VỀ SỰ VẬN DUNG SÁNG TẠO TUYÊN NGÔN ĐẢNG CỘNG SẢN VÀO CÁCH
MẠNG VIỆT NAM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Ngày 24 tháng 02 năm
1848, Tuyên ngôn Đảng Cộng sản do C.Mác, F.Ăngghen soạn thảo đã được xuất bản
lần đầu tiên tại Luân Đôn. Đó là một tư tưởng lớn, một tư duy vạch dòng thời
đại. Tuyên ngôn Đảng Cộng sản đã thực sự trở thành cương lĩnh chính trị của Chủ
nghĩa cộng sản khoa học; là ngọn cờ tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế. Bảy mươi năm, sau ngày Tuyên ngôn Đảng Cộng
sản ra đời, Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ lý luận trở thành hiện thực bằng
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh
sinh ra, lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than khổ cực, Người
đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Sau gần một thập kỷ bôn ba,
tìm tòi, khảo nghiệm ở các nước tư bản, các thuộc địa trên các châu lục, Người
đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm được con đường cứu nước, giải phóng dân
tộc là con đường cách mạng vô sản. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã
nghiên cứu kỹ, thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó
có Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Khi nghiên cứu Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã thấm
nhuần lời nhắc nhở của C.Mác, F.Angghen đối với những người cộng sản: “Bất cứ ở
đâu, bất cứ lúc nào, việc vận dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ thuộc vào
hoàn cảnh đương thời”(1). Vì vậy, khi truyền bá và vận dụng những nguyên lý của
chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh luôn căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam
vận dụng sáng tạo, đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn.
Sự vận dụng và phát triển sáng tạo Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Hồ Chí Minh
được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong bài viết này chúng tôi chỉ xin đề cập
một vài vấn đề:
1. Về
sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam: Tuyên
ngôn Đảng Cộng sản đã khẳng định, giai cấp công nhân cần phải có một chính đảng
lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp mình. Đó là Đảng Cộng sản - đội tiên phong
của giai cấp công nhân - để đoàn kết giai cấp và nhân dân lao động tiến hành
cuộc đấu tranh cách mạng lật đổ giai cấp tư sản thiết lập chuyên chính của giai
cấp vô sản. V.I.Lênin coi sự ra đời của Đảng Cộng sản là kết quả của sự kết hợp
chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, một
nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, Hồ Chí Minh thấy
rằng, việc ra đời của Đảng Cộng sản nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé, phong trào
cách mạng còn non yếu. Khái quát về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ
Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu
năm 1930”(2).
Theo Hồ Chí Minh, giai
cấp công nhân Việt Nam tuy mới ra đời còn non trẻ, số lượng ít ỏi nhưng đã có
đầy đủ những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới như: sống tập
trung, có tinh thần cách mạng cao và là giai cấp duy nhất có khả năng đảm nhiệm
sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngoài những đặc điểm chung đó, giai cấp
công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng của mình: giai cấp công nhân Việt
Nam ra đời muộn hơn giai cấp công nhân thế giới nhưng lại ra đời trước giai cấp
tư sản dân tộc nên nó đã kế thừa được truyền thống tốt đẹp của dân tộc là yêu
nước, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo,
yêu thương con người, có tình nghĩa... Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra hoà
mình vào phong trào đấu tranh của dân tộc, được sự nuôi dưỡng của phong trào
dân tộc. Trong giai cấp công nhân Việt Nam không có bộ phận "công nhân quý
tộc" nên không có miếng đất cho chủ nghĩa cải lương, công đoàn phát triển.
Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, khi chủ nghĩa đế quốc áp đặt
ách thống trị lên đất nước ta, người nông dân bị bần cùng hoá, “cha đi vào đồn
điền, hầm mỏ, anh đi vào đất đỏ cao su, bán thân đổi mấy đồng xu”, trở thành
người của giai cấp công nhân. Do đó có sự gắn bó mật thiết và mối đồng minh tự
nhiên để thiết lập liên minh công nông, tạo nên sức mạnh, nền tảng cho cách
mạng.
Phong trào yêu nước có
trước phong trào công nhân, nó được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ
nước, là dòng chủ lưu. Chính vì vậy, yêu nước là nấc thang cao nhất trong bảng
thang giá trị văn hoá tinh thần của con người Việt Nam. Phong trào yêu nước có
bề dày trong truyền thống lịch sử của dân tộc, là động lực, sức mạnh to lớn làm
nên những thắng lợi vẻ vang trong quá trình chống ngoại xâm, giành và giữ độc
lập dân tộc. Nói đến phong trào yêu nước trong tiến trình lịch sử dân tộc, chủ
yếu là phong trào nông dân; đến những năm đầu thế kỷ XX mới có thêm phong trào
của tiểu tư sản trí thức.. Phong trào yêu nước đã từng đấu tranh giành độc lập
dân tộc, đồng thời đấu tranh giành quyền dân chủ, đó là dân chủ phi vô sản. Đến
những thập niên đầu thế kỷ XX, khi phong trào yêu nước bế tắc khủng hoảng về
con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nó dễ dàng tiếp nhận con đường dân chủ
vô sản.
Mặt khác, giữa phong trào công nhân và phong trào yêu
nước có điểm tương đồng, mẫu số chung là những người dân mất nước, nô lệ và mục
tiêu chung là đấu tranh để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Phong trào yêu
nước với mục tiêu cao nhất là đấu tranh, giải phóng cho dân tộc thoát khỏi
xiềng xích nô lệ. Giai cấp công nhân đấu tranh nhằm giải phóng cho giai cấp
mình, giải phóng cho dân tộc. Song muốn giải phóng cho giai cấp thì trước hết
phải giải phóng cho dân tộc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin, là tiền đề lý luận, đáp ứng cho cả
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đối với phong trào công nhân khi
chưa có lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin dẫn đường, họ đấu tranh tự phát, hoà mình
vào phong trào yêu nước. Khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào
công nhân đã chuyển từ đấu tranh tự phát sang tự giác; từ chỗ hoà mình vào
phong trào yêu nước, đã vươn lên nắm quyền lãnh đạo phong trào và đưa phong
trào yêu nước đấu tranh theo con đường cách mạng vô sản. Theo Hồ Chí
Minh, phong trào yêu nước là miếng đất màu mỡ cho chủ nghĩa Mác - Lênin gieo
mầm và phát triển. Sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra điều
kiện, phương tiện cho các dân tộc vùng lên đấu tranh tự giải phóng, “chủ
nghĩa đế quốc đã dọn đất rồi, chủ nghĩa cộng sản chỉ cần gieo hạt giống nữa
thôi”. Khi phong trào yêu nước đấu tranh theo con đường Cần Vương, con đường
dân chủ tư sản đều lần lượt thất bại, sự bế tắc khủng hoảng về con đường cứu
nước, bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin như “đang khát có nước uống, đang đói
có cơm ăn”, họ đã tiếp nhận và góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình thành
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việc Hồ Chí Minh đưa
thêm yếu tố phong trào yêu nước vào trong các yếu tố cho sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam là một luận điểm sáng tạo, bổ sung và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin về sự ra đời của Đảng Cộng sản, phù hợp với một nước thuộc địa, nửa
phong kiến. Luận điểm đó không những có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho cách
mạng nước ta mà còn có ý nghĩa đối với các nước có điều kiện, hoàn cảnh tương
tự Việt Nam.
2. Về vấn đề dân tộc và
giai cấp: Vấn đề quan trọng, cốt lõi
của cách mạng vô sản trong Tuyên ngôn là đấu tranh giai cấp. Theo nguyên lý của
chủ nghĩa Mác, vấn đề dân tộc luôn gắn với một giai cấp nhất định, không có dân
tộc phi giai cấp, siêu giai cấp. Vấn đề dân tộc ở các nước Tây Âu đã được giai
cấp tư sản giải quyết. Các nước Tây Âu là các quốc gia, dân tộc độc lập, không
có sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, và chính họ lại đi xâm lược, áp bức thuộc
địa. Mặt khác, ở Tây Âu xã hội công dân ra đời sớm, sự phân hoá giai cấp triệt
để, mâu thuẫn giữa giai cấp giữa tư sản và vô sản đối chọi nhau, một mất, một
còn. Vấn đề C.Mác- F.Ăngghen quan tâm là vấn đề xã hội Tây Âu quan tâm: đó là
đấu tranh giai cấp. Điều đó hoàn toàn đúng ở Tây Âu, vì khi giai cấp vô
sản lật đổ tư sản, giải phóng cho giai cấp mình, đồng thời giải phóng cho dân
tộc. Vì thế, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác kêu gọi “giai cấp vô sản
ở mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự xây dựng thành một
giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo
cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu”(3). Đưa vấn đề đó vào Việt Nam thì đúng
nhưng chưa đủ, vì ở Việt Nam xã hội thuộc
địa nửa phong kiến, mâu thuẫn xã hội chưa phát triển cao như ở Tây
Âu. Người chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra như ở phương Tây”, bởi
vì “về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ,
cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở
đây”(4). Nguyễn Ái Quốc phân tích làm sáng rõ: “Những địa chủ hạng trung và
hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn
tịt, bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”... “nếu nông
dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông
dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng
có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ
lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc. Sự xung đột về quyền lợi
của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được”(5).
Mặt khác, Việt Nam còn
bị sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, dân tộc còn nô lệ. Cho nên, địa chủ, nông
dân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản đều có điểm tương đồng là người dân nô lệ, mất
nước và có nguyện vọng giải phóng dân tộc. Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt
Nam cần giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế
quốc xâm lược. Vì vậy, muốn giải phóng giai cấp vô sản theo học thuyết của Các
Mac thì trước hết phải giải phóng cho dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ
quốc. Có giải phóng được dân tộc mới giải phóng được giai cấp, nếu chỉ đấu
tranh giải phóng giai cấp thì không thể giải phóng được giai cấp và cũng không
thể giải phóng được dân tộc, vì chủ nghĩa đế quốc sẽ đàn áp cách mạng.
Nắm vững bản chất cách
mạng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã độc lập, tự chủ đề ra
đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, không giáo
điều, dập khuôn. Trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh đã
xác định: “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt
Nam hoàn toàn độc lập”.(6). Từ sự phân tích, thấy rõ vai trò, vị trí của các
giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc,
Người chủ trương liên minh các giai cấp, các tầng lớp yêu nước: “Đảng phải thu
phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, làm thổ
địa cách mạng đánh trúc bọn địa chủ và phong kiến” …Đảng phải hết sức liên lạc
với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt,.v.v... để lôi kéo
họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và
tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm
cho họ trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến.v.v..)
thì phải đánh đổ”(7). Nguyễn ái Quốc đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu nhằm
đoàn kết tập hợp hết thảy các lực lượng yêu nước, thương nòi, tạo ra sức mạnh
dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc là hoàn toàn
đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đồng thời, Người luôn đứng vững trên
lập trường, quan điểm của giai cấp vô sản để giải quyết vấn đề dân tộc: “Trong
khi liên lạc với các giai cấp, phải cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi
ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”(8). Như vậy, Nguyễn ái Quốc đã
đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản để giải quyết vấn đề dân tộc. Tư
tưởng đó đã soi sáng cho Đảng và nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong
tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám (1945). Đây là luận điểm sáng tạo của Hồ
Chí Minh đã bổ sung, phát triển cho chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải
phóng dân tộc ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
Những nguyên lý do
C.Mác, F.Ăngghen nêu lên trong Tuyên ngôn đã được Hồ Chí Minh luôn luôn quán
triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo đã đưa cách mạng Việt Nam đi tới giành
những thắng lợi to lớn. Ngày nay, bối cảnh lịch sử mới đang đặt ra cho chúng ta
tiếp tục nghiên cứu vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đến thắng lợi hoàn
toàn.
Chú thích:
1. C.Mác và Ph.Ăngghen.
Tuyển tập, tập I. Nxb Sự thât – Hà Nội 1980, tr 504
2. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 10. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 8.
3. C.Mác và Ph.Ăngghen.
Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 1995, tr 623 – 624
4. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 465.
5. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 464.
6. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 3.
7. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 3.
8. Hồ Chí Minh, Toàn
tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội 2000, tr 3.
Công Bằng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét