Thứ Tư, 17 tháng 5, 2023

 

Một số nguyên nhân khách quan dẫn đến sự tồn tại và gia tăng các tội phạm tham nhũng

Thứ nhất, tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

 Sau năm 1986, Đảng ta nhận thức rõ nền kinh tế hàng hóa có nhiều mặt tích cực cần vận dụng trong sự nghiệp xây dựng CNXH. Tổng kết thực tiễn hơn 35 năm tiến hành đổi mới, lý luận về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ rõ như: Ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, văn hóa, xã hội; phân hóa giàu nghèo; cạnh tranh không lành mạnh; ô nhiễm môi trường và phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội... trong đó có vấn nạn tham ô, tham nhũng. Các quy luật kinh tế, cạnh tranh, đặc biệt là quy luật giá trị không chỉ tác động đến kinh tế mà còn tác động đến tư tưởng, tình cảm, kích thích sự quan tâm của con người đến lợi ích vật chất. Trong điều kiện đó, một số người quá đề cao các yếu tố vật chất đã hình thành, phát triển lối sống thực dụng, bỏ qua những giá trị, chuẩn mực đạo đức, nhân cách con người, văn hóa xã hội. Một số người vì những mục tiêu cá nhân, để làm giàu, kiếm tiền đã dùng mọi thủ đoạn, trong đó có tham ô, hối lộ, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, dưới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, che dấu, chuyển hóa, tẩu tán tài sản tham nhũng như: Lợi dụng cơ chế, chính sách ứng dụng khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư; chuyển tài sản ra nước ngoài, mua tiền kỹ thuật số, tiền điện tử; mua quốc tịch nước ngoài... gây khó khăn cho công tác điều tra, phát hiện, thu thập, thu hồi các tài sản trong các vụ án tham nhũng.

Thứ hai, do hệ thống chính sách, pháp luật ở nước ta thiếu đồng bộ và nhất quán. Thể chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bất cập, chưa giải quyết triệt để những vấn đề thực tiễn đặt ta; tính công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực kinh tế còn hạn chế, chưa xóa bỏ được cơ chế “xin, cho”, là điều kiện dẫn đến tham nhũng. Pháp luật là công cụ mạnh nhất để ngăn chặn tham nhũng, song chế tài xử lý chưa đủ mạnh để đủ sức răn đe, pháp luật còn nhiều kẽ hở, cơ chế quản lý còn nhiều yếu kém để các đối tượng lợi dụng để tham nhũng. Các thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa số hóa, tự động hóa; cơ chế quản lý tài sản, minh bạch tài sản chưa hiệu quả và chặt chẽ tạo kẽ hở cho các cán bộ, viên chức tham nhũng.

Thứ ba, công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.

Cơ chế, chính sách quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội vẫn còn những hạn chế, thiếu sót để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng, đặc biệt trên các lĩnh vực: Quản lý ngân sách, vốn, tài sản nhà nước, quản lý đất đai, đầu tư xây dựng , tổ chức - cán bộ, tín dụng, ngân hàng, y tế, giáo dục... còn một số kẽ hở để các đối tượng lợi dụng phạm tội; thể chế về quản lý kinh tế - xã hội góp phần phòng ngừa, chống tham nhũng, lãng phí còn bất cập; công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra của Nhà nước trên một số lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm dễ xảy ra sai phạm còn lỏng lẻo, yếu kém, chưa thường xuyên, hiệu quả, chế tài xử lý chưa mang tính răn đe. Các yếu tố trên dễ bị các đối tượng lợi dụng để thực hiện hành vi tham nhũng, nếu không giải quyết kịp thời sẽ làm cho tình trạng tham nhũng gia tăng và khó có thể ngăn chặn, phát hiện và xử lý.

Thứ tư, công tác quản lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn hạn chế. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; chính sách tuyển dụng, sử dụng và chế độ đãi ngộ đối với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang chưa thỏa đáng; “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động ở một số nơi thực hiện thiếu quyết liệt”. Trong khi đó, “công tác tư tưởng còn có mặt hạn chế, thiếu kịp thời, tính thuyết phục chưa cao”, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cán bộ, đảng viên trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế có nơi, có lúc chưa được chú trọng đúng mức, chưa đạt được hiệu quả toàn diện. Mặt khác, việc đưa những người thiếu trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức vào làm việc tại các cơ quan nhà nước dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động kém hiệu quả, làm suy thoái hệ thống chính trị và tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng phát triển.

Thứ năm, công tác PCTN đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, toàn diện đạt được kết quả quan trọng, song “công tác PCTN tại một số địa phương, bộ, ngành chuyển biến chưa rõ rệt, trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác PCTN chưa được đề cao”, việc phát hiện, xử lý tội phạm tham nhũng còn nhiều khó khăn; công tác thu thập, bảo quản, thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng còn hạn chế; cơ chế tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan còn yếu; cơ chế kiểm soát quyền lực, công khai, minh bạch tài sản đối với người có chức vụ, quyền hạn chưa chặt chẽ và hiệu quả… dẫn đến tham nhũng trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn phức tạp, biểu hiện tinh vi hơn.

Qua những phân tích trên đây chúng ta thấy rằng nguyên nhân khách quan không trực tiếp dẫn đến tội phạm tham nhũng, nhưng nó là môi trường, điều kiện thuận lợi để tham nhũng tồn tại và phát triển.

 Hoằng Tháo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét