VÌ SAO VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ?
Hoa Sung
“Liên
minh quân sự là sự liên kết hoạt động quân sự giữa hai hoặc nhiều nước hay tập
đoàn chính trị trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. Liên minh quân sự
có thể tổ chức thành khối quân sự hoặc chỉ là đơn vị chiến đấu chung. Tùy thuộc
vào mục đích chính trị, liên minh quân sự có thể là tiến bộ hay phản động, tự
vệ hay xâm lược”([1]).
Trong lịch sử quân sự và chiến tranh của nhân loại vấn đề liên minh quân sự là
một hiện tượng khá phổ biến giữa các quốc gia, có thể là liên minh nhất thời
trong những giai đoạn ngắn hoặc liên minh lâu dài. Một liên minh quân sự nhất thời hay lâu dài
phụ thuộc vào cục diện quan hệ quốc tế hiện hành và mục đích, tính toán cụ thể
của mỗi quốc gia tham gia liên minh quân sự đó.
Liên
minh quân sự có thể mang tính tích cực nhằm bảo vệ hòa bình, tự vệ, chống xâm
lược nhưng cũng có thể dùng liên minh quân sự để xâm lược, nô dịch quốc gia
khác. Vấn đề trên phụ thuộc vào bản chất của các chủ thể, lực lượng tham gia
của các thành viên trong từng tổ chức liên minh quân sự cụ thể. Trong điều kiện
ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh thế giới và khu
vực, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự là một chính sách đúng đắn, sáng
suốt và phù hợp điều đó xuất phát từ một số lý do cơ bản:
Thứ nhất, liên minh quân sự luôn bao hàm cả hai mặt tích
cực và tiêu cực. Tính hai mặt của liên minh quân sự luôn đan xen, chuyển
hóa lẫn nhau, gây nguy hại đến mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
và an ninh của các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới. Về mặt tích cực, liên minh quân sự có
thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng; tạo sự chuyển hóa về thế trận và
lực lượng quân sự trên chiến trường để thực hiện các chiến lược chiến tranh hay
chiến dịch quân sự cả trong tiến công và phòng ngự; tạo thêm uy tín, vị thế và
sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh. Về mặt tiêu cực, liên minh quân sự trực tiếp khiến căng thẳng gia tăng,
làm xuất hiện tình trạng đối đầu giữa các nước trong và ngoài liên minh, nhất
là khi giữa các nước, các khối quân sự vốn có những mâu thuẫn về lợi ích. Khi
hai quốc gia cùng tham gia một liên minh có thể bị một nước thứ ba coi đó là
hành động thù địch gây hệ quả rất khó lường. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc
các nước, các khối quân sự công khai hoặc ngầm gia tăng tiềm lực, thực lực,
chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh các hoạt động
khiêu khích, tạo cớ; kéo quốc gia, khu vực và cả nhân loại đến gần hiểm họa
chiến tranh. Ngoài ra, nếu tham gia liên minh quân sự có thể dẫn đến nguy cơ bị
tấn công bất ngờ bởi chính các đồng minh nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác.
Đặc biệt, khi tham gia liên minh, các nước tuy nằm trong một khối quân sự chung
nhưng luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của nước lớn, có tiềm lực mạnh trong
liên minh và phải tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, kể cả khi nguyên tắc
ấy không phù hợp với lợi ích quốc gia mình. Khi tham gia liên minh quân sự mỗi
thành viên, nhất là các nước nhỏ yếu sẽ không còn sự độc lập, tự chủ về những
vấn đề cơ bản của quốc gia mà dễ trở thành “con tốt trên bàn cờ” để các nước
lớn, các tập đoàn quân sự hùng mạnh thỏa hiệp với nhau, thực thi chính sách lôi
kéo, ép buộc, khống chế. Mặt khác, trong thực tế cho thấy không có nước nào
chấp nhận hy sinh lợi ích của dân tộc mình vì lợi ích của nước khác, kể cả nước
đó là đồng minh chiến lược của mình. Những cuộc xung đột, leo thang quân sự ở
nhiều nơi trên thế giới diễn ra trong những năm qua đều có nguyên nhân xuất
phát từ việc chính phủ và người dân ở những nơi này không đề cao nguyên tắc độc
lập dân tộc, quyền tự quyết của quốc gia, mà lại trông chờ sự cứu giúp của các
lực lượng bên ngoài. Đằng sau sự giúp đỡ tưởng như vô tư đó là hàng loạt toan
tính, mưu đồ, tham vọng về lợi ích, quyền lực của các cường quốc. Theo đó, hòa
bình, ổn định chưa thấy mà hậu quả là sự chia cắt, bất ổn, nội chiến, “nồi da
nấu thịt”,... hiện hữu, kéo lùi sự phát triển của đất nước. Bài học từ xung đột
vũ trang giữa Nga và Ucraina đang diễn ra chưa kết thúc cho thấy rõ có nguyên
nhân cơ bản là chính phủ Ucraina mong muốn ra nhập tổ chức quân sự NaTo theo Mỹ
và phương Tây để bảo vệ đất nước, điều này gây bất lợi cho Nga.
Thứ hai, Việt Nam không liên minh quân sự nhưng mở rộng đối
ngoại, tăng cường hợp tác quốc phòng góp phần tăng khả năng bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại quốc phòng là một bộ phận của đối
ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, đối ngoại quốc phòng
đang ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, hướng tới mục tiêu thiết lập và mở
rộng quan hệ, hợp tác về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng,
tôn trọng, cùng có lợi, không phân biệt sự khác nhau về thể chế chính trị,
trình độ phát triển. Theo đó, Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác về quốc
phòng dưới bất kỳ điều luật, áp đặt hoặc sức ép nào mà luôn nhận thức rõ, hợp
tác quốc phòng là một trong những cơ sở quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định
khu vực và thế giới; là yếu tố căn bản để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của
đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung
ương, Bộ Quốc phòng, đối ngoại quốc phòng đã và đang đạt được những kết quả
đáng khích lệ, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược với nhiều quốc gia trên
thế giới. Thông qua đối ngoại quốc phòng, bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về lịch sử
dân tộc Việt Nam; về tính chất quốc phòng hòa bình, tự vệ của
Việt Nam cùng truyền thống, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh
hùng. Trên tinh thần đó, Việt Nam chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả quan
hệ quốc phòng với nhiều quốc gia, tổ chức trong khu vực và trên thế giới, tham
gia ngày càng tích cực, có trách nhiệm vào các hoạt động hợp tác quốc phòng
song phương và đa phương. Hiện nay, hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng
được Việt Nam triển khai dưới nhiều hình thức, như: trao đổi đoàn quân sự; chia
sẻ thông tin, kinh nghiệm; tham vấn - đối thoại quốc phòng; hợp tác huấn luyện,
đào tạo; giải quyết các vấn đề nhân đạo; tham gia các diễn đàn khu vực và quốc
tế,...; việc tăng cường trao đổi, giao lưu sĩ quan trẻ, hợp tác giữa các học
viện, nhà trường, viện nghiên cứu với các nước cũng luôn được coi trọng; qua
đó, góp phần tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây
dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ quốc phòng
với hơn 100 nước, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên
hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Về cơ bản, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ quốc phòng với các đối tác chủ chốt; trong đó, Cuba, Lào, Campuchia là quan
hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện; Trung
Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc là quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện; 13
nước có quan hệ đối tác chiến lược; 13 nước có quan hệ đối tác hợp tác toàn
diện; Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (EHO) là
quan hệ hợp tác. Ngoài ra, có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú
tại Việt Nam và 20 nước kiêm nhiệm, Việt Nam cũng đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng
tại 32 nước, Liên hợp quốc và Liên minh châu Âu. Những kết quả trên của đối
ngoại và hợp tác quốc phòng đã góp phần quan trọng để Việt Nam vừa trao đổi học
tập kinh nghiệm trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng vừa tạo ra môi trường hòa
bình, thân thiện với các nước trong khu vực và thế giới, nâng cao sức mạnh tổng
hợp bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Thứ
ba, Việt Nam bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của
dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại chứ không dựa vào sức mạnh từ liên minh
quân sự. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân dựa
trên sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy
sức mạnh nội lực của dân tộc là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị,
tinh thần, sự đoàn kết thống nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí. Đó
chính là việc quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, xây dựng “thế trận lòng dân”, “khoan
thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Phát huy sức mạnh
chính nghĩa thống nhất với bản chất tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc và lòng nhân ái, khoan dung của người Việt Nam được hun
đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam là một minh chứng điển hình cho việc phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự
lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn
ấy còn khẳng định một chân lý: Khi nào kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ,
nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất, “cả nước chung sức”, “trên dưới đồng
lòng”, “anh em hòa mục” thì chủ quyền đất nước được giữ vững và ngược lại.
Trong tiến trình cách mạng của dân tộc, có lúc chúng ta phố hợp tác chiến với
Lào, Cămpuchia để đánh bại kẻ thù chung và xem đây là một trong những phương
thức để bảo vệ Tổ quốc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày
nay, chúng ta cần tiếp tục “Phát
huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết
hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng
quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn
hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính
trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an
toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” ([2]).
Quán triệt và vận dụng đúng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đẩy
mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định về nguyên tắc chiến
lược, linh hoạt về sách lược; đan xen lợi ích và duy trì quan hệ cân bằng với
các nước lớn; không để đất nước rơi vào thế bị bao vây, cô lập, lệ thuộc; thực
hiện tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của
cộng đồng quốc tế. Đây không những là bài học kinh nghiệm quý báu, mà còn là yếu
tố căn bản, cội nguồn sức mạnh để bảo vệ độc lập, chủ quyền, giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Việt Nam xây dựng nền quốc phòng dựa trên sức mạnh của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, lấy sức mạnh nội lực của dân tộc
là chính, coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần, sự đoàn kết thống
nhất, cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí.
Thứ
tư, không
tham gia liên minh quân sự bởi quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự
vệ. Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách quốc
phòng đó là: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để
chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ
Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực trong quan hệ quốc tế”([3]).
Đó là sự kế thừa những truyền thống hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của lịch sử
dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng
sản Việt Nam. Kiên trì đường lối quốc
phòng với mục đích tự vệ và tính chất hòa bình, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp
với quyền cơ bản của các quốc gia, dân tộc theo nguyên tắc của Hiến chương Liên
hợp quốc. Một mặt, chúng ta lên án, phản đối các hành động gây
hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang; mặt khác, chúng
ta luôn chủ trương không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va
chạm không cần thiết, giữ vững quan điểm, không để bị các đối tượng nước ngoài
khiêu khích, kích động, thỏa hiệp với nhau xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc
hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác tiến hành phát động chiến
tranh ủy nhiệm đối với Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết
tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ
quốc tế; đồng thời, sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tự vệ, bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc nếu bị xâm phạm. Đây là vấn đề
cốt lõi để xây dựng lòng tin, là cơ sở đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế và
đối ngoại quốc phòng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc và môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực và
thế giới, khẳng định rõ khát vọng và thiện chí cùng chung sống hòa bình, hợp
tác, phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Từ
những vấn đề trên đã trả lời rõ câu hỏi: Vì sao Việt Nam không tham gia liên
minh quân sự?. Đồng thời mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, phê phán rõ các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề Việt Nam
không tham gia liên minh quân sự để xuyên tạc đường lối quốc phòng của Đảng,
kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc và đoàn kết giữa Việt Nam với các nước trên
thế giới hiện nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét