Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

 

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC

Nhân Trần      

 Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng, nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế - xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Ba là, tích cực, chủ động quan hệ sâu rộng với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam. Tích cực, chủ động quan hệ sâu rộng với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên tinh thần Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần chú trọng hợp tác song phương với các đối tác, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực. Tiếp tục xây dựng lòng tin chiến lược với các nước, ưu tiên quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng, liền kề, các nước lớn, các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ đạo; tham gia tích cực, có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; nghiên cứu tham gia một số hoạt động diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác, như tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ thảm họa, xử lý bom mìn, chất độc hóa học. Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Trên tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa...; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước. Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét