và người dân Hà Nội đang ra sức xây dựng Thủ đô ngày càng phát triển, hiện đại xứng đáng là Thủ đô hòa bình, Thủ đô “Ngàn năm văn hiến”./.

 NHỮNG MỐC SON TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ CỦA QUÂN VÀ DÂN HÀ NỘI

Mặt Trời

Hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay trong đêm 19/12/1946, quân và dân Hà Nội đồng loạt nổ súng vào các vị trí đóng quân của thực dân Pháp trong Thành phố, chính thức mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ độc lập, tự do của quân và dân ta trên phạm vi cả nước. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sau 60 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng Thủ đô Hà Nội, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Chỉ huy Chiến khu XI và được sự chi viện, tiếp tế của quân và dân ngoại thành, lực lượng vũ trang Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chặn đứng ý định của thực dân Pháp đánh chiếm và làm chủ Thành phố trong vòng 24 giờ, bước đầu đánh bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng.

Đêm 17/12/1947, Trung đoàn Thủ đô đã tổ chức cuộc rút lui an toàn qua sông Hồng, sông Đuống trước sự bao vây gắt gao của địch, bảo toàn lực lượng để tiếp tục chiến đấu lâu dài. Tính từ thời điểm này, Thủ đô bị thực dân Pháp chiếm đóng, song quân và dân Hà Nội (những người ở lại) đã kiên cường bám trụ, tiến hành chiến tranh nhân dân trên toàn địa bàn Thành phố. Mặc dù, tương quan lực lượng hoàn toàn bất lợi cho ta, có lợi cho địch, nhưng với sự kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc “Lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh” của cha ông với niềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, người Hà Nội đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh nuôi giấu cán bộ kháng chiến, phát triển lực lượng tự vệ ở nội thành, du kích ở ngoại thành, tiến hành tổng phá tề, trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ làm tay sai cho địch. Thấu triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hà Nội là quả tim quân sự, chính trị và kinh tế của địch. Du kích Thủ đô và Vệ Quốc quân cần phải thường khuấy rối quả tim của địch cho đến ngày tổng phản công”, Đảng bộ Hà Nội đã lãnh đạo quân và dân Thủ đô đẩy mạnh xây dựng cơ sở đảng, xây dựng lực lượng kháng chiến sâu rộng khắp cả trong nội và ngoại thành; từng bước củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, sẵn sàng phối hợp với chiến trường toàn quốc Tổng phản công quân địch.

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, quân và dân Hà Nội đã tích cực đẩy mạnh kết hợp đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự… nhằm đánh địch ở ngay hậu cứ - nơi được xem là an toàn nhất của chúng. Các phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị, nhất là việc chống bắt lính đã diễn ra sôi nổi ở nhiều nơi và trong mọi tầng lớp nhân dân Hà Nội. Không dừng lại ở đó, để phối hợp với tiền tuyến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, biệt động ta đã tổ chức tập kích sân bay Gia Lâm, phá hủy 18 máy bay, đốt một kho xăng, diệt 16 tên địch. Cuối tháng 04/1954, giữa lúc Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp đang bị vây hãm nguy ngập, lực lượng trông, giữ kho quân nhu của địch được giác ngộ cách mạng ở trong Thành phố đã bí mật phá kho dù - một phương tiện duy nhất để tiếp tế bằng máy bay cho quân địch ở Điện Biên Phủ.

Tin chiến thắng từ Điện Biên Phủ liên tiếp được báo về là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với quân và dân Thủ đô, tuy nhiên, đó chưa phải là thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Đảng bộ Hà Nội chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân, gắn liền phong trào đấu tranh đòi hòa bình với phong trào bảo vệ quyền lợi thiết thân của quần chúng. Thực hiện Chỉ thị vận động nhân dân trong vùng tạm chiếm đấu tranh mạnh mẽ chống chiến tranh xâm lược, ủng hộ lập trường của Phái đoàn ta tại Hội nghị Giơnevơ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân và dân Hà Nội đã phát động phong trào đòi hòa bình, đòi Chính phủ Pháp phải thành thật thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh.

Ngày 20/7/1954, Hội nghị Giơnevơ kết thúc với việc thực dân Pháp phải rút hết quân khỏi Đông Dương. Mặc dù vậy, Hà Nội vẫn còn nằm trong khu vực tập kết của quân đội Pháp trong 80 ngày. Lợi dụng thời gian này, quân Pháp ráo riết tổ chức các hoạt động phá hoại Thủ đô về mọi mặt. Trước tình hình mới, Đảng bộ và chính quyền Hà Nội đã dựa vào dân, chủ trương lãnh đạo nhân dân Thủ đô đoàn kết đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, bảo vệ Thành phố, bảo vệ xí nghiệp, công sở, tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền lợi của công nhân, viên chức, chống địch phá hoại; đồng thời, đẩy mạnh phát triển lực lượng cách mạng trong Thành phố, phối hợp với các lực lượng từ chiến khu trở về tiếp quản Thủ đô.

Trước sức mạnh đấu tranh của quân và dân Hà Nội, cuối tháng 9/1954, Bộ Chỉ huy quân chiếm đóng Pháp chấp nhận rút khỏi Thành phố đúng thời hạn. Ngày 08/10/1954, Ban Tiếp nhận Quân sự của ta triển khai ở 06 khu vực nội thành và huyện Gia Lâm, tiếp nhận bàn giao cơ quan và các vị trí quân sự. Bộ đội ta tiến vào Đê La Thành, Vĩnh Tuy, Ngã Tư Sở, Cầu Giấy, Nhật Tân và bố trí canh gác cùng lính Pháp ở những vị trí cần thiết. Lực lượng tự vệ nhà máy cùng nhiều công nhân đến canh gác bảo vệ các nhà máy, xí nghiệp của mình. Trên các đường phố, cờ đỏ sao vàng, cổng chào và khẩu hiệu xuất hiện, hoan nghênh bộ đội và chính quyền cách mạng trở về Thủ đô. Địch rút đến đâu, ta tiếp quản đến đó. Đến 16 giờ ngày 09/10/1954, tốp lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên sang Gia Lâm.

Sáng ngày 10/10/1954, Đại đoàn 308, dẫn đầu là Trung đoàn Thủ đô tiến vào nội thành Hà Nội. Từ sáng sớm nhân dân Thủ đô đã tưng bừng mang theo cờ, hoa, ảnh Bác Hồ ra khắp các ngả đường chào đón bộ đội hành quân vào tiếp quản Thủ đô. Đúng 08 giờ sáng, cánh quân phía Tây xuất phát từ Quần Ngựa (nay là Cung Thể thao Hà Nội, phố Quần Ngựa). Đó là những chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn Thủ đô, mang trên ngực huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ”, trở về với thành phố quê hương - nơi sinh ra Trung đoàn. Đoàn đi qua Kim Mã, Nguyễn Thái Học, Cửa Nam, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang… đến 09 giờ 45 phút tiến vào Cửa Đông. Khoảng 08 giờ 45 phút, cánh quân phía Nam thuộc hai trung đoàn 88 và 36 xuất phát từ Việt Nam Học xá (nay thuộc Trường Đại học bách khoa) đi qua Bạch Mai, phố Huế, vòng quanh Hồ Gươm rồi vòng lại vào đóng ở khu vực Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân y 108) và khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa hữu nghị). Riêng Đoàn Chỉ huy tiếp quản, gồm: cơ giới, pháo binh do Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vương Thừa Vũ và Phó Chủ tịch Trần Duy Hưng dẫn đầu, lúc 09 giờ 30 phút từ sân bay Bạch Mai đến Ngã Tư Vọng sang Ngã tư Trung Hiền rồi theo đường Bạch Mai lên phố Huế, Hàng Bài, Đồng Xuân, vào Cửa Bắc. Vào lúc 15 giờ, còi Nhà hát Lớn thành phố nổi một hồi dài, mấy chục vạn nhân dân Hà Nội và các đơn vị quân đội trang nghiêm dự Lễ chào cờ do Ủy ban Quân chính tổ chức tại Sân vận động Cột Cờ. Sau Lễ chào cờ, Thiếu tướng Vương Thừa Vũ trân trọng đọc Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Thủ đô nhân ngày giải phóng.

Trên chặng đường hành quân lịch sử từ ngày Toàn quốc kháng chiến đến Ngày trở về giải phóng Thủ đô, vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh, quân và dân Hà Nội đã lập nên mốc son chói lọi làm nức lòng quân và dân cả nước, để lại những bài học quý cho những chặng hành quân tiếp theo trên con đường độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Bài học về xác định rõ vai trò của Thủ đô trong tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp, xâm lược và mối quan hệ giữa Thủ đô với cả nước. Hà Nội là “trái tim” của cả nước, là địa bàn chiến lược quan trọng. Chọn Hà Nội là địa phương mở đầu Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ Hai là một quyết định đúng đắn, sáng suốt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ. Quán triệt phương châm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng, trong quá trình kháng chiến, Hà Nội đã phát huy cao độ khả năng và tinh thần tự lực, tự cường, độc lập chiến đấu cao; đồng thời, luôn phối hợp với chiến trường cả nước, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung với tinh thần “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội”. Hà Nội vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, cùng cả nước vừa chiến đấu, vừa sản xuất, thực hành tiết kiệm, ủng hộ kháng chiến. Hiểu rõ sức mạnh của hậu phương luôn luôn chuyển hóa trong quá trình chiến tranh, với nhiệt tình cách mạng cao, nhân dân Hà Nội đã biết khai thác cơ sở vật chất hiện có để làm ra nhiều sản phẩm phục vụ cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Bài học về chuẩn bị tốt mọi mặt khi thời cơ đến, thực hành tiếp quản thắng lợi, hoàn thành sự nghiệp giải phóng Thủ đô. Không phải đánh vào Hà Nội mà vẫn giải phóng Thủ đô một cách nguyên vẹn, đó là kết quả của sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Hồ Chủ tịch, tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Việc tiếp quản Thủ đô, giải phóng hoàn toàn Hà Nội có một ý nghĩa hết sức trọng đại đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân cả nước. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Thành ủy Hà Nội đã chuẩn bị kế hoạch tiếp quản Thành phố hết sức tỷ mỷ và chu đáo. Ngày 17/9/1954, theo quyết định của Chính phủ, Ủy ban Quân chính Hà Nội được thành lập, bộ máy tiếp quản được tổ chức. Trung ương ban hành và phổ biến cho cán bộ tiếp quản các chỉ thị: “Bảo vệ thành phố mới được giải phóng” cùng “08 chính sách đối với thành phố mới được giải phóng” và “10 điều kỷ luật của bộ đội, nhân viên công tác khi vào thành phố mới được giải phóng”. Ủy ban Quân chính đã chuẩn bị một lực lượng quân - dân - chính đủ mạnh để phòng và khắc phục mọi hậu quả âm mưu phá hoại của địch gây ra. Để khắc phục những khó khăn, nhất là về đời sống vật chất của nhân dân trong những ngày mới giải phóng, Ủy ban Quân chính thống nhất ban hành chủ trương: ngoài nhiệm vụ chính là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thành phố, lực lượng vũ trang nhân dân Thủ đô cần tích cực tham gia mọi hoạt động giúp đỡ nhân dân dân, nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống, góp phần khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, tăng cường mối đoàn kết quân dân cá nước./.