Thứ Tư, 17 tháng 5, 2023

 

Một số nguyên nhân khách quan dẫn đến sự tồn tại và gia tăng các tội phạm tham nhũng

Thứ nhất, tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

 Sau năm 1986, Đảng ta nhận thức rõ nền kinh tế hàng hóa có nhiều mặt tích cực cần vận dụng trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Tổng kết thực tiễn hơn 35 năm tiến hành đổi mới, lý luận về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ rõ như: Ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, văn hóa, xã hội; phân hóa giàu nghèo; cạnh tranh không lành mạnh; ô nhiễm môi trường và phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội... trong đó có vấn nạn tham ô, tham nhũng. Các quy luật kinh tế, cạnh tranh, đặc biệt là quy luật giá trị không chỉ tác động đến kinh tế mà còn tác động đến tư tưởng, tình cảm, kích thích sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất. Trong điều kiện đó, một số người quá đề cao các yếu tố vật chất đã hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội. Một số người vì những mục tiêu cá nhân, để làm giàu, kiếm tiền đã dùng mọi thủ đoạn, trong đó có tham ô, hối lộ, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, che dấu, chuyển hóa, tẩu tán tài sản tham nhũng như: Lợi dụng cơ chế, chính sách ứng dụng khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư; chuyển tài sản ra nước ngoài, mua tiền kỹ thuật số, tiền điện tử; mua quốc tịch nước ngoài... gây khó khăn cho công tác điều tra, phát hiện, thu thập, thu hồi các tài sản trong các vụ án tham nhũng.

Thứ hai, do hệ thống chính sách, pháp luật ở nước ta thiếu đồng bộ và nhất quán. Thể chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bất cập, chưa giải quyết triệt để những vấn đề thực tiễn đặt ta; tính công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực kinh tế còn hạn chế, chưa xóa bỏ được cơ chế “xin, cho”, là điều kiện dẫn đến tham nhũng. Pháp luật là công cụ mạnh nhất để ngăn chặn tham nhũng, song chế tài xử lý chưa đủ mạnh để đủ sức răn đe, pháp luật còn nhiều kẽ hở, cơ chế quản lý còn nhiều yếu kém để các đối tượng lợi dụng để tham nhũng. Các thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa số hóa, tự động hóa; cơ chế quản lý tài sản, minh bạch tài sản chưa hiệu quả và chặt chẽ tạo kẽ hở cho các cán bộ, viên chức tham nhũng.

Thứ ba, công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.

Cơ chế, chính sách quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội vẫn còn những hạn chế, thiếu sót để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, đặc biệt trên các lĩnh vực: Quản lý ngân sách, vốn, tài sản nhà nước, quản lý đất đai, đầu tư xây dựng , tổ chức - cán bộ, tín dụng, ngân hàng, y tế, giáo dục... còn một số kẽ hở để các đối tượng lợi dụng phạm tội; thể chế về quản lý kinh tế - xã hội góp phần phòng ngừa, chống tham nhũng, lãng phí còn bất cập; công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước trên một số lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm dễ xảy ra sai phạm còn lỏng lẻo, yếu kém, chưa thường xuyên, hiệu quả, chế tài xử lý chưa mang tính răn đe. Các yếu tố trên dễ bị các đối tượng lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng, nếu không giải quyết kịp thời sẽ làm cho tình trạng tham nhũng gia tăng và khó có thể ngăn chặn, phát hiện và xử lý.

Thứ tư, công tác quản lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn hạn chế. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; chính sách tuyển dụng, sử dụng và chế độ đãi ngộ đối với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang chưa thỏa đáng; “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở một số nơi thực hiện thiếu quyết liệt”. Trong khi đó, “công tác tư tưởng còn có mặt hạn chế, thiếu kịp thời, tính thuyết phục chưa cao”, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cán bộ, đảng viên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có nơi, có lúc chưa được chú trọng đúng mức, chưa đạt được hiệu quả toàn diện. Mặt khác, việc đưa những người thiếu trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức vào làm việc tại các cơ quan nhà nước dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả, làm suy thoái hệ thống chính trị và tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng phát triển.

Thứ năm, công tác PCTN đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện đạt được kết quả quan trọng, song “công tác PCTN tại một số địa phương, bộ, ngành chuyển biến chưa rõ rệt, trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác PCTN chưa được đề cao”, việc phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng còn nhiều khó khăn; công tác thu thập, bảo quản, thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng còn hạn chế; cơ chế tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan còn yếu; cơ chế kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch tài sản đối với người có chức vụ, quyền hạn chưa chặt chẽ và hiệu quả… dẫn đến tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn phức tạp, biểu hiện tinh vi hơn.

Qua những phân tích trên đây chúng ta thấy rằng nguyên nhân khách quan không trực tiếp dẫn đến tội phạm tham nhũng, nhưng nó là môi trường, điều kiện thuận lợi để tham nhũng tồn tại và phát triển.

 Hoằng Tháo

 

Kẻ thù luôn tìm cách nói xấu Đảng và Nhà nước ta mọi lúc mọi nơi, mọi nội dung

Cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa xuất bản được đông đảo bạn đọc đón đọc; tiếp tục bày tỏ niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; cho rằng, vấn đề căn cơ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phòng ngừa từ xa, từ sớm.

“Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một cuốn sách chứa đựng giá trị to lớn; được tổng kết lại từ những bài phát biểu, bài nói chuyện và những chỉ đạo của Tổng Bí thư về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Song, với góc nhìn phiến diện cùng động cơ chính trị thiếu trong sáng, nhiều thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cuốn sách. Chúng rêu rao rằng: Cuốn sách “không có giá trị gì”, “chống tham nhũng, tiêu cực mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức”,…

Đó là âm mưu thâm độc nhằm hạ thấp uy tín của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói riêng và uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng ta nói chung. Đồng thời, phủ nhận mục đích, ý nghĩa, kết quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng cả hệ thống chính trị đã nỗ lực thực hiện trong nhiều năm qua. Sâu xa hơn là nhằm phá hoại sự đồng thuận, gây mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ Đảng, Nhà nước và trong xã hội; làm cho người dân dao động, nghi ngờ vào quyết tâm của Đảng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thủ đoạn nguy hiểm này cần được nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Đầu tiên, cần khẳng định, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng, là quyết tâm chính trị lớn của Đảng ta, Nhà nước ta. Trong đó, cuốn sách chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ bản chất, biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực; tính tất yếu phải kiên định, kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kết quả đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực và đưa ra những giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới.

Thực tiễn đã minh chứng, những quan điểm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tiếp là tư tưởng, quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp. Đặc biệt, trong hơn 10 năm trở lại đây, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã thực sự “trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”. Đảng và Nhà nước ta đã quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc và nhân văn; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng; tăng cường xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế – xã hội và phòng chống tham nhũng; kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng phòng, chống tham nhũng,…

Từ đó, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao ý chí, niềm tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ta ngày càng giàu mạnh, ngày càng phát triển, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.

Chính vì vậy, có thể khẳng định cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là công trình rất giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn; là “cẩm nang quan trọng” về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khẳng định rõ quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Cho nên, luận điệu cho rằng: “chống tham nhũng, tiêu cực mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” là hoàn toàn sai trái, phản ánh không đúng thực tế cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, cần lên án, bác bỏ kịp thời.

LHS


 ứng dụng hiệu quả khoa học - công nghệ vào phòng, chống dịch bệnh.

 Vừa qua, chúng ta đã ứng dụng tương đối tốt các thành tựu khoa học - công nghệ trong phòng thủ dân sự nói chung, phòng, chống dịch Covid 19 nói riêng. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu cá nhân chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, khai báo y tế thủ công mất nhiều thời gian, lãng phí, tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm bệnh; ứng dụng công nghệ trong giáo dục - đào tạo, nhất là dạy học online thiếu chủ động, còn nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng chất lượng giáo dục - đào tạo. Việc duy trì sử dụng giấy đi đường cùng các loại giấy tờ khác cho thấy cách làm thủ công, chưa phù hợp với thực tiễn phát triển của thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây cũng là vấn đề đặt ra cho lĩnh vực khoa học - công nghệ trong triển khai phòng thủ dân sự với các tình huống, cấp độ khác nhau.

Trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, Việt Nam cần kết hợp ngoại giao, nhập vaccine với đẩy nhanh tiến trình nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine các loại, nhằm thực hiện mục tiêu bao phủ vaccine toàn dân, tạo “lá chắn” bảo vệ người dân trong điều kiện bình thường mới. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong kiểm soát dịch và hỗ trợ điều trị, như: phát huy nền tảng của hệ tri thức Việt số hóa trong phòng, chống dịch; triển khai bản đồ vùng dịch sử dụng Vmap, nâng cấp phần mềm khai báo y tế,... tạo ra các sản phẩm khoa học - công nghệ phục vụ hiệu quả công tác truy vết, kiểm soát, khoanh vùng, dập dịch, dự báo dịch tễ, v.v. Nghiên cứu chế tạo, sản xuất, nâng cấp, mở rộng thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch Covid-19, như: Robot, máy thở, máy hô hấp, khẩu trang y tế, khẩu trang kháng khuẩn. Quá trình ứng dụng cần nghiên cứu các biện pháp kiểm soát, chống sự phá hoại bằng công nghệ từ bên ngoài.

Thiên tai, dịch bệnh, thảm họa,… không chỉ gây tổn thất lớn về tính mạng, tài sản, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức mạnh quốc gia, sự ổn định chính trị, xã hội. Do đó, nghiên cứu, nắm chắc để kích hoạt, vận dụng sáng tạo, hiệu quả các nguyên tắc, cơ chế, biện pháp phòng thủ dân sự theo các cấp độ, nhằm đối phó thắng lợi với các tình huống an ninh phi truyền thống, giữ cho đất nước an toàn, ổn định, là việc làm cần thiết, quan trọng.

BĐT

 


 duy trì nghiêm luật pháp trong suốt quá trình phòng, chống dịch.

Thời gian qua, trong khi cả nước đang gồng mình chống dịch, thì một số cán bộ, đảng viên đã vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến phẩm chất, đạo đức gây bất bình trong nhân dân. Xuất hiện một số hành động bột phát, chống đối người đang thực thi nhiệm vụ phòng, chống dịch; từ phạm pháp hình sự đến xúc phạm, khiêu khích, tấn công người thi hành công vụ, phá hoại tài sản, không chấp hành quy trình, quy định phòng, chống dịch,… nếu không nghiêm trị có thể xảy ra biểu tình, gây rối, vô hiệu hóa chính quyền các cấp. Đối tượng vi phạm đa dạng thành phần, lứa tuổi, thậm chí có cả cán bộ các cơ quan nhà nước, trí thức, cán bộ nghỉ hưu, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật và lệch chuẩn về đạo đức đó cần phải được nghiêm trị bằng pháp luật kết hợp tăng cường giáo dục đạo đức xã hội.

Theo đó, phải củng cố hệ thống cơ quan thực thi pháp luật, xây dựng kế hoạch phòng thủ dân sự các cấp với nhiều tình huống, kịch bản. Dự kiến các cấp độ chống đối, bất tuân dân sự trong nước kết hợp với lợi dụng can thiệp, chống phá từ bên ngoài và biện pháp xử lý ngay khi đất nước còn ổn định, không để bị động, bất ngờ. Khi xảy ra các hiện tượng chống đối, tùy vào tính chất, mức độ nghiêm trọng để xử lý; kiên quyết trấn áp kịp thời, duy trì sự nghiêm minh của pháp luật trong mọi điều kiện, ổn định tư tưởng nhân dân.

Hoằng Tháo


 phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng phòng thủ dân sự trong phòng, chống dịch Covid-19.

Đại dịch Covid-19 đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp cần có sự chung sức của nhiều lực lượng. Một trong số đó là Lực lượng phòng thủ dân sự phòng, chống dịch Covid-19 gồm nhiều thành phần, trong đó nòng cốt, chủ yếu là lực lượng Y tế, Quân đội, Công an, Dân quân tự vệ,… đây là lực lượng chủ công, tuyến đầu trong thực hiện phương châm “chống dịch như chống giặc”. Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ và trình độ chuyên môn khác nhau, nên việc sử dụng và phát huy năng lực, sở trường của từng lực lượng trong phòng, chống dịch cũng khác nhau. Đối với lực lượng Y tế, tập trung tham mưu cho Ban Chỉ đạo quốc gia chỉ đạo các ban, bộ, ngành, địa phương thực hiện các biện pháp chuyên ngành y tế về đánh giá, dự báo tình hình dịch bệnh; cơ sở, chỉ tiêu phân chia cấp độ, khu vực, vùng dịch; các biện pháp khoanh vùng, cách ly, thu dung, điều trị, dập dịch; phối hợp với các địa phương, lực lượng liên quan kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Đối với Quân đội - lực lượng nòng cốt trong phòng thủ dân sự, thực hiện chức năng đội quân công tác, tổ chức các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cả ở trong và ngoài Quân đội. Trong đó, tập trung nhận định, đánh giá, dự báo chính xác tình hình; tổ chức diễn tập thống nhất trình tự, nội dung, phương pháp chỉ huy, điều hành, phối hợp, hiệp đồng phòng, chống dịch ở các cấp độ; ngăn chặn dịch bệnh từ bên ngoài vào lãnh thổ đất nước; phối hợp với lực lượng Y tế, Công an,… tổ chức các trung tâm cách ly, bệnh viện dã chiến theo chỉ đạo của Chính phủ, cấp ủy, chính quyền địa phương; hợp tác quốc tế, nghiên cứu sản xuất thiết bị y tế, vaccine; điều động khẩn cấp lực lượng quân y và bộ đội ở các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng,… xung kích tham gia phòng, chống dịch trên các địa bàn; giúp đỡ vật chất, động viên tinh thần nhân dân vượt qua khó khăn, phát huy phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và thực hiện các nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Đối với lực lượng Công an, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng phát huy vai trò nòng cốt trong phòng, chống dịch; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tính mạng, tài sản, giúp nhân dân ổn định đời sống và thực hiện các nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác. Ngoài ra, cần phát huy vai trò xung kích của lực lượng Dân quân tự vệ, Thanh niên tình nguyện, Hội Cựu chiến binh, tổ dân phố, tổ Covid cộng đồng, các nhóm tình nguyện trong xã hội,… trong công tác phối hợp hỗ trợ trực tiếp tại các địa bàn có dịch, v.v.

LHS


 một số nội dung, biện pháp Để xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức tiếp tục nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nguồn nhân lực, xây dựng và phát huy nguồn lực con người; về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết số 28-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 29-NQ/TWvề Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và Nghị quyết số 30-NQ/TWvề Chiến lược An ninh mạng quốc gia… Trên cơ sở đó, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng vị trí, vai trò, yêu cầu xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên đối với vấn đề quan trọng này. Đồng thời, làm chuyển biến về trách nhiệm, hành động, tính tự giác trong tham gia xây dựng và phát huy nguồn lực con người gắn với quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và từng cá nhân.

Để công tác lãnh đạo, chỉ đạo mang lại hiệu quả thiết thực, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; ban hành nghị quyết chuyên đề hoặc lồng ghép trong nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giai đoạn và thường kỳ. Các cơ quan, tổ chức cụ thể hóa, xây dựng kế hoạch thực hiện ở cấp mình. Các tổ chức quần chúng xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện nghị quyết của cấp ủy và hướng dẫn của cơ quan cấp trên; tổ chức nhiều chương trình hành động, hoạt động bổ ích nhằm tạo chuyển biến đồng bộ về nhận thức và hành động ở các lực lượng.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ hoạt động giáo dục đào tạo; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ phù hợp, góp phần phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”. Theo đó, cần quán triệt và thực hiện phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Thường xuyên đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện. Quan tâm phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao; gắn giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ; hình thành các trung tâm nghiên cứu, các nhóm đổi mới sáng tạo.

Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ. Đây là một điểm quan trọng giúp phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ quan, tổ chức trên cơ sở công khai, khách quan, minh bạch. Trong sử dụng, đánh giá cán bộ cần bảo đảm tính toàn diện về cả phẩm chất, năng lực; phải căn cứ vào chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ; lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu. Đồng thời, phải có cơ chế đãi ngộ hợp lý để cán bộ yên tâm công tác, thực sự gắn bó với cơ quan, tổ chức và tạo động lực để cán bộ cống hiến, phấn đấu.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ hiện đại.

Đây vừa là nội dung, biện pháp, vừa là đòi hỏi mang tính cấp thiết hiện nay gắn với sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, để xây dựng và phát huy nguồn lực con người gắn với thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cần đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ hiện đại. Các cấp, các ngành vì vậy phải “tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại... Có chiến lược phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với xu thế chung của thế giới và điều kiện đất nước... Chú trọng phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”.

Thường xuyên đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ. Quan tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ và năng lực làm chủ các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phát triển lĩnh vực khoa học công nghệ lưỡng dụng, vừa sản xuất phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời bình, vừa có thể nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tác chiến khi có tình huống xảy ra. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học công nghệ quốc phòng; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, sử dụng, khai thác có hiệu quả các khí tài hiện đại trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm chủ động chiến lược trong mọi tình huống.

Bốn là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa xã hội gắn với khơi dậy ở mỗi người khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Với mỗi quốc gia, dân tộc, văn hóa luôn là sức mạnh nội sinh. Đại hội XIII của Đảng chủ trương “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới... Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”. Đây là điểm mới, thể hiện tư duy toàn diện, tầm nhìn chiến lược của Đảng; tạo cơ sở mang tính lâu dài để xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa hiện nay.

Trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức cần quan tâm xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; hoàn chỉnh và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện phản văn hóa, biểu hiện quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội trong cơ quan, tổ chức. Đặc biệt chú trọng “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Qua đó, tạo sức mạnh tổng hợp, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bàn Luận


 Phát huy nguồn lực con người trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Tại Hội nghị Trung ương VIII khóa XI, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã được đề cập trong Nghị quyết của Trung ương về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp đó, Báo cáo chính trị Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu những nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây đột biến”. Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, từ sớm, từ xa được chính thức xác lập. Đến Đại hội XIII, kế sách này được bổ sung, phát triển: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến”, “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”. Có thể thấy, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; đồng thời, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện hiện nay. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vừa là quan điểm chỉ đạo cơ bản, vừa là phương thức hành động tối ưu để chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là quá trình lâu dài, là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để thực hiện có hiệu quả quan điểm này, yêu cầu khách quan đặt ra là phải huy động đồng bộ, tổng hợp các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Bởi suy đến cùng, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ được thực hiện trên cơ sở xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người, nguồn lực quan trọng nhất trong tổng thể các nguồn lực của một quốc gia, dân tộc.

Đặc biệt, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những cơ hội và những thách thức, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chiến lược, quyết sách đúng đắn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, phải chú trọng “xây dựng và phát huy nguồn lực con người”. Đây là vấn đề cấp bách và cũng là giải pháp chiến lược quan trọng, lâu dài nhằm xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn lực con người đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thực hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã xác định thực hiện khâu đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Các bộ, ngành, địa phương cũng xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực; thực hiện nhiều giải pháp, chính sách nhằm thu hút, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bước đầu đạt được kết quả quan trọng. Nhờ vậy, nguồn nhân lực của nước ta được tăng cường cả về quy mô và chất lượng. Theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm 791,6 nghìn người so với năm trước. Lao động đã qua đào tạo từ trình độ “sơ cấp” trở lên năm 2021 là 26,1%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm trước. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng tăng đáng kể, trong đó có một số ngành đạt trình độ khu vực và quốc tế, như: y tế, cơ khí, công nghệ, xây dựng…

Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người ở nước ta thời gian qua vẫn còn có mặt hạn chế. Chất lượng giáo dục đào tạo ở một số lĩnh vực chưa cao; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý, quản trị doanh nghiệp giỏi và đội ngũ chuyên gia trong các ngành kinh tế, kỹ thuật; công tác bồi dưỡng lý tưởng cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ còn có những hạn chế; một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa… Bên cạnh đó, số ít cán bộ trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã chỉ rõ: “...nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông, nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế… Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực… Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Xuất phát từ thực trạng nêu trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta.

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế”. Trong nước, sau hơn 35 năm đổi mới, “thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao”. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình hình biển, đảo diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện, xảo quyệt, quyết liệt hơn. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người.

NMT


 Bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trước những tác động của tình hình mới

Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu nổi bật và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế giới cận đại và hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được chứng minh bằng các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống áp bức bóc lột, vì một xã hội công bằng, tiến bộ, mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Đối với cách mạng Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định chủ nghĩa Mác - Lênin là cốt, là gốc, là nền tảng tư tưởng. “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”.

Bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; cách mạng khoa học - công nghệ (KHCN); sự bùng nổ và kết nối của thông tin; kinh tế tri thức, kinh tế số phát triển mạnh mẽ;… đã và đang là những yếu tố tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm đổi mới, hội nhập, tìm kiếm cho mình học thuyết và mô hình phát triển phù hợp. Vì vậy, sự đấu tranh về ý thức hệ không những không mất đi mà còn gay gắt và phức tạp hơn bao giờ hết. Đặc biệt, cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc và toàn diện nền kinh tế thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển. Sự phát triển về kinh tế dựa trên nền tảng tri thức đã tác động đến các giai tầng xã hội, đặc biệt là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân hiện nay đã có những biến đổi cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Theo đó, tỷ lệ công nhân trong các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp có ứng dụng KHCN có chiều hướng tăng lên; trình độ người công nhân đang tăng lên đáng kể và có sự xuất hiện “công nhân toàn cầu”,... Trước những biến đổi ấy, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: giai cấp công nhân hiện nay đang dần “teo đi” và “bị hòa tan” vào các giai cấp khác; vai trò, sứ mệnh lịch sử hiện nay không còn là của giai cấp công nhân mà thay vào đó là tầng lớp trí thức... Đây là những luận điệu biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột và sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản (CNTB).

Để xem xét vai trò lịch sử của một giai cấp, phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hoặc lực lượng xã hội nào. Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) đã từng chiến thắng chế độ phong kiến, vì chính họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất mới dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất lạc hậu của chế độ phong kiến. Trong các cuộc cách mạng ấy, giai cấp tư sản luôn là những người lãnh đạo. Vì thế, như một quá trình lịch sử tự nhiên, sự sụp đổ của chế độ TBCN và sự thắng lợi của xã hội cộng sản chủ nghĩa đều tất yếu như nhau. Trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân là con đẻ của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Và vì thế, lịch sử lựa chọn và quy định họ là giai cấp duy nhất có sứ mệnh xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), chủ nghĩa cộng sản.

Sau gần 500 năm phát triển, CNTB đã tạo ra lực lượng sản xuất không lồ. Song thực chất, đó là thành tựu chung của nhân loại chứ không phải sản phẩm riêng có của giai cấp tư sản, của CNTB. Sự phát triển đó đã tạo cơ sở vật chất giúp cho CNTB có thể tận dụng những thành tựu KHCN mới để kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, trong lòng thế giới tư bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất không những không mất đi mà có mặt còn sâu sắc hơn và lan rộng hơn. Dù có biến đổi, thích nghi thế nào, CNTB hiện đại vẫn không thể che đậy được bản chất bóc lột và phản động, trong đó có sự mở rộng đến các nước đang phát triển bằng các hình thức nô dịch kinh tế và chủ nghĩa cường quyền mới về chính trị, kinh tế và quân sự. Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa tư bản và lao động; giữa những người nghèo và những người giàu không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà đã phát triển ở tầm quốc tế - đó là mâu thuẫn giữa các nước nghèo và các nước giàu, giữa các nhóm nước kinh tế phát triển với nhóm nước kinh tế đang phát triển, giữa Nam với Bắc, Đông với Tây.

Bên cạnh đó, cách mạng KHCN hiện đại cùng với sự điều chỉnh thích nghi của CNTB tác động đến quan hệ sản xuất làm thay đổi về mặt hình thức địa vị của giai cấp công nhân, một bộ phận khá đông công nhân có cổ phần, cổ phiếu trong các nhà máy, xí nghiệp,... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch rêu rao rằng: “Giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa”; CNTB đã phát triển thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,... Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, thiếu căn cứ. Bởi lẽ, đây là sự phản ánh mức sống trong điều kiện mới (do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội); đồng thời, là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân suốt nhiều thế kỷ qua. Bản thân giai cấp công nhân vẫn chỉ là những lao động làm thuê cho nhà tư bản, dù đảm nhiệm cương vị nào.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội của giai cấp công nhân đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không giống như những mô tả của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong thế kỷ XIX, XX. Thế nhưng, dựa vào những biến đổi đó để đi đến kết luận chủ quan rằng: giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa là sai lầm cả về chính trị và khoa học. Công nhân hiện nay dù có cổ phiếu cũng chẳng làm thay đổi được địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là hiệu ứng của cải, làm cho “tư bản giả” ngày càng tăng lên so với thực tế. Điều này càng nói lên tính chất ăn bám của CNTB độc quyền, chứ chẳng phải CNTB đã là “CNTB nhân dân” như các học giả tư sản đã cố tình tô vẽ. “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ... Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”(2)Dù trong lòng xã hội tư bản, đời sống của người lao động đã có sự cải thiện đáng kể, song số người nghèo khổ vẫn ngày càng tăng. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia cùng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc thế giới thứ ba; các cuộc chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát động... là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hàng trăm triệu người bị đe dọa chết đói, hàng tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, thất nghiệp,... Những thống kê về tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, lạm phát sau đại dịch COVID-19 vừa qua là minh chứng rõ nét nhất cho tình trạng bất bình đẳng trong xã hội hiện nay...

Cách mạng KHCN hiện đại là quá trình làm cho thế giới ngày càng mang tính chỉnh thể hơn, cho nên càng làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia - dân tộc. Các quốc gia - dân tộc để hội nhập đều phải đẩy mạnh tăng cường hợp tác, giao lưu, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực nhằm khai thác những tiềm năng, lợi thế của mình. Điều này khiến nhiều người dường như đã lãng quên vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp; một số học giả cho rằng chúng ta đang sống trong “mái nhà chung”, “thế giới phẳng” nên không còn và cũng không cần phải đấu tranh giai cấp, theo đó, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực sự lỗi thời (!). Chúng ta cần phải tiếp tục khẳng định rằng, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp luôn tồn tại trong suốt quá trình tiến lên CNXH, thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, chừng nào xã hội không còn giai cấp đối kháng về lợi ích kinh tế, lập trường chính trị thì chừng đó vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mới mất đi.

Trước sự tác động của cách mạng KHCN, giai cấp tư sản luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi hòng phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Song, thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật phát triển của xã hội loài người, vẫn là cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên bình diện quốc tế cũng như trong điều kiện cụ thể của từng quốc gia - dân tộc. Bài học về sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Liên Xô và Đông Âu trước đây vẫn luôn mới mẻ đối với người cách mạng. Bất kỳ ở đâu, thời điểm nào, nếu coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,... thì cách mạng sẽ phải trả giá đắt. Học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị.

Hiện nay, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra ở tất cả các chế độ xã hội với những biểu hiện và mức độ khác nhau. Ở các nước TBCN, cuộc đấu tranh này vẫn tiềm ẩn với sự bất công, phân cực giàu - nghèo ngày càng sâu sắc; thất nghiệp ngày càng đông, tính mạng con người, an ninh và trật tự xã hội luôn bị đe dọa; sự phá hủy và suy đồi đạo đức xã hội ngày càng gia tăng vì lợi nhuận. Ngay trong lòng các nước TBCN giàu có nhất, luôn tồn tại một nghịch lý là người giàu thì càng giàu hơn, người nghèo càng nghèo hơn. Mặc dù giai cấp tư sản đã có sự mềm dẻo trong quản lý, điều hành, phân phối để xoa dịu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, nhưng vẫn chỉ là từng nơi, từng lúc, còn về cơ bản, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động vẫn ngày càng gay gắt; thuế khóa, thất nghiệp, các tệ nạn xã hội luôn đeo đẳng người nghèo. Có một sự thật là ở các nước tư bản phát triển hiện nay, hầu hết đời lãnh đạo này đến đời lãnh đạo khác, chính sách đối ngoại đều có một điểm chung: đối phó với cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước thế giới thứ ba. Và trên phạm vi toàn cầu, các lực lượng phản cách mạng vẫn tiếp tục tiến công bằng mọi vũ khí có thể sử dụng như: kinh tế, tư tưởng, văn hóa, truyền thông... Điều đó càng khẳng định, lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị.

Ở Việt Nam, dưới tác động của KHCN hiện đại, việc bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở nên cấp thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. Bởi lẽ, những ứng dụng của KHCN hiện đại đã có mặt hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là sự lan truyền rộng rãi của internet, mạng xã hội… làm cho sự giao tiếp không còn bị giới hạn về không gian, thời gian. Lợi dụng sự phát triển này, các thế lực thù địch tập trung phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch, hằn học; có quan điểm thừa nhận giá trị lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin; một số quan điểm khác đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng lại phủ nhận học thuyết Mác -Lênin khi cho rằng: hiện nay chủ nghĩa Mác -Lênin đã “lỗi thời”, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá và phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì thế, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh thậm chí đề cao thành “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thực tế đã và đang khẳng định, những quan điểm trên là hoàn toàn phi lý và phiến diện. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng. Đặc điểm lớn nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thời đại, giải quyết những vấn đề cấp bách do thời đại đặt ra. Nó có mặt ở tất cả các bước ngoặt của thế kỷ nhằm chứng minh và làm sáng tỏ những vấn đề có tính quy luật của đời sống xã hội; cung cấp cho loài người những nhận thức đúng đắn, cách nhìn thấu đáo, khách quan, trải qua kinh nghiệm thực tiễn. Rõ ràng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem lại cho chúng ta nền tảng tư tưởng vững chắc, những điểm tựa lý luận, phương pháp luận phong phú và sâu sắc, giúp chúng ta nâng cao tầm tư tưởng, trí tuệ, tư duy độc lập sáng tạo, tìm ra con đường và giải pháp đúng để xử lý các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Chính vì thế, từ khi ra đời đến nay chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững. Nhiều chính khách, nhà khoa học cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình khoa học nghiên cứu khẳng định sức sống, ý nghĩa và tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay; mặc nhiên thừa nhận, tinh thần của học thuyết Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào đó mới phân tích đúng CNTB đương đại và CNXH.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc và là sự vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng; là nhân tố làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ kết tinh những giá trị của văn hóa Việt Nam và nhân loại, mà về bản chất còn là học thuyết của sự phát triển, là cái cần có trong hành trang của những chặng đường tiếp theo. Vì, bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, là thế giới quan, phương pháp luận mở ra con đường tiếp tục phát triển của trí tuệ, do đó Đảng ta luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Nếu coi tư tưởng Hồ Chí Minh không hề liên quan đến chủ nghĩa Mác - Lênin thì thực chất những người nhân danh các nhà tư tưởng “cấp tiến” đã không hiểu một chút gì về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người; việc “mượn gió bẻ măng” như vậy chỉ càng làm cho bản thân họ bé đi trước những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn lớn lao của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, bất luận trong mọi điều kiện, hoàn cảnh phải luôn: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”(3). Những quan điểm phủ nhận lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều sai trái, thù địch, với dụng ý, rắp tâm xấu hòng làm suy yếu rồi đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đi ngược ý chí và nguyện vọng của cả dân tộc.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là nguyên tắc bảo đảm cho Đảng ta tiếp tục hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trước sự tác động của cách mạng KHCN hiện đại. Để làm được điều đó, đòi hỏi những người xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận cần phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ và phát triển không ngừng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng những thành tựu KHCN hiện đại để đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, tuyên truyền nhằm kết nối, chia sẻ những thông tin hữu ích, đấu tranh với những nhận thức sai trái; phát huy hiệu quả các trang thiết bị, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch; tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận nhằm không ngừng lý luận hóa thực tiễn gắn chặt với thực tiễn hóa lý luận; xây dựng đội ngũ những nhà lý luận chính trị kiên định lập trường gắn chặt với kiến tạo đội ngũ những nhà khoa học chuyên ngành và liên ngành nhằm xây dựng một đội ngũ những nhà lý luận xuất sắc, trong đó những nhà lý luận chính trị đóng vai trò nòng cốt; xây dựng một cơ chế nghiên cứu khoa học lý luận chính trị một cách cơ bản, thực sự dân chủ và minh bạch; chú trọng sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu lý luận chính trị. Đó chính là con đường C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đã đi và chúng ta tiếp tục đi trên con đường ấy, vì sự phát triển của CNXH, sự tiến bộ và văn minh của dân tộc và nhân loại.

Tóm lại, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nhằm khẳng định những đặc trưng, thuộc tính thể hiện sự ưu việt của nó so với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu sống còn đối với những người cộng sản chân chính. Đúng như Đảng ta đã xác định: Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam được thể hiện dưới hình thức lý luận; là bảo vệ linh hồn, mạch sống của Đảng, bảo vệ công cụ nhận thức vĩ đại, vũ khí tư tưởng lý luận sắc bén của cách mạng Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

LHS


 Hiểu rõ vai trò của công đoàn để không bị mắc mưu thế lực thù địch

Có thể thấy, chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành là hết sức thâm độc, nham hiểm. Đây thực chất là âm mưu nhằm hạ thấp vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam để phục vụ cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, làm cho nước ta bị suy yếu, mất đoàn kết. Nếu công nhân, người lao động không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh sẽ mắc mưu kẻ xấu, vi phạm pháp luật.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, Nhà nước ta ghi nhận và cho phép quyền tự do lập hội của công dân. Nhưng việc lập hội phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật, được Nhà nước Việt Nam công nhận.

Còn cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập” do một số kẻ tự khởi xướng hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của pháp luật và không được Nhà nước Việt Nam thừa nhận. Bề ngoài, chúng tuyên bố “không làm chính trị” nhưng lại câu kết với các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam như: Nghiệp đoàn FO, Lao động Việt, Nhóm bạn công nhân (thuộc Việt Tân), Luật khoa tạp chí, Hội nhà báo độc lập... Các tổ chức này hoàn toàn không đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và công nhân, mà thực chất là đội lốt, mượn mũ công nhân để thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động.

Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy những bài học đắt giá từ sự nhận thức chưa đúng, dẫn đến công nhân bị dẫn dắt bởi các tổ chức “dân sự” như “công đoàn độc lập”, “công đoàn đoàn kết”, “công đoàn tự do”... Các hội, nhóm, tổ chức này sử dụng nhiều chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo công nhân vào cái bẫy của chúng để hình thành lực lượng chống đối chính quyền, lật đổ chế độ nhằm cướp quyền lãnh đạo.

Đối với Việt Nam, tổ chức công đoàn được quy định cụ thể trong Hiến pháp, Luật Công đoàn Việt Nam nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Thực tế nhiều năm qua, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm này (tất nhiên không tránh khỏi một số tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động chưa hiệu quả, song đó chủ yếu là do cán bộ công đoàn ở đó chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm). Thực tiễn đã chứng minh rõ, Công đoàn Việt Nam bảo vệ tốt quyền lợi, chăm lo cho người lao động, như vừa qua, khi công nhân và các doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kịp thời tham mưu, đề xuất với Chính phủ ban hành nghị quyết về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn. Bên cạnh đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng tham mưu, đề xuất với Đảng và Chính phủ về Đề án "Đầu tư xây dựng các thiết chế công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất" và tổ chức đầu tư, xây dựng nhà ở, nhà trẻ, khu vui chơi, giải trí cho công nhân, người lao động...

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết, không thể thiếu và vai trò, uy tín của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn các cấp hiện nay. Còn cái gọi là “công đoàn độc lập”, "nghiệp đoàn độc lập" không hề và không thể đại diện cho quyền, lợi ích của công nhân, người lao động, mà chỉ là kiểu lợi dụng để thực hiện mưu đồ chính trị. Vì vậy, người dân cần hiểu rõ để tránh mắc mưu các thế lực thù địch, phản động.

LHS


 QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG, CỤ THỂ HÓA QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Trong quá trình vận dụng, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về chuẩn mực đạo đức cách mạng, Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 06-CT/TW) có ý nghĩa rất quan trọng. Trong đó có nội dung được Đảng đề ra là: “Các cơ quan, đơn vị xây dựng tiêu chuẩn đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để phấn đấu thực hiện phù hợp với tình hình từng cơ quan, đơn vị”.

Trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảngnhiều chuẩn mực đạo đức cách mạng đã được đưa vào các luật; một số bộ, ngành cũng ban hành bộ chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử; một số nơi đã xây dựng các quy định, quy chế, quy ước cụ thể trong thực hiện các tiêu chuẩn đạo đức theo yêu cầu của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.   

Đặc biệt, việc xây dựng, bổ sung chuẩn đạo đức của cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến mạnh mẽ khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 03); Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 1973/CT-TTg, ngày 7/11/2011 về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Ban Bí thư ban hành Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

Để triển khai Chỉ thị 03, Ban Bí thư đã ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW, xác định rõ nội dung và phương thức thực hiện. Theo đó, các cấp uỷ đảng rà soát, bổ sung, chỉ đạo thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Tại Kế hoạch này, Ban Bí thư giao Ban Tuyên giáo Trung ương bổ sung hướng dẫn về việc xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức; các cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn rà soát, bổ sung, xây dựng xong chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị mình theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 25/11/2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BTGTW về “Bổ sung và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, xác định những chuẩn mực đạo đức cần bổ sung và tổ chức thực hiện: 1) Sống có lý tưởng, vì nước, vì dân, vì con người, vì xã hội. 2) Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư. Trách nhiệm với công việc. 3) Trung thực, tự trọng, trong sáng, giản dị, khiêm tốn. 4) Tôn trọng luật pháp, kỷ cương. 5. Đoàn kết, nhân ái. 6) Suốt đời phấn đấu, rèn luyện, học tập. 7) Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.

Từ sau Đại hội XI của Đảng, việc xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng có sự gắn bó chặt chẽ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, đặc biệt là Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”.

 Thực hiện Chỉ thị, Quy định, Kế hoạch và Hướng dẫn nêu trên, các bộ, ngành đã triển khai xây dựng, bổ sung và ban hành các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động theo ngành, lĩnh vực; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tích cực lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đơn vị trên địa bàn rà soát, bổ sung, xây dựng và tổ chức thực hiện các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05), đặt ra nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị với phương châm “sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện”. Tiếp đó, ngày 25/7/2016, Ban Bí thư ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW về thực hiện Chỉ thị số 05; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg, ngày 8/9/2016 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1847/QĐ-TTg, ngày 27/12/2018, phê duyệt “Đề án Văn hóa công vụ”.

Thực hiện các Chỉ thị, Kế hoạch, Quy định và Đề án nêu trên, các bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương và địa phương đã tích cực rà soát, xây dựng, công bố và tổ chức thực hiện các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương bám sát các văn bản của Đảng, Nhà nước, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ của các ban, bộ, ngành để lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đơn vị trên địa bàn rà soát, bổ sung, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là sau khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"”, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, xây dựng, ban hành chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Việc vận dụng, cụ thể hóa chuẩn mực đạo đức cách mạng, nhất là trong xây dựng và thực hiện đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ trong thời gian qua đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực trên thực tiễn, góp phần giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nâng cao nhận thức, điều chỉnh thái độ, hành vi theo các chuẩn mực đạo đức trong thực hiện nhiệm vụ và trong các mối quan hệ xã hội; góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là xây dựng Đảng về đạo đức; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, xây dựng môi trường văn hóa công sở;...

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng quá trình rà soát, bổ sung, xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức của các ban, bộ, ngành, địa phương trong những năm qua gặp không ít khó khăn, vướng mắc do phải phải căn cứ vào nhiều văn bản lãnh đạo của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, nhiều văn bản của các ban, bộ, ngành Trung ương; các văn bản này được ban hành vào nhiều giai đoạn khác nhau. Quy định về chuẩn mực đạo đức của một số địa phương, cơ quan, đơn vị có nhiều nội dung, nhiều tiêu chí; một số nơi còn chung chung, thiếu tính hệ thống, không rõ về tiêu chí, gây không ít khó khăn cho việc thực hiện, giám sát, kiểm tra, đánh giá,...

Hoằng Tháo