Một
số nguyên nhân khách quan dẫn đến sự
tồn tại và gia tăng các tội phạm tham nhũng
Thứ nhất, tác động của mặt
trái nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.
Sau năm 1986, Đảng
ta nhận thức rõ nền kinh tế hàng hóa có nhiều mặt tích cực cần vận dụng trong
sự nghiệp xây dựng CNXH. Tổng kết thực tiễn hơn 35 năm tiến hành đổi mới, lý
luận về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường
ngày càng bộc lộ rõ như: Ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, văn hóa, xã hội; phân
hóa giàu nghèo; cạnh tranh không lành mạnh; ô nhiễm môi trường và phát sinh tội
phạm, tệ nạn xã hội... trong đó có vấn nạn tham ô, tham nhũng. Các quy luật
kinh tế, cạnh tranh, đặc biệt là quy luật giá trị không chỉ tác động đến kinh
tế mà còn tác động đến tư tưởng, tình cảm, kích thích sự quan tâm của con người
đến lợi ích vật chất. Trong điều kiện đó, một số người quá đề cao các yếu tố
vật chất đã hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị,
chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội. Một số người vì những
mục tiêu cá nhân, để làm giàu, kiếm tiền đã dùng mọi thủ đoạn, trong đó có tham
ô, hối lộ, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài
sản của Nhà nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự tác động của quá
trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học,
công nghệ đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để các đối tượng lợi dụng
thực hiện hành vi tham nhũng, che dấu, chuyển hóa, tẩu tán tài sản tham nhũng
như: Lợi dụng cơ chế, chính sách ứng dụng khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư;
chuyển tài sản ra nước ngoài, mua tiền kỹ thuật số, tiền điện tử; mua quốc tịch
nước ngoài... gây khó khăn cho công tác điều tra, phát hiện, thu thập, thu hồi
các tài sản trong các vụ án tham nhũng.
Thứ hai, do hệ thống chính
sách, pháp luật ở nước ta thiếu đồng bộ và nhất quán. Thể chế, chính sách về
quản lý kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bất cập, chưa giải quyết
triệt để những vấn đề thực tiễn đặt ta; tính công khai, minh bạch trong một số
lĩnh vực kinh tế còn hạn chế, chưa xóa bỏ được cơ chế “xin, cho”, là điều kiện
dẫn đến tham nhũng. Pháp luật là công cụ mạnh nhất để ngăn chặn tham nhũng,
song chế tài xử lý chưa đủ mạnh để đủ sức răn đe, pháp luật còn nhiều kẽ hở, cơ
chế quản lý còn nhiều yếu kém để các đối tượng lợi dụng để tham nhũng. Các thủ
tục hành chính còn rườm rà, chưa số hóa, tự động hóa; cơ chế quản lý tài sản,
minh bạch tài sản chưa hiệu quả và chặt chẽ tạo kẽ hở cho các cán bộ, viên chức
tham nhũng.
Thứ ba, công tác quản lý
nhà nước trên một số lĩnh vực còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.
Cơ chế, chính sách quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội vẫn còn những hạn chế,
thiếu sót để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, đặc biệt trên
các lĩnh vực: Quản lý ngân sách, vốn, tài sản nhà nước, quản lý đất đai, đầu tư
xây dựng , tổ chức - cán bộ, tín dụng, ngân hàng, y tế, giáo dục... còn một số
kẽ hở để các đối tượng lợi dụng phạm tội; thể chế về quản lý kinh tế - xã hội
góp phần phòng ngừa, chống tham nhũng, lãng phí còn bất cập; công tác quản lý,
thanh tra, kiểm tra của Nhà nước trên một số lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm dễ xảy
ra sai phạm còn lỏng lẻo, yếu kém, chưa thường xuyên, hiệu quả, chế tài xử lý
chưa mang tính răn đe. Các yếu tố trên dễ bị các đối tượng lợi dụng để thực
hiện hành vi tham nhũng, nếu không giải quyết kịp thời sẽ làm cho tình trạng
tham nhũng gia tăng và khó có thể ngăn chặn, phát hiện và xử lý.
Thứ tư, công tác quản lý
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn hạn chế. Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XII) đã chỉ ra tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối
sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa
được đẩy lùi; chính sách tuyển dụng, sử dụng và chế độ đãi ngộ đối với công
chức, viên chức, lực lượng vũ trang chưa thỏa đáng; “việc đổi mới, sắp xếp tổ
chức bộ máy tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở một số nơi thực
hiện thiếu quyết liệt”. Trong khi đó, “công tác tư tưởng còn có mặt hạn chế,
thiếu kịp thời, tính thuyết phục chưa cao”, công tác giáo dục chính trị, tư
tưởng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cán bộ, đảng viên trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có nơi, có lúc
chưa được chú trọng đúng mức, chưa đạt được hiệu quả toàn diện. Mặt khác, việc
đưa những người thiếu trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức vào làm việc tại
các cơ quan nhà nước dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả, làm suy
thoái hệ thống chính trị và tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng phát triển.
Thứ năm, công tác PCTN đã được
lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện đạt được kết quả quan trọng, song “công
tác PCTN tại một số địa phương, bộ, ngành chuyển biến chưa rõ rệt, trách nhiệm
của người đứng đầu đối với công tác PCTN chưa được đề cao”, việc phát hiện, xử
lý tội phạm tham nhũng còn nhiều khó khăn; công tác thu thập, bảo quản, thu hồi
tài sản trong các vụ án tham nhũng còn hạn chế; cơ chế tự kiểm tra, tự phát
hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan còn yếu; cơ chế kiểm soát quyền
lực, công khai, minh bạch tài sản đối với người có chức vụ, quyền hạn chưa chặt
chẽ và hiệu quả… dẫn đến tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn phức
tạp, biểu hiện tinh vi hơn.
Qua những phân tích trên
đây chúng ta thấy rằng nguyên nhân khách quan không trực tiếp dẫn đến tội phạm
tham nhũng, nhưng nó là môi trường, điều kiện thuận lợi để tham nhũng tồn tại
và phát triển.
Hoằng Tháo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét