Thứ Tư, 9 tháng 10, 2024

 

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950, BƯỚC PHÁT TRIỂN

NHẢY VỌT VỀ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM

 

Trung Lập

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thắng lợi vang dội của chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950 đã in đậm dấu ấn vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta nói chung và lịch sử nghệ thuât chiến dịch Việt Nam nói riêng. Bởi đây là thắng lợi có ý nghĩa bản lề, tạo nên bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đây là lần đầu tiên trải qua 5 năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1950) ta mở một chiến dịch tiến công quy mô lớn, tập trung tới 4,5 vạn người, kể cả bộ đội và dân công, với hơn 1 triệu ngày công, trong thời gian gần 1 tháng ( từ ngày 16/9 đến ngày 14/10/1950). Số lượng hàng vận chuyển phục vụ chiến dịch lên với 4000 tấn, gấp 8 lần chiến dịch Lê Hồng Phong 1, gấp 13,3 lần chiến dịch Cao - Bắc - Lạng[1]. Chiến dịch Biên giới 1950 có ý nghĩa chiến lược và quan trọng chưa từng thấy. Không những quân ta đã vượt yêu cầu chỉ tiêu cả về tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, khai thông biên giới và củng cố căn cứ địa kháng chiến, mà từ thắng lợi này đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc địch phải chuyển dần sang chiến lược phòng ngự, ta bắt đầu chuyển sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công.

 Như lời Đại tướng Võ Nguyễn Giáp đã nhận xét: Thắng lợi của chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 là: “Cột mốc bằng vàng cắm giữa con đường phát triển của cuộc kháng chiến chống Pháp”[2]. Bên cạnh đó, chiến thắng đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam với những nét đặc sắc sau:

Một là, chọn điểm mở màn chiến dich

Vấn đề lớn đầu tiên của nghệ thuật chiến dịch tiến công là chọn đúng mục tiêu mở màn bảo đảm chắc thắng, phù hợp với khả năng trình độ của ta, bảo đảm đánh thắng trận đầu chiến dịch, tạo đà phát triển chiến dịch.

Trong những chiến dịch thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, có một số chiến dịch trận đánh tại điểm mở màn chiến dịch của ta không thành công, nguyên nhân là do: chọn điểm quá lớn ta không đủ sức tiêu diệt (như An Châu trong chiến dịch Đông Bắc (1948); Phố Lu, Nghĩa Đô trong chiến dịch Lê Hồng Phong I (1950)... Ngược lại, chọn mục tiêu quá nhỏ lại là thứ yếu trong hệ thống phòng thủ của địch (như một số cứ điểm mở đầu chiến dịch Sông Thao năm 1949) lại không đủ yếu tố thu hút viện binh của chúng. Cùng với việc chọn mục tiêu mở màn chiến dịch là dự kiến khả năng đối phó của địch bằng viện binh như thế nào để chủ động chuẩn bị và triển khai lực lượng sẵn sàng đánh viện... Chính những bài học xương máu đó mà cấp chiến dịch của ta trưởng thành dần về nghệ thuật chọn mục tiêu tiến công đầu tiên mà điển hình là chiến dịch Biên Giới năm 1950.

Từ cuối tháng 7/1950, bước vào chuẩn bị chiến dịch Biên Giới, vấn đề nổi lên khi bàn phương án tác chiến là việc chọn mục tiêu mở màn chiến dịch. Lúc đầu, Bộ chỉ huy quyết định “tiến công Cao Bằng trước, sau đó sẽ khuếch trương thắng lợi đến Đông Khê và tùy điều kiện có thể khuếch trương đến Thất Khê”[3]. Tuy nhiên qua trinh sát nắm tình hình, ta thấy địa hình thị xã Cao Bằng rất phức tạp, lực lượng quân địch bố trí tương đối mạnh, nếu mở đầu chiến dịch bằng trận tiến công Cao Bằng, đòi hỏi sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề về kỹ thuật và chiến thuật mà bộ đội ta chưa có kinh nghiệm, như vượt sông, đánh quân nhảy dù, đánh vào trung tâm trận địa vừa sâu, vừa rộng.

Nhưng vấn đề cốt yếu đặt ra là nếu chọn điểm mở màn chiến dịch tại Cao Bằng, Bộ chỉ huy chiến dịch phải giải đáp được hai câu hỏi lớn:

Thứ nhất, nếu tiến công Cao Bằng để mở màn chiến dịch nhằm thực hiện "đánh điểm để diệt viện", liệu có chấn động mạnh đến sự liên hoàn trên toàn tuyến phòng thủ biên giới của địch không?

Thứ hai, trong trường hợp ta đánh Cao Bằng mà địch không ứng cứu thì sự phát triển tiếp theo của chiến dịch sẽ ra sao? Rõ ràng một khi ta ít có cơ hội đánh viện thì mức độ tiêu diệt sinh lực địch của chiến dịch chắc chắn sẽ hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến giải phóng đất đai, giải phóng biên giới, làm thay đổi cục diện chiến trường.

Vì vậy, chọn Cao Bằng làm điểm tiến công mở màn chiến chiến dịch sẽ có nhiều yếu tố không thuận lợi gây khó khăn cho quá trình phát triển của chiến dịch, cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chiến lược đặt ra. Vậy thì nếu không chọn Cao Bằng thì điểm mở màn chiến chiến dịch sẽ tiến hành ở đâu?

Trong Hội nghị Đảng ủy mặt trận cứ điểm Đông Khê đã được chọn. Bởi vì Đông Khê là một vị trí ở giữa Cao Bằng (cách 45 km về phía bắc) và Thất Khê (cách 25 km về phía nam), lực lượng địch bố trí ở đây tuy mạnh nhưng ít hơn ở Cao Bằng, Đông Khê lại có địa hình rừng núi bao bao bọc kín đáo, quân ta khi tiến công dễ bí mật tiếp cận. Vì ở vào vị trí hiểm yếu, một khi Đông Khê bị tiêu diệt, một mắt xích giữa phòng tuyến đường số 4 bị chặt đứt, Cao Bằng sẽ làm vào thế cô lập. Có nhiều khả năng quân ứng cứu của địch phải tăng viện hoặc chiếm lại Đông Khê để hỗ trợ cho vị trí Cao Bằng, hoặc yểm trợ cho quân ở Cao Bằng rút chạy. Do đó, ta có điều kiện đánh viện, tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự và chính cũng là có thêm điều kiện căn bản để giải phóng đất đai, khai thông biên giới.

Như vậy, thành công của việc xây dựng kế hoạch tác chiến ở đây chính là sự thay đổi mục tiêu mở màn chiến dịch. Việc lấy Đông Khê làm mục tiêu mở màn chiến dịch là một sự lựa chọn thận trọng, trên cơ sở phân tích khách quan khoa học. Thay đổi mục tiêu mở màn chiến dịch như vậy là năm vững nguyên tắc: “Trước đánh cứ điểm nhỏ, tiến lên đánh cứ điểm lớn, trước đánh cứ điểm yếu, tiến lên đánh cứ điểm mạnh”. Đó cũng là quán triệt nguyên tắc “trận đầu phải thắng”… “Trận đầu thắng lợi sẽ có ảnh hưởng lớn đến cả chiến dịch[4].

Hai là, sự tiến bộ mới về tổ chức chỉ huy trình độ đánh địch trong công sự được nâng lên một bước

Sáng 16 tháng 9, quân ta nổ súng tiến công Đông Khê. Sáng hôm sau (17/9) địch dựa vào sự yểm trợ của hỏa lực trong hầm ngầm ở Đồn To, phản kích chiếm lại các vị trí đã mất trong tung thâm, đẩy quân ta ra ngoài. Bộ chỉ huy chiến dịch theo dõi sát diễn biến của trận đánh, đã nhất trí với quyết tâm của Ban chỉ huy trận Đông Khê, cho bộ đội củng cố công sự, kiên quyết giữ các vị trí ngoại vi (Cẩm Phầy, Pò Hầu...), tích cực chuẩn bị để đêm 17 tiếp tục tiến công dứt điểm. Nhờ rút kinh nghiệm, khắc phục được những thiếu sót trong đêm trước về tổ chức chỉ huy, về chiến thuật, Trung đoàn 209 mở thêm được hướng đột phá ở tây - nam, phối hợp với mũi luồn sâu phía sau pháo đài, quân ta phát triển thuận lợi, thọc sâu vào sở chỉ huy địch lúc rạng sáng 18 và hoàn toàn làm chủ thị trấn Đông Khê lúc 10 giờ. Mặc dù số thương vong lớn hơn và thời gian trận đánh kéo dài hơn dự kiến (52 giờ), quân ta đã tiêu diệt và bắt hầu hết quân địch trong cụm cứ điểm, kể cả viên đại úy đồn trưởng. Trận then chốt thứ nhất của chiến dịch Biên Giới thắng lợi rực rỡ.

Sự tiến bộ mới về tổ chức chỉ huy và trình độ đánh địch trong công sự của bộ đội qua trận tiến công cứ điểm Đông Khê được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, tập trung ưu thế binh, hỏa lực cho trận then chốt mở màn chiến dịch (theo đúng như kế hoạch tác chiến ban đầu đã được xây dựng).

Thứ hai, chọn điểm đột phá (nhiều hướng, nơi địch yếu và hiểm yếu). Kết hợp đột phá ở chính diện với khu vực bên sườn cứ điểm, cùng mũi luồn sâu rất hiểm từ phía sau pháo đài của cứ điểm.

Thứ ba, vừa tiến công vừa củng cố trong quá trình phát triển vào tung thâm cứ điểm, kết hợp với chia cắt đội hình địch, phát huy tốt tác dụng của bộc phá (trong mở cửa và giải quyết công sự ngầm).

Thứ tư, bước đầu đã biết sử dụng có hiệu quả tập trung hỏa lực pháo binh và hiệp đồng bộ binh - pháo binh.

Thứ năm, trong tình huống phát triển tiến công, gặp hỏa lực địch ngăn chặn, ta đã kiên quyết trụ lại, nhanh chóng tổ chức đào công sự để giữ vững được trận địa đã đánh chiếm, hạn chế được thương vong của bộ đội.

Sự tiến bộ mới về chiến thuật đánh công sự vững chắc chính là minh chứng cho sự khổ luyện của bộ đội ta về chiến thuật, kỹ thuật đánh công kiên đã diễn ra trong mùa hè năm 1950. Với thắng lợi ban đầu này còn tạo thêm điều kiện thực hiện ý định đánh điểm - diệt viện mà Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra ngay từ đầu.

Ba là, linh hoạt trong tổ chức sử dụng lực lượng đánh viện binh địch và mưu trí sáng tạo trong tổ chức chỉ huy xử trí các tình huống chiến dịch

 Đây là vấn đề thể hiện tính nghệ thuật rất cao trong Chiến dịch Biên Giới. Sau thắng lợi của trận mở đầu, phương thức tác chiến của ta là: “Nhử thú dữ vào tròng để khép vòng lưới thép tiêu diệt chúng”[5]. Tuy nhiên, sau hơn một tuần lễ trôi qua kể từ khi cứ điểm Đông Khê thất thủ không thấy viện binh địch xuất hiện, câu hỏi đặt ra lúc này là: Địch sẽ xuất hiện ở đâu? Từ Thất Khê lên hay từ Cao Bằng xuống?…Sau chiến dịch Biên Giới ta mới nắm được ý định và các bức mật lệnh của địch khi đó do tướng Các-păng-chi-ê (Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương) đưa ra ở thời điểm ngay sau khi cứ điểm Đông Khê thất thủ, đã nhận định rằng: Đông Khê là một cứ điểm đã được nâng cấp thành một cụm cứ điểm mạnh, có lực lượng lính Lê Dương thiện chiến đóng giữ, bố trí bảo vệ vòng trong, vòng ngoài chặt chẽ, lại có pháo 105mm và máy bay chi viện mà còn không giữ được thì làm sao giữ nổi Cao Bằng. Với nhận định đó, viên tướng Pháp này cùng Bộ tham mưu của mình đã xây dựng một kế hoạch với mật danh là Tê-lê-giơ, trong đó: Hướng thứ nhất ra lệnh cho binh đoàn Lơ-pa-giơ tiến quân lên đánh chiếm lại Đông Khê. Hướng thứ hai điều binh đoàn Sác-tông theo đường số 4 rút toàn bộ quân từ Cao Bằng về. Hướng thứ ba mở cuộc hành binh mang mật danh Hải Cẩu từ Hà Nội theo đường số 3 kết hợp với binh đoàn dù đánh Thái Nguyên sau đó phối hợp với hai binh đoàn còn lại. Pháp quan niệm rằng Thái Nguyên nằm rất gần ATK có cơ quan đầu não Trung ương ta, nếu quân Pháp đánh chiếm được thị xã Thái Nguyên thì theo đường chim bay cách ATK có 30 km, thì chắc chắn bộ đội chủ lực của ta sẽ phải chia sẻ bớt lực lượng để bảo vệ khu căn cứ địa, chính vì thế mà chúng cho rằng ta sẽ không tiến công mạnh mẽ giành thắng lợi trong chiến dịch. Nhưng lúc này chính trong nội bộ Bộ chỉ huy quân Pháp lại không thống nhất do vậy kế hoạch tiến công Thái Nguyên không thực hiện được.

Thực tế diễn biến tiếp theo của chiến dịch cho thấy, hai hướng tiến quân của binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông đã diễn ra gần giống với kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy quân Pháp. Tuy nhiên, hai binh đoàn địch xuất hiện gần như đồng thời trên cả hai hướng vào đúng lúc ta đang chuyển lực lượng xuống đánh địch ở Thất Khê, do sơ xuất lơ là thiếu cảnh giác ta đã để binh đoàn  Lơ-pa-giơ đi qua trận địa mà không đánh được. Trong tình huống này, lực lượng bố trí đánh viện của ta đang ở các vị trí cơ động giữa Đông Khê và Thất Khê, đòi hỏi Bộ chỉ huy chiến dịch phải hết sức linh hoạt sáng tạo trong điều động lực lượng nhanh chóng vận động đánh viện binh của địch. Do vậy, tỷ lệ tập trung lực lượng trong đánh vận động trên một địa hình chiến trường rừng núi tương đối phức tạp (bộ đội cơ động hoàn toàn bằng đôi chân) sẽ thấp hơn nhiều so với lúc ta đánh điểm. Thực tế chiến đấu đã diễn ra cho thấy, khi quân ta bắt đầu đánh binh đoàn Lơ-pa-giơ, tỷ lệ ta 3,25 - địch 1 (ta 13 tiểu đoàn, địch 4 tiểu đoàn). Khi binh đoàn Sác-tông xuất hiện, tỷ lệ tụt xuống ta 2,28 - địch 1 (ta 16 tiểu đoàn, gồm cả trung đoàn 174 mới từ phía nam lên, địch 7 tiểu đoàn) Nhưng trên thực tế, tỷ lệ đó chỉ là 2/1, vì 2 tiểu đoàn của trung đoàn 174 phải triển khai trận địa đón lõng quân địch ở khu vực sông Bắc Khê. Suốt 5 ngày, các đơn vị phải tiến hành đồng thời mấy nhiệm vụ tác chiến: diệt địch ở Khâu Luông (ta 2,25 - địch 1) đồng thời với chặn địch ở Cốc Xá (ta 1,67 - địch 1); dứt điểm binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá đồng thời với chặn binh đoàn Sác-tông từ hướng Quang Liệt về điểm cao 477; truy quét tàn binh địch ở Cốc Xá - điểm cao 477 (tỷ lệ tập trung của ta còn ít hơn địch) đồng thời với chặn cánh quân Đờ-la Bôm.

Rõ ràng, trong các trận đánh viện, ta buộc phải chấp nhận tỷ lệ tập trung không cao nhưng vẫn giành thắng giòn giã là bởi mấy nguyên nhân sau:

Về nguyên nhân khách quan: Binh đoàn Lơ-pa-giơ tiến quân lên đánh Đông Khê nhưng chẳng đánh được, mà thực chất là nhằm mục đích đón cánh quân Sác-tông về, do vậy chúng không có kế hoạch và tinh thần tiến công, chỉ cốt mong rút về an toàn, không bị chết. Sác-tông có Lơ-pa-giơ đón cứ ung dung về, gặp đối phương đâu thì đánh đó, cũng không có tinh thần tiến công.

Mặt khác, bộ đội ta thông thuộc địa hình rừng núi, dù địch có lợi dụng được phần nào để chống cự nhưng vẫn kém hơn ta. Trong những ngày diễn ra chiến dịch, ban ngày vào buổi sáng sương mù dày đặc làm cho phi cơ của địch không thể hoạt động được để chi viện hỏa lực cho chúng.

Tuy nhiên, về nguyên nhân chủ quan của ta mới thực sự có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi trong hai trận then chốt đánh viện binh địch mặc dù trong điều kiện kiện đánh vận động mức tập trung của ta không cao, đó là cách xử trí tình huống của Bộ chỉ huy chiến dịch khi cả hai binh đoàn địch cùng xuất hiện. Trong những thời điểm cụ thể, trước tình hình rất khẩn trương, Bộ chỉ huy đã xác định đúng nhiệm vụ tác chiến nào là trọng tâm cần tập trung lực lượng mức độ cho phép để diệt địch, giành thắng lợi từng bước, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn địch. Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp thời đưa ra mệnh lệnh: “nhanh chóng tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ trước, kiềm chế tiêu hao binh đoàn Sác-tông rồi tiêu diệt sau”[6], cách xử trí sáng suốt như vậy ta đã ngăn chặn bước tiến của cánh quân Sác-tông, làm cho hai binh đoàn địch không thể gặp nhau để co cụm lại hòng tạo sức mạnh đối phó với ta. Với quyết tâm diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ trước, đồng thời kiềm chế binh đoàn Sác-tông một mặt ta đã tạo được thời cơ và điều kiện tập trung lực lượng, mặt khác còn tạo được thế trận chia cắt có lợi cho ta, phá thế co cụm của hai binh đoàn địch, vừa tạo được sức mạnh đúng lúc, tập trung lực lượng đánh đúng đối tượng cụ thể trước mắt, giành thắng lợi từng bước, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch bằng hai trận then chốt gối đầu, kế tiếp trong ưu thế tương đối về so sánh lực lượng giữa ta và địch.

74 năm đã trôi qua, kể từ ngày chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 giành thắng lợi, đã tiếp tục khắc ghi trong lòng dân tộc, nhân dân và quân đội ta một di sản vô giá, đó là truyền thống đánh đuổi kẻ thù giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước, đồng thời còn tiếp tục phát triển, nâng nghệ thuật chiến dịch Việt Nam lên một tầm cao mới, đây là điều thiêng liêng, cần phải được trân trọng, giữ gìn và kế thừa, phát triển trong điều kiện mới hiện nay./

 



[1] Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 94-95.

[2] Võ Nguyễn Giáp (1964), Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong những chiến dịch lớn, tập 1, BTTM xuất bản, tr. 50.

[3] Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 85.

[4] Võ Nguyễn Giáp (1964), Sđd, tr. 15-16.

[5] Võ Nguyễn Giáp (1964), Sđd, tr.19.

[6] Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ 1945 - 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, tr. 92.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét