Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2025

 VẪN CHIÊU BÀI CŨ CỦA VIỆT TÂN VỀ “TINH GỌN BỘ MÁY NHÀ NƯỚC”

Danh Liêm

Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” dưới sự chỉ đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, ý chí, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân. Thế nhưng, như thường lệ, trước, trong và sau khi diễn ra nhưng sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch luôn lợi dụng triệt để không gian mạng để tuyên truyền những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trên trang facebook Việt Tân ngày 16/03/2025 có đăng một bài viết xuyên tạc “Chuyện tinh gọn bộ máy lãnh đạo chỉ là trò mị dân”; theo như nội dung bài viết, tác giả cho rằng chuyện “tinh gon, trong sạch” bộ máy nhà nước sẽ không thể thu hút nhân tài và càng dẫn tới tiêu cực, tham nhũng hơn, lợi dụng tinh giản biên chế để “thanh lý” những đối thủ chính trị, giữ lại thân tín, xây chắc thế lực của mình. Đây chỉ là những luận điệu xuyên tạc, phản động, một cái nhìn thiếu hiểu biết của Việt Tân nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ danh dự, phẩm chất của một số cán bộ, đảng viên.

 Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tư tưởng nhất quán, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ và cán bộ. Người luôn khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do vậy, “Công tác cán bộ phải có vai trò quyết định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên”. Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác cán bộ, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến đổi mới công tác cán bộ và kiểm soát thực thi quyền lực trong công tác cán bộ, đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; trong đó, công tác tổ chức bộ máy là then chốt của then chốt, quyết định to lớn đến sự phát triển của đất nước. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tài ba chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi ghềnh thác, gặt hái được những thắng lợi kỳ tích vẻ vang trên con đường vinh quang đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, được đa số cán bộ đảng viên đồng tình hưởng ứng và đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đó vẫn còn không ít những hạn chế bất cập. Nhận thấy rõ vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều bài phát biểu, bài viết phân tích rõ thực trạng công tác cán bộ, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Đặc biệt, ngày 5-11-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết quan trọng: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, trong đó, người đứng đầu Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ: Việc đổi mới công tác cán bộ vẫn chưa có đột phá lớn; nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa đầy đủ và sâu sắc, quyết tâm chưa cao; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng lắp, chồng chéo, tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng, nhất là chi phí vận hành hệ thống tổ chức quá lớn, chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước… Đây là nguyên nhân dẫn đến tệ tham ô, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiều hệ lụy tiêu cực khác, những hạn chế bất cập này nếu không giải quyết triệt để sẽ là lực cản to lớn kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Như vậy, tinh gọn bộ máy giờ đây đã trở thành mệnh lệnh tất yếu của cuộc sống. Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, tiến bộ, nhân văn, khách quan và khoa học, bởi nó đáp ứng được đòi hỏi bức thiết của thực tiễn cuộc sống và hội tụ đầy đủ “Ý chí của Đảng - Nguyện vọng của nhân dân”, dựa trên cơ sở vận dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Vậy mà, lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết liệt triển khai thực hiện chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt để đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Tân đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, tung tin bịa đặt, đánh tráo khái niệm, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt chủ trương, quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, với âm mưu phá hoại thành quả cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Qua sự việc này, chúng ta cần tạo cho mình thói quen tiếp cận các thông tin chính thống được cung cấp từ các cơ quan có thẩm quyền, các trang thông tin điện tử có độ tin cậy cao, có tư duy phản biện đối với các thông tin, sự việc không đúng sự thật. Không bình luận, chia sẻ, đăng tải các thông tin, hình ảnh sai lệch về sự việc để tránh “sập bẫy” các đối tượng xấu, vi phạm vào quy định của Nhà nước./.

 

 

MỘT SÔ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT AN NINH MẠNG GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Danh Liêm

Lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, đặc biệt là các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường sử dụng không gian mạng để thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam. Việc tăng cường kiểm soát an ninh mạng sẽ góp phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

An ninh mạng là vấn đề an ninh phi truyền thống, mặc dù là lĩnh vực khá mới mẻ nhưng ngày càng được thế giới quan tâm cả về cấp vĩ mô và vi mô trong đó có Việt Nam. Việt Nam hiện nay đang đứng thứ 12 trên thế giới về lượng người dùng internet. Theo thống kê, tính tới tháng 9/2022 Việt Nam có hơn 72 triệu người sử dụng internet chiếm 73% dân số. Hiện nay Việt Nam là một trong số các quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới: Theo số lượng báo cáo, trong nửa đầu năm 2017, cả nước có hơn 4.600 trang thông tin có miền quốc gia bị tin tặc tấn công hoặc chiếm quyền điều khiển. Trong đó, có tới 148 trang web thuộc quyền quản lý của các cơ quan nhà nước, tồn tại nhiều lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng mà tin tặc có thể khai thác và chiếm đoạt. Nhiều thông tin, tài liệu bí mật nhà nước có nguy cơ bị rò rỉ và phá hoại nghiêm trọng.  Đặc biệt, tình trạng các trang mạng xã hội bị các thế lực thù địch, phản động tăng cường sử dụng không gian mạng để thực hiện các âm mưu diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một trong những âm mưu nguy hiểm ấy chính là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trước thực trạng đó, năm 2018 Luật An ninh mạng (gồm 7 Chương, 43 Điều) đã được thông qua với nhiều hành vi bị cấm đã được quy định trong các luật và bộ luật khác, như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự… của Việt Nam; Cụ thể, các Điều 8, Điều 16, Điều 17 quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng không gian mạng gồmsoạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung: Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (bao gồm: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; Xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc); Kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng (bao gồm: Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân; Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự)… Đặc biệt, Luật An ninh mạng cũng nghiêm cấm các hành vi gián điệp mạng; xâm phạm bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng (bao gồm: Chiếm đoạt, mua bán, thu giữ, cố ý làm lộ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; Cố ý xóa, làm hư hỏng, thất lạc, thay đổi thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; Cố ý thay đổi, hủy bỏ hoặc làm vô hiệu hóa các biện pháp kỹ thuật được xây dựng, áp dụng để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; Hành vi cố ý xâm phạm bí mật nhà nước...

Như vậy, xét về an ninh quốc gia, những quy định trong nội dung Luật An ninh mạng của Việt Nam là hết sức cần thiết phù hợp với xu hướng chung trên thế giới về quy định pháp lý bảo đảm an ninh mạng; đáp ứng yêu cầu thực tiễn chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, bảo đảm hoạt động không gian mạng, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Ngay sau khi có hiệu lực, Luật An ninh mạng đã cho thấy tính hiệu quả của các thiết chế pháp luật đối với các hoạt động trên không gian mạng góp phần quan trọng trong bảo đảm, kiểm soát không gian mạng đặc biệt là các mạng xã hội đang ngày càng nở rộ: Nhữngthông tin thiếu kiểm chứng, sai sự thật, gây tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội đều bị xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm túc. Việc truy tìm, xử lý các đối tượng tung tin giả; yêu cầu các trang mạng xã hội gỡ bỏ các tin thất thiệt, đăng tải những thông tin chính thức từ các cơ quan có thẩm quyền đã góp phần quan trọng chấm dứt tình trạng nhiễu loạn thông tin gây tâm lý hoang mang, lo ngại của người dân cũng như bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ tính đúng đắn những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc kiểm soát an ninh mạng ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại những khó khăn, bất cập; với nhiều thách thức trước những dịch vụ mới trên mạng như: Thanh toán trực tuyến, thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến, kinh doanh tiền ảo, kinh doanh đa cấp. Đồng thời, đặt ra một số vấn đề về an ninh quốc gia, nguy cơ mất an ninh thanh toán, an ninh thông tin mạng, như nguy cơ mất an ninh thông tin mạng tạo điều kiện cho đối phương tiến hành thu thập tin tức tình báo; nguy cơ thất thu thuế, mất chủ quyền không gian thanh toán; tình trạng cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thanh toán, trung gian thanh toán trong và ngoài nước tạo môi trường lý tưởng cho tội phạm sử dụng công nghệ cao hoạt động phạm tội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự xã hội. Trong khi đó, công tác đào tạo chuyên gia an ninh mạng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Trước thực trạng đó, việc tăng cường kiểm soát an ninh mạng sẽ góp phần quan trọng trong bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Một là, lực lượng tác chiến trên không gian mạng, lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm công nghệ cao cần tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng và An ninh mạng quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị để chủ động ứng phó, tác chiến trong mọi tình huống nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ an ninh mạng.

Hai là, lực lượng tác chiến không gian mạng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cần chủ động nắm, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình an ninh mạng trong nước, khu vực và thế giới; kịp thời phát hiện, tổ chức đấu tranh phòng, chống gián điệp mạng nước ngoài, triển khai các giải pháp bảo vệ an ninh hệ thống mạng thông tin trọng yếu quốc gia; phòng, chống tấn công mạng; kịp thời ngăn chặn và vô hiệu hóa các hoạt động chống phá trên không gian mạng; xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng...

Ba là, bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin, trang bị vũ khí phải đồng bộ, hiện đại nhất và các hoạt động xã hội trên không gian mạng. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến và nghệ thuật quân sự vào thực hiện hoạt động tác chiến trên không gian mạng. Tích cực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng những thành tựu tiên tiến, mới nhất của thế giới về công nghệ thông tin, về vũ khí công nghệ cao; chủ động, có kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng thành tựu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào tác chiến không gian mạng.

Bốn là, xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng tiến thẳng lên hiện đại. Lực lượng tác chiến trên không gian mạng là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của công tác này. Để tăng cường kiểm soát an ninh mạng góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong thời gian tới cần xây dựng lực lượng này tinh gọn, có trình độ chuyên môn cao và năng lực thực tiễn, phát huy trí tuệ con người trong việc làm chủ vũ khí không gian mạng hiện đại xử lý kịp thời các tình huống, không để bị động, bất ngờ.

Sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội đã đem đến cho con người nhiều tiện ích, xoá nhoà khoảng cách địa lý giữa con người với con người. Tuy nhiên, nó cũng đang đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng điều đó nhằm chống phá Đảng và Nhà nước nói chung, nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường kiểm soát an ninh mạng sẽ góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

 

NÂNG CAO CẢNH GIÁC CHỦ ĐỘNG NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

                                                                                             THN

Thời gian gần đây trên không gian mạng các thế lực phản động chống đối trong và ngoài nước không ngừng gia tăng hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thông tin sai sự thật, suy diễn về mặt tư tưởng; bôi nhọ, xúc phạm, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự; sử dụng mạng xã hội để tác động tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân gây tâm lý hoang mang, làm giảm sút lòng tin đối với Đảng, chế độ và các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

1. Nội dung, bản chất, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch không thay đổi, tuy nhiên về thủ đoạn chủ yếu là chúng lợi dụng công nghệ 4.0; mạng xã hội để tuyên truyền, thông tin xấu, độc ngày càng tinh vi, xảo quyệt, với nhiều cách thức, biện pháp khác nhau.

Thứ nhất: Sử dụng không gian mạng để chống phá

Để thực hiện được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện, thông qua các trang web, blog, các trang mạng xã hội facebook, youtube…, diễn đàn, báo điện tử khuếch trương thanh thế, cổ súy các tư tưởng lệch lạc. Tạo lập các trang website, blog, facebook, fanpage giả mạo để thu hút lượng truy cập, như “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Biển Đông’’, “Ba Sàm”, “Chân dung quyền lực”, “Tạp chí sự thật”, “Lỗi hệ thống”… để tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp dư luận xã hội và kích động chống đối.

Các website, blog, facebook, fanpage mạo danh thường được thiết kế theo dạng trang thông tin chuyển tải tin tức, có nhiều chuyên mục với bố cục rõ ràng, cung cấp thông tin cập nhật, đa dạng. Thời gian đầu, các trang mạng này muốn lôi kéo và tạo được sự tin cậy của người đọc nên chủ động đăng tải, chia sẻ những thông tin kịp thời, chính xác như các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử chính thống của các cơ quan, tổ chức đã được cấp phép tên miền trên internet. Nhưng càng về sau, chủ nhân của các trang mạng mạo danh này có thể cài bẫy một vài thông tin theo kiểu “đánh lận con đen” nhằm làm rối nhiễu thông tin, phân tâm dư luận xã hội.

Phương thức tiến hành thường núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”... để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, cương lĩnh, nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”. Lợi dụng một số cá nhân thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hoặc có tham vọng chính trị cao, thành lập các hội, fanpage... làm cơ quan ngôn luận, địa chỉ hoạt động cho tổ chức “dân chủ” trên mạng. Lợi dụng mạng xã hội phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, từ đó kích động hình thành các hoạt động như tuần hành, biểu tình, rải truyền đơn, tụ tập kêu gọi chống đối cán bộ địa phương, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân. Đó là một “đòn đánh” vào tâm lý người đọc rất tinh vi, thâm độc để lèo lái vào mục đích tuyên truyền lệch lạc, nguy hại.

Thứ hai: Tạo lập các trang giả mạo cơ quan, tổ chức, cá nhân có uy tín để đăng tải thông tin xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng không gian mạng qua đó tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, để tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ.

Thứ ba: Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để chống phá.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng không gian mạng đẩy mạnh các biện pháp như: sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc…chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Thứ tư: Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm, tài khoản trên mạng xã hội, kích động những vấn đề liên quan đến các sơ hở, sai phạm và bức xúc xã hội.

Chúng lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây dao động về tư tưởng, gây mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Thứ năm: Lấy ý kiến qua mạng xã hội nhằm tạo áp lực dư luận, gây áp lực đối với chính quyền.

Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ có tính thuyết phục cao... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những “ý kiến tâm huyết”, “những đóng góp chân thành”... Các đối tượng dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Thứ sáu: Thành lập các đài phát thanh, kênh truyền hình trên internet và các phần mềm chuyên dụng để chống phá Việt Nam.

Các đài phát thanh, truyền hình của Mỹ và phương Tây như: BBC, VOA truyền tải nhiều nội dung xấu, độc. Một số tổ chức phản động lưu vong cũng lợi dụng phương thức này để phá hoại tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta như: “Đảng vì dân”, “Việt Tân”, Radio Chân trời mới”…

Thứ bảy: Sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn

Các thế lực thù địch tạo lập và huy động những tài khoản giả mạo kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập, biểu tình ngoài thực địa và có các hành vi vi phạm pháp luật. Chúng sử dụng hàng loạt các mạng lưới tài khoản đã được xây dựng trước, lấy 2-3 tài khoản làm trung tâm thường xuyên đăng tải bài viết, thông tin xuyên tạc về một chủ đề, lĩnh vực và hàng trăm tài khoản vệ tinh thực hiện nhiệm vụ chia sẻ trên các nhóm, diễn đàn phản động hoặc các nhóm có lượng thành viên lớn. Một trong những biểu hiện của thủ đoạn này là kêu gọi “Biểu tình ảo trên không gian mạng” bằng cách huy động, kêu gọi tất cả các tài khoản trên mạng xã hội gắn các biểu ngữ phản đối chính sách pháp luật của Nhà nước ta, tạo ra hiệu ứng đám đông, trong đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối, hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực.

Thứ tám: Từ không gian mạng, các đối tượng phản động hướng dẫn cách thức chế tạo chất nổ, vũ khí, cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, livestream các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện... để kêu gọi cộng đồng mạng và những người cơ hội chính trị tham gia bình luận, chia sẻ, tạo điểm nóng.

2. Giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng không gian mạng để chống phá cách mạng Việt Nam

Một là, tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên là thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW.

Hai là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Ba là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam để có biện pháp xử lý, ngăn chặn kịp thời.

Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của đảng viên để có biện pháp giải quyết kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, sai trái, thiếu gương mẫu của đảng viên. Phát hiện đảng viên tham gia các hội, nhóm trái quy định của Đảng, Nhà nước, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây ảnh hưởng xấu đến nội bộ Đảng.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN; thực hiện công khai, minh bạch; chú ý vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; vai trò nêu gương của của người đứng đầu trong công tác PCTN, có lập trường tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, chính kiến rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm. Chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch; mẫu mực về đạo đức, lối sống; thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;  trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành.

Sáu là, nâng cao hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05-CT/TW “Về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” và Quy định số 205- QĐ/TW, ngày 23/9/2019, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

Bảy là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tổ chức chiến dịch truyền thông quy mô lớn, cung cấp thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, răn đe đối tượng vi phạm pháp luật, nâng cao cảnh giác, tăng sức “đề kháng” cho người dân khi tiếp cận thông tin; vô hiệu hóa các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại tư tưởng của các đối tượng, tổ chức phản động trong và ngoài nước, giúp chúng ta giành được thế chủ động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

 TĂNG “SỨC ĐỀ KHÁNG” CHO THANH NIÊN TRƯỚC SỰ LÔI KÉO, KÍCH ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                                                              Nhân Trần

          Top of Form

Bottom of Form

       Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và một phần chưa được rèn luyện, thử thách, thanh niên là đối tượng trọng điểm để các thế lực thù địch, phản động mua chuộc, lôi kéo, kích động nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam.

Thanh niên Việt Nam chiếm số đông trong dân số, trải đều trên cả nước và có mặt ở các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng được hiện diện ở tất cả giai cấp nông dân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức. Thanh niên cũng không phải là một tầng lớp xã hội độc lập nhưng có mối quan hệ gắn bó với các tầng lớp khác trong xã hội. Ngoài quyền, nghĩa vụ công dân, thanh niên còn phải có trách nhiệm với Tổ quốc, Nhà nước, xã hội, gia đình và trách nhiệm với bản thân. Trong đó, đối với Tổ quốc, hơn cả trách nhiệm, đó còn là niềm vinh dự, tự hào của mỗi thanh niên Việt Nam. Luật Thanh niên năm 2020 nêu rõ trách nhiệm của Thanh niên đối với Tổ quốc: Phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu. Đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. "Đâu cần thanh niên có, đấu khó có thanh niên” là khẩu hiệu truyền thống đã thấm sâu vào lòng người, thể hiện vai trò và vị trí của thanh niên trong phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước luôn xác định thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố, nguồn lực con người và đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh. Thanh niên là mấu chốt của sự thành bại cho tương lai của đất nước, không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn là tương lai phát triển về mặt kinh tế, trí tuệ hội nhập thế giới rộng lớn.

Ngày nay, Internet, mạng xã hội đã làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của con người. Đây cũng là "mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước. Thủ đoạn của chúng cũng rất đa dạng, phong phú như: Thiết lập các trang web, mở các "diễn đàn”, "câu lạc bộ” trên mạng nhằm tán phát tài liệu phản động và truyên truyền phá hoại tư tưởng; đăng tải các bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, kêu gọi khủng bố gây hoang mang trong dư luận xã hội... Đối tượng chúng nhằm vào bao gồm các tầng lớp nhân dân, thành phần xã hội, không phân biệt giàu nghèo, giới tính, độ tuổi nhưng quan trọng nhất là tầng lớp thanh niên. Chúng nhằm vào tầng lớp này bởi thanh niên là lực lượng tiên tiến, nhanh tiếp xúc với công nghệ, nhất là internet và mạng xã hội. Mặt khác, thanh niên cũng là đối tượng ít được rèn luyện qua thử thách, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng nên dễ bị xúi giục, kích động, mua chuộc... Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, lôi kéo một số du học sinh, nghiên cứu sinh đang học tập, công tác ở nước ngoài để tuyên truyền phản động; tập hợp, bồi dưỡng một số thanh niên có xu hướng phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  Đồng thời, đẩy mạnh tặng học bổng, hỗ trợ kinh phí từ các NGO, liên kết đào tạo, thẩm thấu những "giá trị” xã hội tư bản một cách tự nhiên nhưng rất thâm độc, nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này với âm mưu làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong tương lai. Họ gieo rắc vào giới trẻ khái niệm "cấp tiến”, "tự do”, "dân chủ” vô tổ chức, bất chấp luật pháp, tung hô những ý kiến "phản biện” ảo tưởng, xa rời thực tiễn. Đáng tiếc, thời gian gần đây đã xuất hiện một số trí thức trẻ, học sinh, sinh viên đã "sập bẫy” bởi những chiêu trò ấy. Họ bị kích động và đăng lên các bình luận, hùa theo tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, đề cao cái gọi là "xã hội dân sự”, "tự do ngôn luận”... Một số bạn trẻ đã mơ hồ, hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả cách mạng; tự đề cao cái tôi cá nhân, lối sống vị kỷ, cá biệt có trường hợp tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch.

Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Đây vừa là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt thường xuyên, vừa là nhiệm vụ cơ bản chiến lược lâu dài. Trước hết, chú trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho đoàn viên, thanh niên; tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chủ động cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, phương pháp, kỹ năng để thanh niên tự phòng ngừa, tự sàng lọc, tự đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá. Ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, tăng sức đề kháng cho thanh niên trước sự chống phá của các thế lực thù địch; tham gia bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục trong công tác giáo dục thanh niên, trong đó, đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước của đội ngũ cán bộ, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu rèn luyện tác phong và thực hiện lề lối công tác; xây dựng và triển khai các giá trị tiêu chí, chuẩn mực trong hành vi, lối sống, ứng xử của thanh niên trên nền các giá trị cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn các cấp, nhất là trong việc tập hợp, đưa thanh niên vào sinh hoạt trong tổ chức. Đây chính là môi trường thuận lợi để họ học tập, rèn luyện, phát triển và cống hiến. Qua đó, trực tiếp tôi luyện, giáo dục cho thanh niên lý tưởng, hoài bão và khát vọng cống hiến; hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc./.

 BẢN CHẤT, NỘI HÀM MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

                                                                                                               Nhân Trần

Độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

Một là, độc lập, tự chủ không phải là biệt lập, cô lập với thế giới bên ngoài, không đứng ngoài hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ thể hiện chủ quyền, quyền tự quyết, tự lựa chọn con đường phát triển, tự quyết định mô hình phát triển của quốc gia, dân tộc. Tự chủ là năng lực thực hiện chủ quyền, tức là thực hiện quyền tự quyết dân tộc trên thực tế. Độc lập, tự chủ bao gồm độc lập, tự chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Do đó, không có độc lập, tự chủ thì không thể nói tới hội nhập quốc tế chứ chưa nói tới chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. 

Hai là, độc lập, tự chủ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong việc tự quyết định lộ trình, bước đi, cách thức, nội dung, biện pháp, đối tác, lĩnh vực… hội nhập quốc tế. Qua gần 35 năm đổi mới cho thấy, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng đã định hướng đúng cho tiến trình hội nhập từ việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên, xác định lộ trình hội nhập phù hợp... Ban đầu, chúng ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sau đó cùng với hội nhập kinh tế, đã từng bước hội nhập toàn diện vào khu vực và quốc tế. Do vậy, quan hệ đối ngoại của nước ta được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, góp phần tạo ra thế và lực mới của đất nước. Quan điểm và chính sách kiên trì độc lập, tự chủ của Đảng ta luôn luôn được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển theo sự chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế. Điều đó đã mở đường cho quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, phục vụ thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Ba là, có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong lựa chọn, đề xuất các giải pháp đồng bộ, hữu hiệu, hạn chế tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế. Có độc lập, tự chủ thì mới độc lập, tự chủ trong phân tích, xử lý thông tin để có những giải pháp thiết thực, đồng bộ, hữu hiệu trước sự thay đổi mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực, mới chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế. 

Bốn là, độc lập, tự chủ là cơ sở để tận dụng nhiều cơ hội to lớn, đồng thời hạn chế tối đa những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước vừa, nhỏ, đang phát triển như Việt Nam do quá trình toàn cầu hóa gây ra. Để thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa, tận dụng được những cơ hội vàng do toàn cầu hóa đem lại, ngăn ngừa và khắc phục những thách thức do toàn cầu hóa gây ra thì các quốc gia phải chủ động, độc lập, tự chủ và nỗ lực cùng nhau hợp tác không phân biệt giàu nghèo, to nhỏ. Nhưng sự hợp tác đó phải trên tinh thần bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng luật pháp quốc tế. Do vậy, các quốc gia, dân tộc chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ thì mới có hiệu quả. 

Năm là, độc lập, tự chủ sẽ là cơ sở, điều kiện để nước ta chủ động phát huy được lợi thế so sánh của mình trong quá trình hội nhập quốc tế nhằm từng bước phát triển. Chúng ta chỉ có thể xuất khẩu được những mặt hàng có lợi thế so sánh này khi hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Nhưng nếu không độc lập, tự chủ thì lợi thế so sánh trong hội nhập sẽ bị các nước lớn mạnh lái theo ý họ. Có độc lập, tự chủ thì mới cân đối được, làm chủ được quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tránh nhập siêu quá giới hạn cho phép của nền kinh tế. Có độc lập, tự chủ chúng ta mới thúc đẩy kinh tế phát triển, lôi cuốn, kêu gọi được khách quốc tế đến tham quan, du lịch, làm ăn tại nước ta. 

Hội nhập quốc tế góp phần tăng cường khả năng giữ vững độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc

Một là, hội nhập quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội, tiền đề cho chúng ta giữ vững độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh. Thực tiễn gần 35 năm mở cửa, hội nhập, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự điều hành, quản lý hiệu quả của Nhà nước, hội nhập quốc tế đã trở thành một trong các nguồn lực quan trọng để chúng ta củng cố độc lập, tự chủ. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế vừa là một giải pháp vừa là một động lực để giữ vững độc lập, tự chủ. 

Hai là, hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cho chúng ta những cơ hội thuận lợi để huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững độc lập, tự chủ, chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy phải coi trọng huy động các nguồn lực bên ngoài. Muốn phát huy được các nguồn lực bên ngoài thì phải thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế. Chính hội nhập quốc tế cho chúng ta những điều kiện để tận dụng được lợi thế của các nguồn lực bên ngoài như nguồn lực vốn, nguồn lực kỹ thuật, nguồn lực quản lý. Chúng ta đều rõ, toàn cầu hóa tạo ra cơ hội mở rộng thị trường, hàng rào thuế quan ngày càng thu hẹp, làm cho các luồng chuyển giao vốn vượt ra khỏi biên giới quốc gia, dân tộc, tạo ra nhiều hình thức đầu tư, hợp tác sản xuất. 

Ba là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế giúp chúng ta thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chính quá trình toàn cầu hóa đang làm thay đổi phân công lao động trên từng khu vực và trên toàn thế giới. Chúng ta có thể tận dụng sự tái phân công lao động này để phát huy mặt mạnh và lợi thế so sánh cho phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sẽ cho chúng ta những cơ hội để rút ngắn quá trình này. Bởi lẽ, hội nhập kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa sẽ có cơ hội tiếp nhận và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để rút ngắn quá trình phát triển. 

Bốn là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, môi trường hòa bình, ổn định để chúng ta phát triển đất nước, trên cơ sở đó góp phần giữ vững độc lập, tự chủ. Là một dân tộc đã trải qua nhiều năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam hiểu rõ và khát khao hơn bất cứ quốc gia, dân tộc nào sự hòa bình, ổn định để chấn hưng đất nước. Chúng ta đều rõ, hiện nay trên bình diện an ninh, đang nổi lên nhiều vấn đề an ninh đáng lo ngại như chủ nghĩa khủng bố, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc, chủ nghĩa ly khai, nguy cơ bất ổn chính trị… Những vấn đề này đang đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của từng quốc gia cũng như từng khu vực và cả thế giới. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cùng một cơ chế thống nhất có hiệu quả trên cơ sở hợp tác giữa các nước, giữa các khu vực cũng như toàn thế giới. Muốn vậy các nước phải cùng nhau hợp tác. 

Năm là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta hội nhập đầy đủ, sâu rộng hơn vào các thể chế kinh tế thế giới cũng như thể chế kinh tế khu vực. Trên cơ sở đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và giữ vững độc lập, tự chủ. Để phát triển kinh tế, chúng ta không thể không hội nhập quốc tế để hội nhập đầy đủ hơn vào các thể chế kinh tế thế giới cũng như thể chế kinh tế khu vực. Đảng đã chỉ rõ: Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Bảo đảm hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh hội nhập trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không thể rơi vào thế bị động, đối đầu bất lợi. 

Sáu là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế còn tạo điều kiện, cơ hội cho chúng ta xuất khẩu lao động. Khi xuất khẩu được lao động, chúng ta sẽ có cơ hội để nguồn lao động được tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của những nước khác; tiếp thu được phong cách làm việc; phương thức tổ chức sản xuất của các nước. Điều này góp phần trực tiếp vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện đột phá về nhân lực chất lượng cao. Hơn nữa, xuất khẩu lao động còn tạo thêm công việc cho số lao động có tay nghề. Điều này góp phần giải quyết việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, trên cơ sở đó giảm thiểu tệ nạn xã hội. Đồng thời, xuất khẩu lao động còn góp phần tăng thu nhập trực tiếp cho người lao động, tăng thu ngân sách cho quốc gia./.

 

 

NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

Trung Lập

Là Chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975, Chiến dịch Tây Nguyên dành thắng lợi vang dội đã tạo ra đột biến chiến lược và điều kiện thuận lợi phát triển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam. Chiến dịch Tây Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch, trong đó nổi lên là nghệ thuật phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương để giành thế chủ động, áp đảo địch. Sự phối hợp hiệp đồng ấy được thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, đã phát huy vai trò của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức phối hợp chuẩn bị thiết bị chiến trường

Trên cơ sở nền tảng chiến tranh nhân dân đã được xây dựng, quá trình hoạt động tại Tây Nguyên, bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên luôn được sự đùm bọc, giúp đỡ to lớn của Đảng bộ và chính quyền các địa phương nơi đứng chân. Để phát huy sức mạnh tổng hợp trong quá trình tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch càng cần có sự phối hợp nhịp nhàng với lực lượng vũ trang địa phương, mà hệ thống tổ chức đảng, chính quyền các cấp là cơ quan trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng này. Theo đó, bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch, còn có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Khu ủy, đại diện cho Khu ủy Khu 5; đi sát với các hướng chiến dịch có các ban chỉ đạo tác chiến của Tỉnh ủy Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum ... Các thành phần trên đã góp phần quan trọng cùng Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời giải quyết được những vấn đề cấp bách nảy sinh trong quá trình tổ chức chuẩn bị, thực hành tác chiến cũng như phát triển chiến dịch. Yêu cầu đầu tiên đòi hỏi việc phối hợp phải được tiến hành thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức nhiều hội nghị liên tịch giữa đại biểu các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân với đại biểu của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương các tỉnh để xây dựng căn cứ địa, thiết bị chiến trường[1]. Trên địa bàn chiến trường, ngoài lực lượng chủ lực của chiến dịch còn có lực lượng vũ trang các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức và lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng Khu 5, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức chuẩn bị chiến dịch, xây dựng thiết bị chiến trường.

Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang các tỉnh ở Tây Nguyên, tổ chức xây dựng thiết bị chiến trường bảo đảm cho hoạt động tác chiến chiến dịch. Lực lượng công binh của Sư đoàn 968 và Trung đoàn 19 phối hợp với dân quân, nhân dân các làng phía Tây Pleiku tổ chức tu sửa các tuyến đường cơ động cho xe, pháo, mở mới những đoạn đường ở gần các mục tiêu địch trên các đường 19, 5A, 5B. Những con đường này góp phần quan trọng cho ta vận chuyển gạo, đạn, cơ động bộ đội pháo binh, cao xạ vào triển khai thế trận chiến dịch. Bên cạnh đó, các trận địa phòng ngự ở tuyến phía Tây Gia Lai như Chư Kra, Điểm cao 631 trên các đường 5A, 5B, Đường 19 cũng được lực lượng vũ trang địa phương phối hợp sửa chữa làm bàn đạp cho các lực lượng của chiến dịch cơ động tiến công địch.

Mặt khác, để thu hút địch về Bắc Tây Nguyên, giữ bí mật chiến dịch, tạo điều kiện cho hướng Buôn Ma Thuột chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Kon Tum đẩy mạnh hoạt động nghi binh, sử dụng lực lượng đánh nhỏ lẻ ở hướng Bắc và cử cán bộ xuống bàn bạc với Tỉnh ủy, Tỉnh đội tỉnh Kon Tum, Gia Lai, huy động lực lượng dân công làm đường vào thị xã, phao tin ta chuẩn bị đánh Kon Tum... làm cho địch hoang mang, lo sợ và lúng túng đối phó. Chấp hành chủ trương trên, Sư đoàn 10 dùng pháo, cối bắn vào thị xã Kon Tum; Sư đoàn 320 đánh nhỏ ở khu vực Đường 19; pháo binh bắn vào La Sơn, Thanh An; Trung đoàn 95 chặn đánh các tốp xe quân sự, tập kích các chốt địch trên Đường 19 Đông Pleiku; Trung đoàn 198 đặc công tập kích kho xăng Pleiku. Huy động dân công các huyện: 40, 67, 30, 80, Diêu Bình, Tân Cảnh tỉnh Kon Tum, các huyện: 4, 5 của tỉnh Gia Lai rầm rộ làm đường giả vào thị xã Kon Tum - Pleiku... và phao tin, nghi binh đánh lừa địch. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực của chiến dịch với lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Tây Nguyên đã sớm hình thành thế trận. Đến trước khi tác chiến chiến dịch, hệ thống đường trục chiến lược và đường ống đã xuyên qua khu căn cứ Tây Nguyên. Các khu kho, trạm cấp phát, trạm xe, trạm xăng dầu, đường dây thông tin và các trạm thông tin hữu tuyến, vô tuyến cũng được tổ chức hoàn thành. Tất cả các yếu tố thiết bị chiến trường trên đã góp phần quan trọng bảo đảm cho ta hoàn chỉnh thế trận tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên.

Hai là, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang địa phương tác chiến tạo thế, đánh cắt giao thông, tiến công rộng khắp, chia cắt, cô lập mục tiêu chủ yếu

Tây Nguyên nối liền với các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ bằng các đường 19, 7, 21 và liên hệ với Quân khu 1, Quân khu 3 của địch bằng đường chiến lược 14. Nếu những con đường này bị khống chế thì sự tiếp viện cho các lực lượng địch ở Tây Nguyên bằng đường bộ không thực hiện được. Để cắt đứt 3 trục đường 19, 21, 14, lực lượng chủ lực của chiến dịch cần có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương là lực lượng nắm chắc địa bàn, tham gia dẫn đường, triển khai thế trận và phối hợp tác chiến. Do vậy, ngoài các đơn vị chủ lực của chiến dịch thì lực lượng vũ trang Khu 5 cũng được huy động như: Sư đoàn 3, lực lượng vũ trang các tỉnh: Đắk Lắk, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Sư đoàn 3, Quân khu 5, dù có nhiều khó khăn về quân số và bảo đảm hậu cần, cũng đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, tích cực phối hợp với Trung đoàn 95A, đánh cắt Đường 19 từ đèo Thượng An đến Cầu 13 chiếm lĩnh khu vực Truông Ổi, Định Quang và làm chủ hoàn toàn đoạn đường này. Trung đoàn 25, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Khánh Hòa, hoạt động trên Đường 21 ở khu vực Chư Cúc, đánh chiếm và giữ chắc Đường 21 (đoạn Tây Khánh Dương 14km). Như vậy, hai con đường tiếp viện chính của Tây Nguyên là Đường 19 và 21 nối liền Tây Nguyên với đồng bằng đã bị cắt đứt. Sư đoàn 320, phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk tiến công tiêu diệt địch ở Buông Chiêng cắt đứt Đường 14 ở đoạn Buôn Hồ, Thuần Mẫn. Tập đoàn phòng ngự của địch ở Tây Nguyên bị chia cắt và cô lập.

Để giữ chắc địa bàn đã giành được, tạo thế cho chiến dịch, đòi hỏi lực lượng bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Bởi vì, trước nguy cơ bị vây hãm, ngoài việc dùng lực lượng tại chỗ, địch đã điều động Liên đoàn 4 biệt động quân từ Bàu Cạn xuống tăng cường cho Lữ đoàn 2 kỵ binh cùng 3 tiểu đoàn bảo an mở cuộc hành quân giải tỏa đoạn Tây Măng Giang; điều Trung đoàn 41 và 42 (Sư đoàn 22) từ Hòa Nhơn, lên Phú Phong phối hợp với Trung đoàn 47 hình thành sư đoàn đủ giải tỏa đoạn Đông An Khê; đồng thời, điều Liên đoàn 21 biệt động quân từ Kon Tum vào đối phó với ta ở Đường 14 đoạn Thuần Mẫn. Ngày 6 tháng 3, địch điều Chi đoàn 2, Liên đoàn 19 từ Bình Thuận ra Khánh Hòa phối hợp cùng học viên trường Biệt động quân Dục Mỹ và hai tiểu đoàn bảo an giải tỏa Đường 21 đoạn Tây Khánh Dương. Tuy nhiên, tất cả các lực lượng trên đều bị các đơn vị của chiến dịch phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh bại[2].

Bằng sự phối hợp tác chiến chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, ta cơ bản đã cài xong thế trận chiến dịch. Một là, chia cắt Đường 19, cô lập địch ở Bắc Tây Nguyên. Hai là, chia cắt Đường 21 - tuyến mạch máu vận chuyển từ thị trấn Ninh Hòa lên Buôn Ma Thuột, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ sung cho Pleiku - Kon Tum. Ba là, chia cắt Đường 14, cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm hai cụm Bắc - Nam, không chi viện ứng cứu được cho nhau. Với thế chia cắt hiểm đã đẩy địch đến nguy cơ thất thủ. Việc nối liền giữa Quy Nhơn với Pleiku - Kon Tum, giữa Nha Trang với Buôn Ma Thuột và giữa Pleiku, Cheo Reo với Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cắt đứt, bị cô lập, không thể tiếp tế vận chuyển và chi viện ứng cứu cho nhau bằng đường bộ. Tình thế đó đã đánh một đòn tâm lý nặng vào binh lính địch. Trong quá trình tác chiến chiến dịch, để hỗ trợ cho bộ đội chủ lực tiến công, lực lượng vũ trang các địa phương đã tiến hành tác chiến rộng khắp buộc địch phải giăng ra đối phó trên nhiều hướng xuất hiện sơ hở trên hướng mục tiêu, chủ yếu chiến dịch lựa chọn cùng với tác chiến tạo thế chiến dịch. Lực lượng vũ trang các tỉnh ở Tây Nguyên đẩy mạnh phá bình định, tập trung bao vây, bức hàng, bức rút đồn, bốt; đánh phá giao thông, cầu cống, kho tàng, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy, giải phóng một số quận ly, thị trấn. Ngay từ tối mùng 10 tháng 3, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 301 do Thị ủy Đắk Lắk trực tiếp chỉ đạo đã tiến vào thị xã nối lại các cơ sở và huy động quần chúng nổi dậy, du kích mật truy bắt bọn ác ôn và tàn quân địch, “quét sạch 13 khu đồn, 35 ấp chiến lược và bộ máy kìm kẹp của địch; giải phóng hoàn toàn 70 buôn và 11 dinh điền, chính quyền cách mạng nhanh chóng được thiết lập ở các cấp”[3]

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, lúc này lực lượng vũ trang địa phương các huyện và du kích của tỉnh Kon Tum đã được tập trung về tỉnh, do Tỉnh đội chỉ đạo, chỉ huy sử dụng hỏa lực đánh vào các khu quân sự và khu kho trong thị xã, khống chế sân bay, khu cảnh sát dã chiến. Đặc công của Mặt trận Tây Nguyên đánh vào trạm tiếp điện Chư Hreng. Phối hợp với bộ đội chủ lực hoạt động mạnh từ nam cầu Đắk Bla đến ngã ba Tà Huỳnh. Ở phía Bắc, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh thực hiện nhiều đợt pháo kích, tiếp cận ngay một số mục tiêu ở thị xã Kon Tum.

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, khi Chiến dịch Tây Nguyên mở màn, Tỉnh ủy đã chỉ đạo Tỉnh đội tỉnh tập trung toàn bộ lực lượng vũ trang của tỉnh tiêu diệt, bức hàng, bức rút các đồn, bốt, tiêu diệt những tên đầu sỏ ác ôn. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh đội, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai cùng với chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên giải phóng phần lớn đất đai phía Nam Pleiku - Cheo Reo, chia cắt, phân tán địch, tạo thế trận cho bộ đội chủ lực diệt địch.

Phối hợp với hướng chính, Sư đoàn 3, Quân khu 5 giải phóng An Khê, Trung đoàn 29 phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum tiến công các mục tiêu quanh thị xã Kon Tum; Trung đoàn 95A và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai bao vây các lực lượng địch quanh thị xã Pleiku, Trung đoàn 271 giải phóng Kiến Đức và thị xã Gia Nghĩa ... Sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng buộc địch phải phân tán đối phó khắp nơi. Lực lượng chủ lực địch tại Tây Nguyên (Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum) bị chia cắt không hỗ trợ được cho nhau. Lực lượng địa phương vốn đã mỏng yếu nay lại phải đối phó với lực lượng vũ trang địa phương của ta và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ, chính quyền địa phương nên càng suy yếu, tạo thời cơ thuận lợi cho bộ đội chủ lực tiến hành Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.

Ba là, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương trong truy kích địch rút chạy và phát triển chiến dịch

Địch rút chạy, tình huống chiến dịch diễn ra mau lẹ, đòi hỏi cần vận động nhanh để thực hiện truy kích kịp thời, vấn đề đặt ra là cần được sự phối hợp, giúp đỡ của lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh dẫn đường và tác chiến tạo thế. Với quyết tâm tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch từ Pleiku - Kon Tum về Cheo Reo, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã điều đồng chí Phó Tư lệnh, một bộ phận cơ quan chiến dịch trực tiếp đi cùng với Sư đoàn 320, 320A và một số đơn vị chiến đấu, phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 5, bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Phú Yên, huyện Phú Túc, huyện Củng Sơn tác chiến ngăn chặn, truy kích địch.

Trên hướng Pleiku - Kon Tum, các đơn vị chủ lực và địa phương phối hợp chặt chẽ, bám sát đội hình rút chạy của địch từ phía sau đánh tới. Các đơn vị bộ đội địa phương và du kích hai tỉnh Đắk Lắk, Phú Yên đánh chặn và chốt ở dọc đường không cho địch chạy thoát về Tuy Hòa, buộc chúng phải rút theo Đường 7 để ta truy kích, tiêu diệt. Trên Đường 7, được sự giúp đỡ của lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Sư đoàn 320 tổ chức gấp rút hành quân cắt đường, chặn đứng, tiêu diệt địch tại Cheo Reo. Sư đoàn 320A phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân, du kích, cấp ủy, chính quyền và nhân dân tỉnh Phú Yên truy kích địch. Đặc biệt, Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Phú Yên được đặt dưới sự chỉ huy chung của chỉ huy Trung đoàn 64, Sư đoàn 320A và đại diện quân sự tỉnh, đã tiêu diệt đại bộ phận khối quân địch từ Tây Nguyên rút chạy đang co cụm tại Củng Sơn[4] . Trận truy kích thần tốc, đuổi đánh địch tháo chạy trên Đường 7 - Cheo Reo, Củng Sơn đã phá tan âm mưu co cụm của địch về đồng bằng, góp phần quan trọng giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, tạo thời cơ chiến lược cho Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong tháng 4 năm 1975.

Trên đà phát triển thuận lợi xuống đồng bằng, Bộ Tổng Tư lệnh điện giao bổ sung nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên: Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3 trục đường 19, 7 và 21, giải phóng Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3, Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, từ Tây Nguyên, các đơn vị chủ lực đã tiến theo các đường 19, 7 và 21, đổ xuống duyên hải miền Trung cùng với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt và làm tan rã quân địch. Sau khi giải phóng Pleiku, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95 được chuyển về trực thuộc Quân khu 5, tiến theo Đường 19, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5, chiếm khu vực sân bay Gò Quánh, giải phóng Đập Đá, diệt Trung đoàn 47 ngụy và Sở Chỉ huy Sư đoàn 2, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Định tiến công giải phóng thị xã Quy Nhơn. Sư đoàn 320, sau khi diệt địch ở Củng Sơn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương của Phú Yên tiêu diệt địch và giải phóng thị xã Tuy Hòa. Sư đoàn 10 được phối thuộc Trung đoàn 25, Tiểu đoàn xe tăng, được pháo binh và phòng không chi viện, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Khánh Hòa phát triển tiến công theo Đường 21 tiêu diệt Lữ đoàn dù số 3, tiến vào giải phóng Nha Trang, thực hiện thắng lợi bước phát triển của Chiến dịch Tây Nguyên.

Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đã tạo cho ta sức mạnh toàn diện mới, mở ra tiền đề vô cùng quan trọng đẩy mạnh cuộc tiến công phát triển mạnh mẽ. Sự đoàn kết, gắn bó giữa cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương địa bàn với bộ đội chủ lực chiến dịch là thực sự cần thiết, đặc biệt là sự phối hợp tác chiến chặt chẽ của lực lượng vũ trang địa phương tiến hành tác chiến tạo thế, liên tục tiến công, lần lượt tiêu diệt, làm tan rã, truy kích tiêu diệt địch và phát triển chiến dịch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự trong Chiến dịch Tây Nguyên cần được nghiên cứu, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc tình hình mới.



[1] Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch Tây Nguyên, Nxb QĐND, Hà Nội, 1991, tr.13.

[2] Tài liệu số 07/L20, Tổng kết tiến công quân sự của các lực lượng vũ trang Quân khu 5 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Lưu tại Quân khu 5, tr.19.

 [3] Thường vụ Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, Lịch sử bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên – Quân đoàn 3 (1964-2005), Nxb QĐND, Hà Nội, 2005, tr.440.

[4] Truy kích trong Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 2010, tr.101.