Thứ Ba, 22 tháng 10, 2024

 

VÌ SAO VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ?

Hoa Sung

“Liên minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự có thể tổ chức thành khối quân sự hoặc chỉ là đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược”([1]). Trong lịch sử quân sự và chiến tranh của nhân loại vấn đề liên minh quân sự là một hiện tượng khá phổ biến giữa các quốc gia, có thể là liên minh nhất thời trong những giai đoạn ngắn hoặc liên minh lâu dài.  Một liên minh quân sự nhất thời hay lâu dài phụ thuộc vào cục diện quan hệ quốc tế hiện hành và mục đích, tính toán cụ thể của mỗi quốc gia tham gia liên minh quân sự đó.

Liên minh quân sự có thể mang tính tích cực nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm lược nhưng cũng có thể dùng liên minh quân sự để xâm lược, nô dịch quốc gia khác. Vấn đề trên phụ thuộc vào bản chất của các chủ thể, lực lượng tham gia của các thành viên trong từng tổ chức liên minh quân sự cụ thể. Trong điều kiện ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh thế giới và khu vực, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự là một chính sách đúng đắn, sáng suốt và phù hợp điều đó xuất phát từ một số lý do cơ bản:

Thứ nhất, liên minh quân sự luôn bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Tính hai mặt của liên minh quân sự luôn đan xen, chuyển hóa lẫn nhau, gây nguy hại đến mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và an ninh của các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới. Về mặt tích cực, liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược chiến tranh hay chiến dịch quân sự cả trong tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh. Về mặt tiêu cực, liên minh quân sự trực tiếp khiến căng thẳng gia tăng, làm xuất hiện tình trạng đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất là khi giữa các nước, các khối quân sự vốn có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi hai quốc gia cùng tham gia một liên minh có thể bị một nước thứ ba coi đó là hành động thù địch gây hệ quả rất khó lường. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc các nước, các khối quân sự công khai hoặc ngầm gia tăng tiềm lực, thực lực, chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh các hoạt động khiêu khích, tạo cớ; kéo quốc gia, khu vực và cả nhân loại đến gần hiểm họa chiến tranh. Ngoài ra, nếu tham gia liên minh quân sự có thể dẫn đến nguy cơ bị tấn công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác. Đặc biệt, khi tham gia liên minh, các nước tuy nằm trong một khối quân sự chung nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của nước lớn, có tiềm lực mạnh trong liên minh và phải tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, kể cả khi nguyên tắc ấy không phù hợp với lợi ích quốc gia mình. Khi tham gia liên minh quân sự mỗi thành viên, nhất là các nước nhỏ yếu sẽ không còn sự độc lập, tự chủ về những vấn đề cơ bản của quốc gia mà dễ trở thành “con tốt trên bàn cờ” để các nước lớn, các tập đoàn quân sự hùng mạnh thỏa hiệp với nhau, thực thi chính sách lôi kéo, ép buộc, khống chế. Mặt khác, trong thực tế cho thấy không có nước nào chấp nhận hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của nước khác, kể cả nước đó là đồng minh chiến lược của mình. Những cuộc xung đột, leo thang quân sự ở nhiều nơi trên thế giới diễn ra trong những năm qua đều có nguyên nhân xuất phát từ việc chính phủ và người dân ở những nơi này không đề cao nguyên tắc độc lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, mà lại trông chờ sự cứu giúp của các lực lượng bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là hàng loạt toan tính, mưu đồ, tham vọng về lợi ích, quyền lực của các cường quốc. Theo đó, hòa bình, ổn định chưa thấy mà hậu quả là sự chia cắt, bất ổn, nội chiến, “nồi da nấu thịt”,... hiện hữu, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Bài học từ xung đột vũ trang giữa Nga và Ucraina đang diễn ra chưa kết thúc cho thấy rõ có nguyên nhân cơ bản là chính phủ Ucraina mong muốn ra nhập tổ chức quân sự NaTo theo Mỹ và phương Tây để bảo vệ đất nước, điều này gây bất lợi cho Nga.

Thứ hai, Việt Nam không liên minh quân sự nhưng mở rộng đối ngoại, tăng cường hợp tác quốc phòng góp phần tăng khả năng bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, đối ngoại quốc phòng đang ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, hướng tới mục tiêu thiết lập và mở rộng quan hệ, hợp tác về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng, cùng có lợi, không phân biệt sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển. Theo đó, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác về quốc phòng dưới bất kỳ điều luật, áp đặt hoặc sức ép nào mà luôn nhận thức rõ, hợp tác quốc phòng là một trong những cơ sở quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định khu vực và thế giới; là yếu tố căn bản để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đối ngoại quốc phòng đã và đang đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược với nhiều quốc gia trên thế giới. Thông qua đối ngoại quốc phòng, bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về lịch sử dân tộc Việt Nam; về tính chất quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam cùng truyền thống, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trên tinh thần đó, Việt Nam chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ quốc phòng với nhiều quốc gia, tổ chức trong khu vực và trên thế giới, tham gia ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động hợp tác quốc phòng song phương và đa phương. Hiện nay, hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng được Việt Nam triển khai dưới nhiều hình thức, như: trao đổi đoàn quân sự; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; tham vấn - đối thoại quốc phòng; hợp tác huấn luyện, đào tạo; giải quyết các vấn đề nhân đạo; tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế,...; việc tăng cường trao đổi, giao lưu sĩ quan trẻ, hợp tác giữa các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu với các nước cũng luôn được coi trọng; qua đó, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Về cơ bản, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với các đối tác chủ chốt; trong đó, Cuba, Lào, Campuchia là quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện; Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc là quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện; 13 nước có quan hệ đối tác chiến lược; 13 nước có quan hệ đối tác hợp tác toàn diện; Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (EHO) là quan hệ hợp tác. Ngoài ra, có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam và 20 nước kiêm nhiệm, Việt Nam cũng đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu. Những kết quả trên của đối ngoại và hợp tác quốc phòng đã góp phần quan trọng để Việt Nam vừa trao đổi học tập kinh nghiệm trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng vừa tạo ra môi trường hòa bình, thân thiện với các nước trong khu vực và thế giới, nâng cao sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Thứ ba, Việt Nam bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại chứ không dựa vào sức mạnh từ liên minh quân sự. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí. Đó chính là việc quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, xây dựng “thế trận lòng dân”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Phát huy sức mạnh chính nghĩa thống nhất với bản chất tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và lòng nhân ái, khoan dung của người Việt Nam được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn ấy còn khẳng định một chân lý: Khi nào kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, “cả nước chung sức”, “trên dưới đồng lòng”, “anh em hòa mục” thì chủ quyền đất nước được giữ vững và ngược lại. Trong tiến trình cách mạng của dân tộc, có lúc chúng ta phố hợp tác chiến với Lào, Cămpuchia để đánh bại kẻ thù chung và xem đây là một trong những phương thức để bảo vệ Tổ quốc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay, chúng ta cần tiếp tục “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.([2]). Quán triệt và vận dụng đúng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định về nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc; thực hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đây không những là bài học kinh nghiệm quý báu, mà còn là yếu tố căn bản, cội nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí.

Thứ tư, không tham gia liên minh quân sự bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng đó là: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”([3]). Đó là sự kế thừa những truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của lịch sử dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam.  Kiên trì đường lối quốc phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc. Một mặt, chúng ta lên án, phản đối các hành động gây hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang; mặt khác, chúng ta luôn chủ trương không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, giữ vững quan điểm, không để bị các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp với nhau xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác tiến hành phát động chiến tranh ủy nhiệm đối với Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ quốc tế; đồng thời, sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tự vệ, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc nếu bị xâm phạm. Đây là vấn đề cốt lõi để xây dựng lòng tin, là cơ sở đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và thế giới, khẳng định rõ khát vọng và thiện chí cùng chung sống hòa bình, hợp tác, phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Từ những vấn đề trên đã trả lời rõ câu hỏi: Vì sao Việt Nam không tham gia liên minh quân sự?. Đồng thời mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phê phán rõ các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề Việt Nam không tham gia liên minh quân sự để xuyên tạc đường lối quốc phòng của Đảng, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc và đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trên thế giới hiện nay./.



([1]) Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự: Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 610.

([2]) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIINxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 155, 156

([3]) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 25

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét