Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2018

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ - BẢN HÙNG CA BẤT DIỆT
Cách đây hơn 43 năm, với cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc - Nam sum họp một nhà, đất nước trọn niềm vui.
Ngay từ ngày 25/3/1975, Nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã khẳng định thời cơ chiến lược đã đến, phải tập trung nhanh nhất lực lượng, phương tiện để giải phóng miền Nam trước mùa mưa. Chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn được Bộ Chính trị quyết định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ đầu tháng 4 năm 1975, quân dân ta sống trong những ngày hào hùng và sôi động nhất của lịch sử dân tộc. Cả dân tộc ta ra quân trong một mùa Xuân lịch sử với tinh thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và khí thế “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Ngày 9/4, ta tiến công vào thị trấn Xuân Lộc, một căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Bắc. Ngày 16/4, quân ta phá vỡ phòng thủ Phan Rang. Ngày 21/4, quân địch ở Xuân Lộc tháo chạy, cửa ngõ vào Sài Gòn từ hướng Đông Bắc đã được mở. Ngay từ khi mất Xuân Lộc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Đúng 17h ngày 26/4, quân ta được lệnh nổ súng mở màn chiến dịch, 5 cánh quân từ các hướng vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài tiến vào thành phố Sài Gòn. Ngày 28/4, các trận địa pháo của ta nã đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Rạng sáng 29/4, tất cả các cánh quân đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch. 10h45phút ngày 30/4, 4 xe tăng của ta húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ Ngụy quyền Sài Gòn. Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện và ra lệnh cho quân Ngụy đầu hàng. Vào lúc 11h30 cùng ngày, lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Phủ Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. 
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với trận mở màn Buôn Ma Thuột và Chiến dịch Tây Nguyên, tiếp đó là Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã hoàn toàn thắng lợi trong gần 2 tháng liên tục và kiên cường chiến đấu (từ 18/3/1975 đến 2/5/1975). Đó là chiến thắng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh dấu thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, là sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, một sự kiện có tác động lớn đến tình hình thế giới.
Trải qua 21 năm tiến hành chiến tranh, 5 đời Tổng thống Mỹ điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân mới và tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ từng bước leo thang biến cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thành cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trên thế giới kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Quân dân miền Nam với quyết tâm, ý chí thắng Mỹ với thế trận chiến tranh nhân dân đã lần lượt đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của chúng mà Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là chiến thắng vĩ đại nhất quyết định số phận của cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan hơn 1 triệu quân Ngụy, lật đổ hoàn toàn chế độ Ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam, cố vấn Mỹ phải rời khỏi miền Nam, Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Chiến thắng đó đã giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của đế quốc Pháp - Mỹ và chế độ phong kiến, rửa sạch nỗi nhục và nỗi đau mất nước hơn 1 thế kỷ của dân tộc Việt Nam.
Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới và thế lực phản động tay sai là nguyên nhân chia cắt đất nước. Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 kỳ trong xứ Đông Dương 5 kỳ thuộc Pháp, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Ngô Đình Diệm chia cắt đất nước thành 2 miền Nam - Bắc với vĩ tuyến 17. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã xóa bỏ mọi ranh giới chia cắt đất nước, đất nước đã được thống nhất về mặt lãnh thổ, đó là điều kiện thuận lợi để hai miền Nam - Bắc thống nhất đất nước về mặt nhà nước và thống nhất trên các lĩnh vực khác. Đường lối cách mạng dân chủ nhân dân của Đảng là mục tiêu của cách mạng, là niềm tin của dân tộc, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp tạo điều kiện cho miền Bắc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đại thắng mùa Xuân năm 1975 lật đổ chế độ đế quốc và tay sai, mở đường cho sự hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân, xóa bỏ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở miền Nam. Đất nước không còn bóng giặc ngoại xâm, chế độ Ngụy quyền tay sai đã bị lật đổ, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước độc lập, thống nhất trong cả nước và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, một trong những chiến công hiển hách nhất của lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Chiến dịch Hồ Chí Minh - trận kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- cùng với trận Bạch Đằng (1288), Chi Lăng (1427), Đống Đa ( 1789), Điện Biên Phủ (1954) đã cắm một cột mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên của lịch sử nước ta, tô đậm truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.
Tình đoàn kết gắn bó keo sơn của ba dân tộc Đông Dương được thể hiện sâu sắc trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên một chiến trường thống nhất nhằm chống một kẻ thù chung với cùng một mục tiêu là giải phóng dân tộc. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không những mở ra bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và còn tạo thời cơ lớn cho nhân dân Campuchia giải phóng đất nước ngày 17/4/1975, cho nhân dân Lào giành độc lập ngày 2/12/1975.
Đối với đế quốc Mỹ, thất bại ở miền Nam năm 1975 là thất bại của một cuộc chiến tranh hao người tốn của nhất, là thất bại to lớn và nặng nề nhất trong lịch sử 200 năm của đế quốc Mỹ, thất bại đó đã tác động sâu sắc tới nội tình nước Mỹ, làm suy giảm uy tín và vị trí của Mỹ trên trường quốc tế.Đối với thế giới, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất vào các lực lượng cách mạng của tên đế quốc đầu sỏ, phá vỡ phòng tuyến ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ.
Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đã quyết định sự giải thể của khối quân sự SEATO do Mỹ cầm đầu tháng 9 năm 1975, góp phần đem lại hòa bình, an ninh và sự hòa hợp của khu vực Đông Nam Á. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 nói riêng và cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thắng lợi đó đã góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, thu hẹp trận địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là nguồn cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ tiến bộ trên thế giới, tiếp tục chứng minh một chân lý của thời đại ngày nay là: Một dân tộc kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc có đường lối lãnh đạo đúng đắn, có sự đồng tình giúp đỡ của quốc tế thì nhất định sẽ giành được thắng lợi dù phải đương đầu với tên đế quốc đầu sỏ.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân ta đã thực hiện được ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà. Trong cuộc đọ sức giữa ý chí Việt Nam và sức mạnh quân sự Mỹ, mặc dù phải chiến đấu gian khổ, hy sinh nhiều người, nhiều của, nhưng tinh thần và ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà đã toàn thắng. Chiến thắng oanh liệt đó mãi là niềm tự hào của mỗi thế hệ người dân Việt Nam, là động lực tinh thần to lớn để chúng ta kiên định, vững bước trên con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và nhân dân ta đã chọn: Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục công cuộc đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và phát triển đất nước, sánh vai với bạn bè thế giới như Bác Hồ kính yêu vẫn hằng mong muốn.
BÀN LUẬN
NGHI BINH LỪA ĐỊCH – NÉT ĐẶC SẮC
CỦA CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở màn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thắng lợi của chiến dịch đã để lại nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh lừa địch. Đây là một kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Trong kế hoạch chiến lược ban đầu, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976, trong đó, năm 1975 là bản lề tạo điều kiện cho năm 1976 giành thắng lợi. Hướng chiến lược được dự kiến là miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Sau nhiều lần nghiên cứu, trao đổi, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định chiến trường Tây Nguyên là hướng chiến lược chủ yếu, trận tiến công thị xã Buôn Ma Thuật là điểm đột phá mở đầu trong chiến dịch.
Đối với chiến trường Tây Nguyên, đây là nơi tập trung cơ quan đầu não của Quân khu 2- Quân đoàn 2 Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Lực lượng tuy nhiều (63.000 tên), nhưng địch phải căng ra phòng ngự khắp Tây Nguyên, nuôi tham vọng giữ bằng được địa bàn chiến lược này. Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là thị xã Pleiku và Kon Tum. Hướng thị xã Buôn Ma Thuột chúng có sơ hở và yếu hơn cả.
Xét về tương quan lực lượng thì ta chưa hơn địch. Để bảo đảm cho đòn mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên chắc thắng, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên (B3) tích cực tổ chức chỉ đạo các hoạt động nghi binh. Theo đó, Sư đoàn 3, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 25 cùng bộ đội địa phương trên địa bàn đánh cắt các tuyến giao thông huyết mạch (đường 19, 21, 14) nhằm chia cắt địch ở Tây Nguyên với đồng bằng ven biển và chia cắt địch ở Bắc Tây Nguyên với Nam Tây Nguyên. Bộ Tổng tư lệnh còn bí mật tăng cường cho Tây Nguyên 2 sư đoàn, 1 trung đoàn và một số đơn vị binh chủng của Đoàn 559. Đây là một mưu hay, không chỉ đột ngột tạo nên một lực lượng mạnh ở chiến trường này mà còn góp phần lừa địch, tạo nên bất ngờ lớn đối với địch trong đòn tiến công chiến lược ban đầu.
Với quyết tâm giành thắng lợi ngay trong trận mở đầu, Quân ủy Trung ương chỉ đạo “Phải nghi binh rất nhiều để làm cho địch tập trung chú ý vào bảo vệ phía Bắc Tây Nguyên”. Tiếp tục giữ bí mật tạo thế nghi binh theo “Kế hoạch tác chiến B”, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 10 bắn pháo vào Kon Tum, đánh nhỏ quanh thị xã; Sư đoàn 320 đánh nhỏ trên Đường 14, bắn pháo vào La Sơn, Thanh An; Trung đoàn 95 đánh địch trên Đường 19 ở Đông Pleiku; Trung đoàn Đặc công 968 tập kích kho xăng Pleiku. Mặt khác, Bộ tư lệnh chiến dịch còn bí mật đưa Sư đoàn 968 từ Nam Lào về Tây Nguyên thay thế vị trí Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320. Khi hai sư đoàn này hành quân vào Đắk Lắk đã để lại toàn bộ cụm điện đài và báo vụ viên ở lại vị trí cũ, hàng ngày vẫn duy trì liên lạc như bình thường để lừa địch.
Đầu tháng 2-1975, Sư đoàn 968 bắt đầu thực hiện nghi binh bằng việc tổ chức các trận đánh diệt các chốt tiền tiêu bên ngoài thị xã Pleiku làm cho địch lầm tưởng đó là hoạt động đánh phá của sư 10 và 320. Sư đoàn 968 còn thực hiện một loạt những trận đánh “bài bản” theo kiểu đột phá lần lượt trước khi đánh vào mục tiêu chính, thậm chí có cả pháo lớn tham gia như sắp có nhiều sư đoàn đánh vào Pleiku. Khi Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho Sư đoàn 968 đánh đồn Tầm và quận lỵ Thanh An, đồng chí Thanh Sơn còn hỏi lại: Sư đoàn 968 đánh thật hay đánh giả?
Cùng với cách đánh giả “như thật” của Sư đoàn 968, lực lượng công binh kết hợp với dân công các huyện 40, 67, 30, 80, Diên Bình, Tân Cảnh của Kon Tum và các huyện 4, 5 của Gia Lai rầm rộ đi làm đường “giả” hướng vào thị xã Kon Tum và Pleiku; mở tuyến đường song song với Đường 14 và nối với Đường 19 ở phía Tây Pleiku. Trong các hoạt động nghi binh, các lực lượng tham gia chiến dịch vẫn tuyệt đối giữ được bí mật, càng khiến cho địch khẳng định ta chuẩn bị đánh vào Kon Tum. Đặc biệt, chỉ riêng về nghi binh thông tin đã là một kỳ tích mà sau này Trung tướng Sác-lơ Tai-mít, cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu đã phải thú nhận: “Bằng nghi binh qua làn sóng điện, Việt Nam đã thành công trong kế hoạch giam chân bộ phận chủ yếu của quân đội Sài Gòn thuộc Quân khu 2 ở Pleiku”.
Về phía địch, chúng cũng cố gắng tìm hiểu xem Sư 10 và Sư 320 của Quân giải phóng thực sự đang ở đâu, nhưng đều bặt vô âm tín. Đầu tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã lệnh cho Sư 10 cơ động bằng ô tô, chuyển thẳng vào Đức Lập, Sư 320 cũng bí mật hành quân vào phía Tây Ea H’leo, thậm chí gần đến ngày nổ súng mà địch vẫn không biết Sư đoàn 316 - lực lượng dự bị chiến lược của ta đã cơ động từ Nghệ An vào Đắk Lắk. Việc điều chuyển các sư đoàn chủ lực để hình thành thế  chiến dịch mà địch vẫn không hay biết đó nghệ thuật nghi binh rất tài giỏi và giữ bí mật tuyệt đối của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Chỉ huy chiến dịch và các lực lượng tham gia. Về chuẩn bị đường cho xe tăng- thiết giáp và xe kéo pháo, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng hai trung đoàn công binh (7 và 575) bí mật cưa cây, ngụy trang hướng vào các mục tiêu ở Đức Lập, Gia Nghĩa và Buôn Ma Thuật (Nam Tây  Nguyên).
Giữa tháng 2-1975, một chiến sĩ của ta đào ngũ đã khai báo với địch: Sư đoàn 10 đang chuẩn bị đánh Đức Lập, Sư đoàn 320 đang ở Ea H’leo chuẩn bị đánh Thuần Mẫn, một lực lượng khác đang chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuật, trong khi đó tình báo Mỹ vẫn khẳng định Sư 10 và 320 vẫn ở chỗ cũ. Lập tức, Bộ Tư lệnh chiến dịch phát một bức điện gửi các đơn vị của ta với nội dung “địch đã bị mắc lừa, cho rằng ta sẽ đánh Buôn Ma Thuật nên đã điều quân xuống phía Nam”. Những thông tin trái ngược làm cho Phạm Văn Phú (Tư lệnh Quân đoàn 2 VNCH) hoang mang không biết tin lời chiến sĩ đảo ngũ hay tin bức điện thu được. Bộ Tư lệnh chiến dịch tiếp tục lệnh cho các đơn vị ở Bắc Tây Nguyên tiếp tục chuẩn bị “đánh lớn” vào Pleiku, làm cho địch vội vã điều chuyển quân tiếp viện từ Buôn Ma Thuật cho Pleiku.
Như vậy, cho tới trước ngày nổ súng, mọi ý định chiến lược của ta vẫn giữ được bí mật. Nghệ thuật nghi binh của ta đã làm cho cả CIA và chính quyền, quân đội VNCH vẫn khẳng định “hướng đối phó chính vẫn là Pleiku”. Thậm chí, khi ta tiến công quận lỵ Thuần Mẫn (8-3), Đức Lập (9-3), tức là Buôn Ma Thuật đã phơi ra trước họng súng Quân giải phóng mà Phạm Văn Phú vẫn không biết được ý đồ tác chiến của ta. Đến 04 giờ sáng ngày 10-3, khi xe tăng của ta tiến vào Buôn Ma Thuột thì Tướng Phú mới biết được Buôn Ma thuật là mục tiêu chủ yếu của quân giải phóng thì đã quá muộn.
Như vậy, chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi là do ta đã tiến hành một kế hoạch nghi binh rất bài bản, công phu, với nhiều biện pháp sáng tạo, đánh giả như thật (ở Bắc Tây Nguyên), tung tin thất thiệt... Do ta làm tốt công tác nghi binh nên địch không nắm chắc và nhận biết được ý định, lực lượng của ta, từ đó không dự tính được kế hoạch đối phó, thậm chí đã nhận định sai tình hình. Với nghệ thuật nghi binh tài tình của Quân giải phóng đã làm cho địch trở tay không kịp. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch, đẩy địch từ sai lầm về chiến dịch đến sai lầm về chiến lược, rút bỏ Tây Nguyên, tạo điều kiện và thời cơ cho ta mở các chiến dịch tiếp theo giành thắng lợi, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30/4/1975.
BÀN LUẬN
NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là một trong những cuộc kháng chiến kéo dài nhất, oanh liệt nhất và đã chiến thắng vẻ vang, trọn vẹn.
 Cách đây vừa tròn 43 năm, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí và sáng tạo của quân và dân ta và sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế; với sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân; quân và dân ta đã làm nên chiến thắng vĩ đại - chiến thắng 30/4/1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên CNXH.
Chỉ tính riêng kết quả thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, từ ngày 26/4/1975 đến ngày 30/4/1975, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân chủ lực, quân địa phương thuộc Quân khu 3 ngụy, những đoàn quân của các quân khu 1 và 2 chạy về cố thủ và chi viện cho địch ở Sài Gòn - Gia Định, diệt và làm tan rã khoảng 269.000 tên địch, thu 276.000 súng các loại (trong đó có 518 khẩu pháo), 409 xe tăng, thiết giáp, 858 máy bay các loại, 6.457 tàu, xuồng chiến đấu, 3.296 xe ô tô và nhiều phương tiện chiến tranh khác, giải phóng hoàn toàn Sài Gòn - Gia Định, góp phần quyết định và thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Một trong những nguyên nhân cơ bản và chủ yếu dẫn đến thắng lợi của Đại thắng Mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc oanh liệt vào ngày 30/4/1975 do sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này được thể hiện ở chỗ: Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta anh dũng chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc; kiên quyết và khôn khéo sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng; thực hiện mục tiêu: Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên CNXH. Đảng ta đã giải quyết đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ giữa cách mạng và chiến tranh cách mạng; giải quyết thành công nhiều vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng, xây dựng lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng, về phương thức tiến hành chiến tranh và về nghệ thuật quân sự; Đảng đã phát huy cao độ trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, để đánh thắng chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Đảng ta đã phát huy truyền thống yêu nước và lòng tự hào, tự tôn dân tộc, xây dựng, củng cố, phát triển khối đoàn kết thống nhất của toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế, phân hoá, cô lập triệt để kẻ thù, để giành chiến thắng hoàn toàn cho dân tộc Việt Nam.
Chiến thắng 30/4/1975 có ý nghĩa lịch sử sâu sắc và giá trị to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Về ý nghĩa lịch sử, với chiến thắng ngày 30/4/1975, nhân dân ta đã thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, bảo vệ những thành quả bước đầu của cách mạng XHCN ở miền Bắc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và CNXH; đưa dân tộc ta đứng vào hàng ngũ của quốc gia, dân tộc tiên phong trên thế giới.
Với chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam chúng ta, từ một đất nước bị nước ngoài xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, đã đứng lên giành lại được nền độc lập dân tộc sau gần một thế kỷ mất nước và trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền được pháp lý quốc tế thừa nhận, tôn trọng; có một quân đội hùng mạnh, có nền văn hoá, khoa học, kỹ thuật đang trên đà phát triển, có vị thế quan trọng, sánh vai cùng các nước trên thế giới.
Qua cuộc chiến đấu và chiến thắng, đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta đư­ợc rèn luyện cả về phẩm chất và năng lực, càng nhận thức được sâu sắc hơn vị trí, khả năng và sức mạnh của mình trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh.
Với chiến thắng vĩ đại này, đã tăng cường quan hệ hữu nghị, đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia anh em, góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc của từng nước, thủ tiêu chủ nghĩa thực dân ở ba nước Đông Dương, phá vỡ phòng tuyến phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Châu á.
Đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi, đã thức tỉnh, cổ vũ hàng trăm triệu người đứng lên dũng cảm đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giành lại độc lập dân tộc, đưa đất nước tiến vào quỹ đạo xây dựng CNXH, đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân. Chiến thắng 30/4/1975, cũng chính là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thắng lợi của đường lối và phương hướng cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, tự lực, tự cường, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Đó cũng là thắng lợi của thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, đã được Đại hội lần thứ 4 của Đảng đánh giá: "Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm vóc quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".
Hiện nay, đất nư­ớc ta đang ở trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, để phát huy tinh thần đại thắng mùa xuân 1975, mỗi cán bộ, đảng viên, tuổi trẻ và nhân dân ta cần ra sức phấn đấu, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu CNXH, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng; lao động, học tập và công tác một cách khoa học, có chất lượng, hiệu quả cao để góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

                                                                                                          TRUNG LẬP
THỜI CƠ CỦA CHIẾN THẮNG 30/4/1975
VÀ BÀI HỌC CHO HÔM NAY
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chiến thắng 30/4/1975 là kết quả hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó vấn đề nắm vững thời cơ cách mạng để giành thắng lợi là yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên chiến thắng.
1. Thời cơ của chiến thắng 30/4/1975 không hoàn toàn đến từ những yếu tố khách quan, cũng không hoàn toàn đến từ những yếu tố chủ quan mà là sự hội tụ của cả yếu tố khách quan và chủ quan. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta luôn sáng suốt, nhạy bén đánh giá đúng tình hình thực tế, dự đoán chính xác thời cơ chiến lược, chủ động thúc đẩy tình thế mau chín muồi để giành thắng lợi quyết định.
Đó là sự chín muồi về thế trận và vai trò chỉ đạo của Đảng về liên tục tạo lập thế trận, liên tục phát triển thời cơ. Để đối phó với một kẻ thù lớn mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ, Đảng ta chủ trương một chiến lược cách mạng mà ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. Với tương quan lực lượng của ta lúc bấy giờ chưa thể so sánh được với địch nên phải có một chiến lược quân sự phù hợp dựa trên cơ sở tiềm lực tổng hợp của đất nước, đồng thời tìm ra một phưong thức chuyển hoá lực lượng quân sự hợp lý để từ yếu dần dần trở thành mạnh. Để tạo ra thời cơ có lợi cho kết thúc cuộc chiến, Đảng ta đã chủ động chỉ đạo tiến hành nhiều cuộc tiến công với các quy mô và mục tiêu chiến lược khác nhau, như: Chiến dịch Ấp Bắc 1965 để thử nghiệm khả năng tác chiến của quân đội ta với quân Mỹ; Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 tạo thế và lực trên mặt trận chính trị, ngoại giao hay Chiến dịch Phước Long tháng 12-1974 để thăm dò thái độ của Mỹ sau Hiệp định Paris. Các chiến thắng đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để Đảng ta dự báo, đánh giá chính xác tình hình thực tế và so sánh thế và lực giữa ta và địch để từ đó hoạch định kế hoạch và đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là điểm chín muồi của thời cơ, thế trận, và lực lượng. Đó là lúc đế quốc Mỹ đã tan rã ý chí xâm lược, còn bọn tay sai ngụy quân, ngụy quyền thì hoang mang dao động, sụp đổ. Thời cơ đại thắng mùa Xuân 1975 là thời cơ nảy sinh do sự nỗ lực chủ quan của ta nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản có lợi cho ta trong cán cân so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ. Một cuộc chiến tranh sẽ kết thúc khi kẻ thù bị đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự, ý chí bị tan rã. Kháng chiến chống Mỹ của chúng ta không đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự của Mỹ mà là nhằm đập tan ý chí xâm lược Mỹ. Để đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, cuộc kháng chiến của quân dân ta phải trải qua đấu tranh lâu dài, gian khổ mới tạo được thời cơ kết thúc chiến tranh. Thời cơ đại thắng mùa Xuân 1975 được tạo ra do chính máu xương của bao người con Việt Nam trên cả hai miền đất nước trong suốt cuộc chiến tranh tạo nên. Và trên thực tế, Mỹ đã xoay đủ cách, từ chiến lược này đến chiến lược khác, từ “chiến tranh đặc biệt” đến “chiến tranh cục bộ” đến “chiến tranh Việt Nam hoá” và cuối cùng Mỹ chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội.
Đó là sự chín muồi về chuẩn bị lực lượng quân sự và vai trò chỉ đạo của Đảng về sử dụng hợp lý và liên tục chuyển hoả lực lượng trong toàn bộ chiến dịch. Trong đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo lý luận về bạo lực cách mạng, đưa hình thức khởi nghĩa, nổi dậy của quần chúng vào trong chiến tranh, làm cho sức mạnh của chiến tranh cách mạng tăng lên gấp bội, yếu tố chiến tranh toàn dân, toàn diện đã phát triển lên một trình độ mới. Đó còn là sự chín muồi về thế trận và vai trò chỉ đạo của Đảng về liên tục tạo lập thế trận, liên tục tạo lập thời cơ. Việc lựa chọn điểm đột phá Buôn Ma Thuột đã thể hiện sự sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch về tạo lập thế trận, vì khi ta chiếm được cử điểm này ta sẽ bẻ gãy được xương sống phòng thủ của địch là Tây Nguyên. Tiếp đó, ta thắng ở Huế – Đà Nẳng làm cho ý đồ “tử thủ” của địch bị phá sản nghiêm trọng. Trên cơ sở liên tục tạo lập được thế trận có lợi cùng với sự phát triển của phong trào kháng chiến toàn dân, sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã tới điểm chín muồi.
Khi thời cơ đã chín muồi, Bộ Chính trị đã yêu cầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm giải phóng miền Nam trong tháng tư năm 1975. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, 5 cánh quân chủ lực hùng mạnh của ta tiến hành tổng tiến công vào Sài Gòn cùng với sự phối hợp chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng Nhân dân, chúng ta đã đập tan sự kháng cự của địch, buộc nội các chính quyền Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đúng 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trước lúc Người đi xa “Chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” đã được quân và dân ta thực hiện trọn vẹn.
2. Bài học cho hôm nay: Đại thắng Mùa xuân 1975 đã trôi qua 43 năm nhưng bài học về thời cơ chiến thắng 30/4/1975 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nhất là, trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập sâu rộng quốc tế, khi tình hình an ninh, chính trị trong khu vực đang có những diễn biến phức tạp nhất là những tranh chấp liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo, sự cạnh tranh ảnh hưởng của một số nước lớn ở nhiều khu vực đang diễn ra khá mạnh mẽ thì vấn đề thời cơ của chiến thắng 30/4/1975 để lại cho ta nhiều bài học sâu sắc;
Thứ nhất, đó là bài học về tạo thời cơ, tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ  để xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới; luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy cao độ nội lực, tranh thủ cơ hội thuận lợi từ tình hình chính trị, an ninh thế giới, các phong trào đấu tranh đòi hòa bình của nhân loại tiến bộ để tạo thêm nguồn sức mạnh đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Thứ hai, bài học về sự kiên định tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, bản lĩnh trí tuệ, sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới, xây dựng Đảng trong sách vững mạnh, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.
Thứ ba, bài học về chủ động dự báo, xây dựng và hoạch định những chiến lược dài hơi trong phát triển đất nước, chuẩn bị lực, thời, thế cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn.
Thứ tư, bài học về xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình mới.
Thứ năm, bài học về xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng, phát huy ý chí tự lực, tự cường trong xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng, đủ sức đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và chiến tranh công nghệ cao trong tình hình mới.
TRUNG LẬP








QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ
CÁCH MẠNG CỦA TÊN HOÀNG ĐỨC BÌNH
Hoàng Đức Bình sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú tại xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trình độ văn hóa: 9/12.
Tên này tham gia rải tờ rơi lôi kéo người dân tham gia tổ chức “Nghiệp đoàn độc lập” tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25/12/2015, Hoàng Đức Bình bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giam 24 tiếng để điều tra về hành vi rải tờ rơi nhằm lôi kéo người dân tham gia “Nghiệp đoàn độc lập”; đã bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) về hành vi vi phạm quy định về tàng trữ, phát hành xuất bản phẩm và sản phẩm in không phải là xuất bản phẩm (được quy định tại điều 27, Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, xuất bản). Tuy nhiên, Hoàng Đức Bình không chấp hành việc nộp phạt và bỏ trốn.
Hắn trở thành thành viên của tổ chức “Liên đoàn Lao động Việt tự do” – đây là một tổ chức thuộc “Nghiệp đoàn độc lập” do một số cá nhân tự đứng ra thành lập. Tổ chức này chưa được Nhà nước công nhận về tư cách pháp nhân, nên không thể đứng ra làm đại diện cho công nhân, viên chức và người lao động. Thực ra đây là một tổ chức lừa đảo, sử dụng nhiều mánh khóe tinh vi để qua mặt các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như nước sở tại. Chúng tổ chức các lớp dưới danh nghĩa “phổ biến pháp luật, dạy đình công”… tại các nước có nhiều người Việt Nam lao động như Nga, Malaysia… nhưng ngấm ngầm khuyến khích số lao động này tìm cách phá hợp đồng với công ty chủ, đẩy nhiều lao động nhập cư vào cảnh bơ vơ, để rồi chúng lại xuất hiện như một ân nhân cứu giúp. Tuy nhiên, âm mưu, bản chất xảo quyệt của tổ chức này bị lật tẩy khi bị chính những người công nhân đã từng bị tổ chức này dụ dỗ tố giác: “Khi lao động ở Malaysia, một người đàn ông tên Thành (Trần Ngọc Thành – người sáng lập tổ chức Liên đoàn Lao Động Việt tự do) tới khu trọ thuyết giảng cho chúng tôi về đình công, biểu tình để đòi quyền lợi; đồng thời hứa hẹn nếu ỏ việc tại đây và nộp 7.000 USD thì sẽ được thu xếp sang châu Âu làm việc”. Tin lời chúng, một số công nhân đã dàn xếp đánh nhau, đập phá công xưởng để bị đuổi việc. Sau đó, tổ chứng này đưa họ nhập cảnh vào châu Âu với visa du lịch. Khi vừa đặt chân đến châu Âu, nhiều người bị cơ quan chức năng nước sở tại bắt giữ, bị trục xuất (do ở lại lao động trái phép), phải sống chui lủi, gia nhập các băng nhóm móc túi, trộm cắp.
Ngày 01/4/2016, Hoàng Đức Bình trở về Nghệ An, quan hệ, móc nối với các đối tượng phản động, chống đối trong và ngoài địa bàn, thường xuyên đăng tải, chia sẻ trên facebook cá nhân những thông tin, tài liệu tuyên truyền nói xấu chế độ, kích động biểu tình, cổ vũ phong trào đa nguyên, đa đảng. Tham gia tổ chức “Phong trào Lao động Việt” với vị trí Phó Chủ tịch: ngày 5/10/2016, do trong nội bộ mâu thuẫn, đấu đá cá nhân, bất minh trong chi tiêu tài chính… nên tổ chức “Phong trào lao động Việt” ra thông cáo tuyên bố tách ra khỏi “liên đoàn lao động Việt tự do”, vẫn giữ tên cũ và Hoàng Đức Bình giữ chức Phó chủ tịch, lấy nhà của hắn do tiền từ các tổ chức nước ngoài đầu tư xây dựng để làm nơi hoạt động.
Sau khi xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do công ty Formosa gây ra, Hoàng Đức Bình đã tham gia thành lập “Hiệp hội ngư dân miền Trung”, cấu kết với nhiều đối tượng phản động, nhất là các linh mục phản động, cực đoan như Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam kích động bà con giáo dân tổ chức tuần hành, biểu tình, gây mất ANTT tại 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Để thực hiện được các công việc trên, Hoàng Đức Bình được các tổ chức phản động ở nước ngoài thường xuyên cung cấp tiền để hoạt động, mỗi tháng hắn được tổ chức trả công tối thiểu 300USD, để chi phí các hoạt động chống phá, sau mỗi vụ thành công hắn lại được thưởng thêm tiền rất hậu hĩnh.
Ngày 18/5/2017, Hoàng Đức Bình bị Công an Nghệ An bắt, khởi tố về tội “Chống người thi hành công vụ; Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp cả tổ chức, công dân” quy định tại điều 257, 258 - Bộ Luật Hình sự. Việc xét xử Hoàng Đức Bình được dự kiến vào ngày 25/1/2018.
HOA SÚNG
                                                


TRỊNH HỘI -TAY SAI CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN
Trịnh Hội - kẻ phản động thành lập và cầm đầu nhóm giúp sức đắc lực cho Việt Tân trong việc xúi giục biểu tình là tổ chức VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment – Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại).
Trịnh Hội theo Việt Tân từ bao giờ?
Sinh ngày 15-3-1970 tại Sài Gòn, Trịnh Hội còn có tên khác là Trịnh Trường Hội. Năm 14 tuổi, hắn theo gia đình vượt biên rồi được cho đi định cư tại Australia. Tốt nghiệp ngành Luật, Trịnh Hội đã từng làm việc ở Hồng Kông, Australia, Mỹ, Anh, Philippines và lập gia đình với Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái cựu phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ và có được 2 người con.
Trước khi li dị, Trịnh Hội đã sử dụng hộp thư điện tử của bà Kỳ Duyên để tán phát một số bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đồng thời cung cấp số điện thoại, địa chỉ của các Đại sứ quán, Cơ quan công quyền Việt Nam ở trong và ngoài nước để kêu gọi “khủng bố” bằng hình thức gửi email phản đối việc Cơ quan An ninh Việt Nam đã tạm giữ anh ta vì anh ta là thành viên cốt cán của đảng Việt Tân.
Những bài viết ấy được Trịnh Hội và tổ chức khủng bố Việt Tân tung lên mạng Internet cùng nhiều hộp thư điện tử của nhiều cá nhân. Kết quả là đã một thời, dư luận lấy làm kinh ngạc, không hiểu vì sao bà Kỳ Duyên lại hành xử như thế trong lúc cha bà – ông Nguyễn Cao Kỳ đã về thăm quê hương nhiều lần và được Nhà nước Việt Nam rất ưu ái. Chẳng đặng đừng, bà Kỳ Duyên phải lên tiếng thanh minh. Sau đó hai người ly hôn.
Trong thời gian ở Australia, Trịnh Hội là thành viên của tổ chức phản động “Mạng lưới tuổi trẻ lên đường”. Mạng lưới này thực chất là “cánh tay nối dài” của Việt Tân, là “cái nôi” của một số “trung ương ủy viên” Việt Tân. Mặc dù đến nay, Trịnh Hội vẫn khăng khăng chối bỏ, rằng mình không phải là người của Việt Tân; nhưng “cái lưỡi không xương”, khi trò chuyện với một số người, Trịnh Hội lại xác nhận: “Là bạn thân với Hoàng Tứ Duy (phát ngôn nhân của đảng Việt Tân)”. Bên cạnh đó, Trịnh Hội ca ngợi “Việt Tân có “lý tưởng cao đẹp (?!)”, và một ngày nào đó sẽ hãnh diện “xin tham gia Việt Tân!”.
Một chi tiết nữa, chứng minh Trịnh Hội là người của Việt Tân. Ấy là khi thành lập tổ chức VOICE vào cuối năm 2006, Trịnh Hội khẳng định mình là “đồng sáng lập viên” cùng với Hoàng Tứ Duy và Chu Quang Ngọc (Ngọc là cảm tình viên chí cốt của Việt Tân). Bộ ba này nằm trong Hội đồng quản trị đầu tiên của VOICE, nhiệm kỳ 2007 – 2008 (giám đốc điều hành VOICE là Lisa Nguyễn Thùy Dương, cũng là thành viên Việt Tân!).
Trước đó, tháng 10-2004, Trịnh Hội tham dự đại hội “Hội chuyên gia Việt Nam” và hội thảo “Mạng lưới dân chủ”, tổ chức tại Mỹ với tư cách là giảng viên chính. Cả hai nhóm này đều là những “cánh tay” đắc lực của Việt Tân. Chưa hết, trong các kỳ “Đại hội thanh niên sinh viên Việt Nam thế giới” do Việt Tân tổ chức hàng năm tại một số nước, chẳng bao giờ vắng mặt Trịnh Hội!
Tháng 10-2006, Việt Tân thành lập “Liên minh dân tộc”. Trong “liên minh” này, Trịnh Hội được cử làm lãnh đạo “Ban Lập pháp”. Đến tháng 12-2006, theo chỉ đạo của Việt Tân, Trịnh Hội cho ra đời cái gọi là “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại” (VOICE), trụ sở đặt tại nhà riêng của Trịnh Hội ở Mỹ, văn phòng đại diện tại Philippines. Văn phòng này có nhiệm vụ tiếp xúc, móc nối những người Việt sinh sống tại Philippines hoặc mới từ Việt Nam sang Philippines để tổ chức các khóa huấn luyện, đào tạo, sau đó tung về Việt Nam hoạt động chống phá.
Tháng 4-2007, sau khi Cơ quan An ninh Việt Nam bắt giam Lê Quốc Quân – trung ương ủy viên Việt Tân, xâm nhập trái phép để thực hiện âm mưu kích động bạo loạn, lật đổ, với tư cách là chủ tịch VOICE, Trịnh Hội đã viết thư gửi Ngoại trưởng Mỹ, đề nghị Chính phủ Mỹ can thiệp, gây sức ép buộc Việt Nam phải trả tự do cho Lê Quốc Quân.
Tháng 9-2007, Trịnh Hội về Việt Nam đóng phim, làm ăn. Trong chuyến đi này, Trịnh Hội được Việt Tân giao nhiệm vụ móc nối với một vài luật sư có tư tưởng bất mãn, chống đối ở trong nước nhằm mục đích mở những lớp học, tuyên truyền về nhân quyền, luật quốc tế theo quan điểm của Việt Tân, cũng như rủ rê, lôi kéo, đưa người sang Philippines để huấn luyện các phương thức, thủ đoạn chống Nhà nước Việt Nam.
Vụ việc bại lộ, Trịnh Hội bị Cơ quan An ninh Việt Nam điều tra rồi sau đó, bị trục xuất và bị cấm nhập cảnh Việt Nam. Một sĩ quan An ninh đã từng làm việc với Trịnh Hội cho biết: “Anh ta luôn miệng chối rằng mình không hề có quan hệ gì với Việt Tân nhưng khi chúng tôi đưa ra chứng cứ, là ngay từ năm 1999, khi từ Australia sang Mỹ, Trịnh Hội đã ăn ở trong nhà Hoàng Tứ Duy, việc đi lại cũng bằng chiếc xe hơi của Hoàng Tứ Duy trong lúc Duy là phát ngôn nhân chính thức của Việt Tân, là con trai của Hoàng Cơ Định và là cháu ruột của Hoàng Cơ Minh, cha đẻ ra “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, và “đảng Việt Tân” thì anh ta im lặng”.
Vì sao Việt Tân lại chọn Trịnh Hội, một kẻ vừa háo danh lại vừa háo sắc cầm đầu tổ chức VOICE? Câu trả lời là sau nhiều vụ bịp bợm bị dư luận – và ngay cả những “đảng viên cốt cán” công khai lên tiếng vạch trần – Việt Tân cần có một khuôn mặt mới, một bình phong mới để tiếp tục lừa gạt cộng đồng người Việt hải ngoại đóng góp tiền bạc, ủng hộ những phong trào “ma”, những chiến dịch “ảo”. Bên cạnh đó, với cái mác là luật sư, là diễn viên điện ảnh, là chồng bà Nguyễn Cao Kỳ Duyên, là con rể của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ, Trịnh Hội có đủ điều kiện giúp Việt Tân “tung hỏa mù”, đánh lừa, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin trong nước.
Khi thành lập VOICE, những kẻ cầm đầu tổ chức khủng bố Việt Tân xem đây là một trong những “mũi nhọn”, hoạt động xã hội dưới hình thức phi chính phủ (NGO) để có thể dễ dàng xâm nhập Việt Nam. Bằng cách móc nối với một số những cá nhân bất mãn, chống đối, những hội, nhóm dân chủ trá hình như “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”, “Phong trào con đường Việt Nam, VOICE chi tiền tổ chức những lớp huấn luyện “kỹ năng sống”, chi tiền để ủng hộ những cuộc tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự, vừa tránh được tiếng “Việt Tân xúi giục”, lại vừa có danh nghĩa công khai để nhận tài trợ từ các qũy “dân chủ, nhân quyền” nước ngoài.
Như đã nói ở trên, tháng 12-2006, Trịnh Hội cùng Hoàng Tứ Duy, phát ngôn viên của tổ chức khủng bố Việt Tân và Chu Quang Ngọc, cảm tình viên chí cốt của Việt Tân đã đứng ra thành lập cái gọi là “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại – Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment – viết tắt là VOICE” với mục đích mà mới nghe qua, ai cũng thấy nó rất ư cao cả, nhân đạo: “Giúp đỡ những thuyền nhân Việt Nam cuối cùng ở Thái Lan được sang Canada định cư sau hơn 24 năm chờ đợi, góp phần giúp đỡ các nạn nhân người Việt của cơn bão Hải Yến ở Philippines trong việc tái kiến thiết và gây dựng lại cuộc sống”.
Theo luật pháp Mỹ cũng như nhiều quốc gia phương Tây, chính phủ các nước này không được phép tài trợ tiền bạc, vật chất cho những tổ chức chính trị được lập ra để chống phá các nước khác, mà chỉ được phép cấp tiền với danh nghĩa triển khai các dự án phi chính phủ (NGO). Vì thế, Việt Tân – thông qua Trịnh Hội đã cho ra đời VOICE để có cớ nhận tiền từ các quỹ dân chủ, nhân quyền, như “Tổ chức bảo vệ quyền dân sự” (CRD), “Quỹ Quốc gia vì dân chủ” (NED)… Theo Trịnh Hội, anh ta làm việc này hoàn toàn không vì lợi nhuận, mỗi tháng chỉ nhận 100USD để chi tiêu qua ngày.
Thế nhưng việc “giúp đỡ”, hỗ trợ” những người vượt biên và những nạn nhân của cơn bão Hải Yến quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là các lớp đào tạo về xã hội dân sự, kỹ năng hoạt động bí mật, bảo mật thư từ, thông tin trên mạng Internet… Một số nhà quan sát nhân quyền ở Philippines cho biết lĩnh vực và phạm vi hoạt động của VOICE rất rộng. Cứ mỗi dự án được NED, CRD chi tiền, VOICE chỉ dùng một phần nhỏ vào những hoạt động “từ thiện” nhằm che mắt dư luận, còn phần lớn giao cho Việt Tân để yểm trợ, điều phối các hội nhóm, cá nhân chống đối ở Việt Nam.
Tiêu biểu như dự án đào tạo những nhà hoạt động xã hội dân sự, mỗi năm VOICE nhận được hàng triệu USD nhưng vì không tìm được người từ Việt Nam sang học nên lắm khi VOICE lập lại danh sách của những nhóm học viên cũ – chỉ thay đổi họ tên cho có vẻ mới rồi học đi học lại hết khóa này đến khóa khác. Lẽ dĩ nhiên, tiền dư ra từ những khóa học ấy, chảy vào túi Trịnh Hội cùng tổ chức khủng bố Việt Tân.
Trước nguy cơ bị vạch mặt, ngày 25-4-2016, Trịnh Hội đã viết một bài đăng trên báo Người Việt, xuất bản tại miền nam bang California, Mỹ, với tựa đề: “Việt Tân, VOICE và Tôi”. Trong bài viết này, anh ta than thở: “Suốt 10 năm dài từ 1997 đến 2007, tôi và các thiện nguyện viên khác mỗi người chỉ được phát 100USD/tháng từ quỹ của văn phòng do chính tay tôi và các bạn bè thân hữu quyên góp”.
Chỉ với những dòng chữ ấy, Trịnh Hội đã bộc lộ sự gian dối, bởi lẽ tháng 12-2006, VOICE mới được Việt Tân chỉ đạo cho anh ta thành lập. Trước đó, từ năm 1997 đến 1999, Trịnh Hội đã sang Philippines làm việc cho “Ủy ban cứu người vượt biển (PBSOS) do Trịnh Đình Thắng nặn ra.
Đến năm 2001, Trịnh Hội quay lại Philippines theo kế hoạch của đảng Việt Tân. Và mặc dù chỉ được phát có 100USD/tháng, nhưng Trịnh Hội lại có đến 3 căn nhà ở Mỹ với tổng trị giá là 2,5 triệu USD. Những căn nhà ấy anh ta không dùng để ở mà cho mướn còn bản thân anh ta thì đi thuê nhà trọ, nay chỗ này mai chỗ kia cốt để chứng tỏ cho cộng đồng người Việt hải ngoại biết anh ta lập ra tổ chức VOICE, hoạt động “thiện nguyện” không phải vì tiền!
HOA SÚNG









Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

LLỢI DỤNG CHUYẾN THĂM CỘNG HOÀ PHÁP CỦA TỔNG BÍ THƯ
NGUYỄN PHÚ TRỌNG, CÁC LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG TĂNG CƯỜNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Trước sự kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Pháp từ ngày 25-3-2018 đến ngày 27-3-2018 theo lời mời của Tổng thống Emmanuel-Macron, nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) kêu gọi Chính phủ Pháp lên tiếng với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về việc Việt Nam trấn áp các nhà báo và blogger độc lập. Lại thêm một hành động vô ích!
Những năm gần đây, RSF rất “quan tâm” đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam; các hoạt động của họ ngày càng dày đặc liên quan đến những blogger trong nước. Từ đầu năm 2017 tới nay, RSF đã có 10 lần ra thông cáo báo chí với nhiều thành kiến hoặc đòi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, như: ngày 25-01-2017, lên án việc bắt giữ Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Oai và Nguyễn Văn Hóa; ngày 26-4-2017, trong bản báo cáo thường niên về Chỉ số tự do báo chí thế giới, RSF xếp Việt Nam đứng thứ 175/180 nước; ngày 30-7-2017, nhân sự kiện nhóm Nguyễn Bắc Truyển bị bắt, RSF phê phán chính quyền Việt Nam đột ngột gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến; ngày 07-6-2017, cực lực phản đối việc tước quốc tịch ông Phạm Minh Hoàng; ngày 23-6-2017, yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện cho ông Phạm Minh Hoàng và kêu gọi Chính phủ Pháp can thiệp khẩn cấp; ngày 18-8-2017, kêu gọi Việt Nam trả tự do cho blogger Nguyễn Văn Oai; ngày 17-10-2017, vận động công luận kêu gọi chính quyền Việt Nam chấm dứt tình trạng vi phạm quyền tự do thông tin. Đặc biệt, tháng 11-2017, nhân Hội nghị cấp cao APEC tại Đà Nẵng, RSF lôi kéo khoảng 10 hiệp hội phi chính phủ phát động chiến dịch cho quyền tự do thông tin tại Việt Nam, kêu gọi Hà Nội ngưng truy bức công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận. Mới nhất là vào tháng 02-2018, sau khi blogger Phạm Đoan Trang bị công an Hà Nội chất vấn vì những hoạt động trái luật, RSF kêu gọi Nghị Viện Châu Âu tạm hoãn việc phê chuẩn Hiệp định tự do thương mại với Việt Nam.
Mặc dù RSF có tần suất can thiệp, chống phá dày đặc, nhưng trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam, không có nguyên thủ quốc gia nào để ý đến những lời kêu gọi phi lý đó, cụ thể qua các cuộc hội đàm ngoại giao, như: chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; Thủ tướng Ca-na-da thăm Việt Nam; Tổng thống Đ.Trump thăm Việt Nam nhân dự Hội Nghị thượng đỉnh APEC năm 2017, v.v.
Điều đó cho thấy, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam được Đảng, Nhà nước quan tâm đúng mức và thi hành đầy đủ, phù hợp với luật pháp, văn hóa trong nước và quốc tế; được nhân dân và chính phủ các nước thông cảm, chia sẻ. Hơn nữa, dư luận quốc tế đã lên án cáo buộc những tường trình của RSF thường có chọn lọc từ trước. Theo định hướng từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, RSF chọn lọc, bỏ qua tất cả các tường trình về những hoạt động chống lại nhà báo ở nước Mỹ và những nước đồng minh với Mỹ, như: RSF đã im lặng nhiều năm trong vụ người quay phim của hãng Al-Jazeera là Sami-Al-Haj đã bị bắt cóc tại Pakistan lúc đang trên đường công tác đến Afghanistan, bị tra tấn và vào ngày 13-6-2002 bị dẫn về Guantánamo; không được nhắc đến việc 16 nhà báo bị giết chết trong lần NATO không kích đài truyền hình Nam Tư RTS, v.v.

HƯỚNG DƯƠNG
BỘ MẶT THẬT CỦA TÊN PHẢN ĐỘNG PHẠM TRÍ DŨNG
Phạm Chí Dũng, “Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam”, hồi trẻ học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự; làm khoa học, kỹ thuật không nổi, Dũng quay ra học kinh tế và có học vị Tiến sĩ Kinh tế; tuy học vị cao nhưng Dũng buôn không được, bán chẳng xong và chắc chắn không có đóng góp gì trong ngành kinh tế; cuối cùng, anh ta quay ra viết văn. Mặc dù đã “quá tam ba bận”, nhưng xem ra, nghiệp văn cũng không sáng sủa gì, vì Dũng có cái nhìn rất ấu trĩ. Điều đó được thể hiện rõ trong bài viết “Lãnh đạo Việt Nam chỉ bảo vệ dầu khí, không bảo vệ ngư dân”.
Về mặt đường lối, Đảng, Nhà nước có chủ trương: “phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị trí tiềm năng biển của nước ta gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh bảo vệ chủ quyền vùng biển”. Trên cơ sở đó, chúng ta đã xây dựng “Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; ban hành một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển thủy sản được quy định ở Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Cùng với đó, Nhà nước ta chủ chương kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển.
Căn cứ vào đường lối đó, các cấp, các ngành đã triển khai mạnh mẽ nhiều chương trình bảo vệ an ninh trên biển, hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển; xây dựng, kiện toàn hệ thống phương án tác chiến bảo vệ các khu vực biển, đảo, quần đảo phù hợp với sự phát triển mới của tình hình; kiện toàn các lực lượng chuyên trách, thành lập các đội tàu tuần tra Biên phòng, Kiểm ngư, Cảnh sát biển, Hải quan; xây dựng, bổ sung hệ thống phương tiện hỗ trợ, như: trinh sát, quan trắc, cảnh giới từ xa, thông tin liên lạc hàng hải, v.v. Đồng thời, đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng, an ninh biển cho toàn dân, nhất là các lực lượng trực tiếp hoạt động trên biển; xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa ngư dân với bộ đội biên phòng, cảnh sát biển nhằm giúp nhau sản xuất, vừa là cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên biển, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển, v.v.
Chỉ sau gần 2 năm thực hiện Nghị định 67, đã có 156 tàu đánh bắt xa bờ, 26 tàu dịch vụ hậu cần được hạ thủy nhờ nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng; nhiều cơ sở hậu cần nghề cá được xây dựng; có 14.977 tàu cá trên 90CV của ngư dân tại 28 tỉnh, thành phố ven biển được bảo hiểm, 145.960 thuyền viên được bảo hiểm, v.v. Ngoài ra, rất nhiều địa phương có sự hỗ trợ riêng cho ngư dân, như ở Đà Nẵng, miễn hoàn toàn các khoản thuế, hỗ trợ 70% chi phí bảo hiểm cho tàu 90 - 400CV; 90% cho tàu trên 400CV; hỗ trợ 100% bảo hiểm thuyền viên; hỗ trợ phí đăng kiểm cho tàu trên 90CV, v.v. Những hoạt động đó cho thấy, Đảng, Nhà nước đã và đang rất tích cực bảo vệ, hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển. Đây chính là đội quân hùng hậu tham gia tích cực vào bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói chung và bảo vệ dầu khí nói riêng. Nếu không bảo vệ ngư dân thì ai sẽ hàng ngày bám biển? khi đó, lấy gì để bảo vệ dầu khí? Thưa tiến sĩ.

HOA SÚNG

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018


CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA CÁC BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”,
“TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
         Trong những năm trở lại đây, khái niệm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nhắc nhiều trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng như là cảnh báo về một trong những nguy cơ đối với sự vững mạnh của Đảng và chế độ chính trị XHCN ở nước ta. Có thể nói, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong giai đoạn hiện nay đang là vấn đề đáng quan tâm, đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải tập trung phòng ngừa, ngăn chặn bằng nhiều biện pháp quyết liệt, đột phá nhằm loại bỏ những biểu hiện nguy hiểm này.
        “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi ngay từ bên trong nội bộ ta, sự thay đổi theo chiều hướng xấu, chiều hướng tiêu cực và sẽ tạo ra một sự suy thoái, xuống cấp của chế độ, dẫn đến phải chuyển hóa về bản chất thể chế chính trị XHCN. Trong diễn tiến phát triển của lịch sử nhân loại đã chứng minh cụ thể và vẫn còn giá trị nóng hổi tại Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước.
        Qua tổng kết lịch sử, trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, có nguyên nhân “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ đảng viên và tổ chức đảng. Những sai lầm trong đường lối chính trị của đảng cộng sản ở các nước đó đã làm cho CNXH lâm vào trì trệ, khủng hoảng; cộng với đó là sự tấn công của các thế lực thù địch làm cho tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên do bản lĩnh non kém đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, buông lỏng vai trò lãnh đạo, xa rời nguyên tắc đảng, thủ tiêu đấu tranh..., dần đi vào lập trường của giai cấp tư sản, làm cho CNXH ở đó nhanh chóng tan rã.

       Nhận rõ tính chất nguy hiểm của yếu tố “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những năm qua, trong nhiều kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, Đảng ta từng cảnh báo về tình trạng này. Ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ “tình trạng buông lỏng chuyên chính vô sản thể hiện ở nhiều khuyết điểm trong cải tạo XHCN...; không chấp hành đường lối và nguyên tắc của Đảng”.
      Đến Đại hội XI năm 2011, Báo cáo chính trị của Đảng khẳng định: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”... Như vậy, những dấu hiệu của sự suy thoái, tự diễn biến trong nội bộ đảng và hệ thống chính trị đã xuất hiện, diễn ra một thời gian dài nhưng chưa được ngăn chặn kịp thời, các biểu hiện này đã hiện hữu thành một trong những thách thức, nguy cơ của đất nước, chế độ ta. 
      Có thể xem đây là “nguy cơ của tất cả những nguy cơ” trong quá trình đi lên CNXH. Đặc biệt, khi đất nước ta đang trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào trên tất cả các lĩnh vực nhưng chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tăng cường chống phá Việt Nam trên tất cả các mặt, nhất là âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; ngăn cản con đường đi lên CNXH của đất nước ta.
       Trong đó, chúng tập trung tấn công làm suy yếu nội bộ, thực chất là tác động chuyển hóa chính trị và thúc đẩy các yếu tố tự diễn biến, tự chuyển hóa. Trong khi đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường chính là những nguyên nhân cộng hưởng trực tiếp làm gia tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này được minh chứng rõ khi một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều hành vi vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hạn chế về năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống thiếu lành mạnh; tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn chưa được đẩy lùi; xuất hiện ngày càng nhiều các biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ ở không ít tổ chức đảng, chính quyền các cấp. 
Nguy hiểm hơn, đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn tại, phát triển của chế độ XHCN. Một số cá nhân, tổ chức lợi dụng danh nghĩa “phản biện”, “góp ý” để bày tỏ quan điểm chính trị tự do dân chủ theo kiểu phương Tây. Trong học sinh sinh viên, thanh thiếu niên có không ít bạn trẻ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về đạo đức, lối sống, dần đánh mất lòng tin vào con đường đi lên CNXH và bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động tham gia vào các hành vi vi phạm pháp luật...

      Có thể nói, tình trạng đó đã và đang làm tổ chức đảng, chính quyền suy yếu. Cán bộ thoái hóa, suy giảm trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện hoạt động lãnh đạo, quản lý dẫn đến sai lầm trong việc đề ra chủ trương, quyết sách về kinh tế - xã hội. Từ đó, tất yếu sẽ dẫn tới tự chuyển hóa, thay đổi bản chất chế độ XHCN mà đất nước ta đang tập trung xây dựng.

      Trên địa bàn Quảng Trị, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp cùng với sự đồng thuận trong quần chúng nhân dân nên yếu tố “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chưa được bộc lộ rõ. Tuy nhiên, thời gian gần đây cũng bắt đầu xuất hiện một số biểu biện phức tạp như: Xuất hiện hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có quan điểm chính trị trái quan điểm của Đảng; ngày càng nhiều hiện tượng cán bộ, đảng viên, nhân dân đọc, chuyền tay nhau đọc các tài liệu có nội dung nhạy cảm; một số cá nhân đã trực tiếp viết bài, gửi bình luận xấu đến các trang web phản động; tham gia ký tên kiến nghị tập thể với Đảng, Nhà nước về các vấn đề nhạy cảm thông qua những trang web không chính thống... Đây chính là những biểu hiện mà cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần lưu ý, kịp thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không để lan rộng.

      Để chủ động hạn chế đến mức thấp nhất, qua đó dần loại bỏ các biểu biện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chúng ta cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn thể cán bộ, đảng viên tham gia. Trong đó, cần tập trung làm tốt những công tác sau:
        1.Thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về nguy cơ suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đồng thời nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tập trung vào hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, nhất là tư duy mới của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh tuyên truyền nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” hiện nay.
        2. Tập trung, tăng cường công tác xây dựng đảng, củng cố, đoàn kết nội bộ các cơ quan, tổ chức, trong đó đặc biệt chú ý đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đây là giải pháp có tính quyết định để ngăn chặn nguy cơ “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa”. Mỗi tổ chức đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đặc biệt, chú trọng thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình.
        Cần chú trọng xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; tránh để xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, chủ động khắc phục những hạn chế, yếu kém trong mỗi tổ chức đảng, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng tạo cớ kích động; chăm lo giải quyết có hiệu quả những bức xúc, khó khăn về đời sống, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân như đất đai, việc làm, tệ nạn xã hội... không để những bức xúc của nhân dân bị dồn nén lâu ngày, không được giải quyết một cách dứt điểm...
        3. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, nhất là về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực công tác; tích cực “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao nguyên tắc tự phê bình và phê bình; thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, đặc biệt là cán bộ, công chức làm những việc dễ phát sinh tiêu cực, có liên quan trực tiếp với công dân, trong các ngành quản lý tài chính, tiền tệ, đất đai, đầu tư, xây dựng, trong các cơ quan bảo vệ pháp luật...; đảm bảo việc kê khai tài sản được thực hiện có nền nếp, thực chất... 
       4. Cấp ủy đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến” nhằm giải quyết, xử lý kịp thời. Trong đó, cần tập trung phát hiện những cán bộ, đảng viên có nhận thức chính trị không vững vàng, mơ hồ về lập trường chính trị, có quan điểm sai trái, không tin vào chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có lối sống thực dụng, phẩm chất đạo đức không lành mạnh, tham nhũng, tiêu cực, xa rời nhân dân. Qua đó kiên quyết đấu tranh, xử lý những sai phạm của cán bộ, đảng viên theo các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự làm tấm gương để nhân dân noi theo.

                                            BIỂN RỘNG