Thứ Tư, 12 tháng 2, 2025

 CHIẾN THẮNG TÂY NGUYÊN - TẠO BƯỚC ĐÀ CHIẾN LƯỢC CHO TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975

Hoa Súng

Sau nhiều thất bại liên tiếp trên các chiến trường Việt Nam và Đông Dương, mà đặc biệt là thất bại trong cuộc tập kích chiến lược 12 ngày đêm cuối năm 1972 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương ở miền Bắc bằng lực lượng lớn máy bay B52 chiến lược, đế quốc Mỹ đành bất lực buộc phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, vào ngày 27/1/1973. Tuy nhiên, khi Hiệp định Paris vừa mới ký còn chưa ráo mực, bất chấp khát vọng hòa bình của Chính phủ và Nhân dân Việt Nam, đế quốc Mỹ và lực lượng ngụy Sài Gòn đã ra sức Hiệp định đến cùng, chúng thực hiện kế hoạch “bình định, lấn chiếm” chúng đã liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng.

Trước tình hình khó khăn đó, tháng 7/1973,  Ban Chấp hành Trung ương Ðảng ta đã họp Hội nghị lần thứ 21 và ra Nghị quyết về thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Hội nghị phân tích thắng lợi to lớn của ta sau 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; chỉ ra một số nhược điểm, khuyết điểm của ta từ sau Hiệp định Paris. Hội nghị khẳng định: Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng - đây là một định hướng lớn cho các tổ chức, các lực lượng cách mạng cả nước quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và dấu tranh ngoại giao để chọn thời cơ thuận lợi đi đến giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Thực hiện nghị quyết trên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ đầu năm 1974, quân ta ở các chiến trường trên toàn miền Nam đã huy động tối đa lực lượng, chủ động tổ chức chuyển sang phản công và tiến công, quyết tâm đánh bại âm mưu lấn đất, giành dân, từng bước đẩy lùi địch về thế phòng ngự bị động.

Từ ngày 30/9/1974 đến ngày 08/10/1974, Bộ Chính trị họp mở rộng (đợt 1) với sự tham gia của các đồng chí trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam. Sau khi phân tích tình hình mọi mặt, Bộ Chính trị khẳng định: “Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được hồi phục… thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng”.

Ta mở Chiến dịch Phước Long - Đường 14 vào ngày 23/12/1974 với sự tham gia của Sư đoàn 7 (Quân đoàn 4) và lực lượng vũ trang địa phương. Sau 25 ngày chiến đấu anh dũng và liên tục tiến công, lực lượng của ta đã giành thắng lợi vào ngày 06/01/1975. Cũng trong thời điểm này, từ ngày 08/12/1974 đến ngày 07/01/1975, Bộ Chính trị tiếp tục họp (đợt 2), các đồng chí lãnh đạo chỉ huy chủ chốt ở chiến trường Nam Bộ và Khu V được mời tham dự. Hội nghị đã thảo luận ba vấn đề cụ thể: Lực lượng so sánh ta - địch diễn ra từ sau Hiệp định Paris đến lúc này; những yêu cầu phải đạt của kế hoạch hai năm 1975 - 1976; nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường.

Hội nghị đánh giá và nhận định về thế mới và lực mới của cách mạng thể hiện trên các mặt sau đây: Một là, ta đã giành quyền chủ động tiến công địch trên khắp các chiến trường; hai là, ta đã củng cố và hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị - Thiên đến Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; ba là, ta đã xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở vùng rừng núi, tập trung được nguồn dự trữ chiến lược trên những địa bàn quan trọng; bốn là, ta đã cải thiện được tình hình nông thôn đồng bằng; năm là, ta đã phát động được phong trào đấu tranh chính trị dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc; sáu là, ta tiếp tục tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Về phía địch, thế của chúng ngày càng xấu, lực của chúng ngày càng suy, biểu hiện ở chỗ: Quân ngụy ở thế phòng ngự, bị động, bảo an, dân vệ bị tan rã từng mảng; hỏa lực, cơ động và trình độ hiệp đồng của quân chủ lực ngụy giảm sút nghiêm trọng; tinh thần quân ngụy đang xuống dốc, kế hoạch bình định đang phá sản; nội bộ Ngụy rối loạn. “Trước tình hình quân sự, chính trị, kinh tế đó, Nguyễn Văn Thiệu khó bề đứng vững”[2]. Căn cứ vào thế và lực so sánh giữa ta - địch, Hội nghị đã phân tích cụ thể thời cơ lịch sử và khả năng thực tế của ta mở trận quyết chiến cuối cùng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Bộ Chính trị khẳng định: “Chúng ta nhất trí phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc năm 1976… Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực” và nhấn mạnh: “Trận quyết chiến chiến lược này là một sự nghiệp trọng đại. Nó sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, góp phần làm thay đổi cục diện ở Đông Dương, Đông Nam Á, mở ra một bước phát triển mới trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới”.

Ngày 06/01/1975, một ngày trước khi Hội nghị kết thúc, tin chiến thắng giải phóng thị xã Phước Long đã báo tin về phòng họp của Bộ Chính trị. Khi kết thúc Hội nghị, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc…, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”[5] và “tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, thắng địch tại sào huyệt quan trọng nhất của chúng là Sài Gòn, để kết thúc chiến tranh”[6]; “Đánh trận cuối cùng này, trước hết là nhiệm vụ của các lực lượng quân sự, chính trị trên chiến trường Nam Bộ, trong đó có lực lượng Sài Gòn - Gia Định, đồng thời là nhiệm vụ của quân dân cả nước, trong đó khối chủ lực Miền và các binh đoàn chủ lực từ các chiến trường khác đến đóng vai trò quyết định”[7].


          Thực hiện chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, bước vào mùa Xuân năm 1975, ta chọn Nam Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 được mở ra với ý định ban đầu là giải phóng vùng Nam Tây Nguyên, trước hết là thị xã Buôn Ma Thuột có ý nghĩa chiến lược.

Sau các hoạt động nghi binh tích cực thu hút địch lên hướng bắc, từ ngày 04/3/1975, bộ đội ta bước vào tác chiến tạo thế, chặt đứt giao thông địch trên trục đường 19 và 21, chia cắt chiến lược các tập đoàn địch ở Tây Nguyên và đồng bằng. Ngày 08/3, Sư đoàn 302 diệt cứ điểm Cẩm Ga, chiếm giữ đường 14 ở khu vực này, chia cắt chiến dịch quân địch ở Bắc và Nam Tây Nguyên. Từ 09 đến 10/3, chính thức bước vào tác chiến chiến dịch, Sư đoàn 10 tiêu diệt căn cứ Đức Lập.

Ngày 10/3, Sư đoàn 316, Trung đoàn 95b, Trung đoàn đặc công 198 đồng loạt mở 5 mũi tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Đây là trận đánh then chốt chủ yếu. Sau hơn một ngày chiến đấu quyết liệt, trưa 11/3, ta giải phóng thị xã.

Từ 14 đến 18/3, Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 tiến công lực lượng địch đổ bộ trực thăng trên đường 21, Đông Bắc thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động quân 21, đập tan ý đồ phản kích của địch.

Bị thất bại nhanh chóng và nặng nề, trước tình huống không còn lực lượng cơ động ứng cứu, ngụy quyền Sài Gòn buộc phải ra lệnh rút bỏ Bắc Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng còn lại của Quân đoàn 2. Khoét sâu sai lầm của địch, ta tung Sư đoàn 320 vào truy kích, tập kích tập đoàn địch rút chạy trên đường 7, từ 17 đến 23/3, tiêu diệt hầu hết lực lượng này gồm 1 trung đoàn bộ binh, 5 liên đoàn biệt động quân, 3 thiết đoàn và các đơn vị khác, giải phóng Cheo Reo, Củng Sơn. Đồng thời, từ 18 đến 24/3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95a, và Trung đoàn 271 tiến vào giải phóng các thị xã Kon Tum, Pleiku, Gia Nghĩa.

Qua 20 ngày đêm chiến đấu, đến ngày 24/3/1975, chiến dịch Tây Nguyên đã giành thắng lợi hoàn toàn. Quân, dân miền Nam đánh bại cuộc phản kích của Sư đoàn 23 Việt Nam cộng hòa, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng rút chạy trên đường số 7, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu II, giải phóng Tây Nguyên, nhanh chóng phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung.

Chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên - tạo bước đà chiến lược cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

Sau khi không thể nào cứu vãn được trước thất bại nặng nề ở Tây Nguyên, thế phòng thủ của quân Ngụy giữa các chiến trường Huế, Đà Nẵng, các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Sài Gòn bị chia cắt lâm vào trạng thái hoảng loạn, tinh thần chiến đâu sa sút. Đây là thời cơ rất thuận lợi để quân và dân ta đẩy nhanh tốc độ tiến công đánh chiếm các địa bàn chiến lược của địch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong lúc đó, từ ngày 06/3/1975, Quân giải phóng bắt đầu tiến công ở Trị Thiên và Khu 5. Đến ngày 21/3, phát huy thắng lợi nhanh chóng và dồn dập ở Tây Nguyên và đồng bằng miền Trung, hai chiến dịch ở Quân khu V và Quân khu Trị Thiên đã phát triển thành chiến dịch tiến công Huế Đà Nẵng.

Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Ngày 26/3/1975, Huế được giải phóng. Ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng.

Sau 25 ngày đêm chiến đấu (06/3 - 29/3/1975), Quân giải phóng tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1, Quân khu I. Đến ngày 03/4, toàn bộ các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung được giải phóng.

Ngày 04/4/1975, Quân uỷ Trung ương giao cho Khu 5 và lực lượng hải quân tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa từ ngày 14 đến ngày 29/4/1975, toàn bộ các đảo trên được giải phóng.

Trong thời gian từ ngày 26/4 đến 30/4/1975, chiến dịch lịch sử mang tên Hồ Chí Minh diễn ra và giành toàn thắng. Sài Gòn Gia Định và miền Đông Nam Bộ được sạch bóng quân thù. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Toàn bộ Quân đoàn 3, Quân khu III quân đội Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã.

Ở khu vực các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam từ đầu tháng 3/1975, đến ngày 01/5/1975 đã giải phóng toàn bộ khu vực này, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 4, Quân khu IV của địch, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đã kết thúc thắng lợi.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 cho thấy ý nghĩa, vai trò của Chiến dịch Tây Nguyên là rất quan trọng tạo bước đột phá mới, mở ra những thuận lợi mới trên các chiến trường miền Nam thuộc về ta, quân địch bị hoảng loạn vào thế bất lợi vô cùng. Nếu không có thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên thì thời cơ tổ chức Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 sẽ gặp vô cùng cùng khó khăn. Vì những thắng lợi to lớn của Chiến dịch Tây Nguyên là cơ sở thực tiễn quan trọng để Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm và tổ chức thực hiện kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975 đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Từ vai trò của Chiến thắng Tây Nguyên - tạo bước đà chiến lược cho phát triển của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và vận dụng vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nên tảng tư tưởng của Đảng ở Học viện Chính trị hiện nay

Một là, nắm chắc bối cảnh lịch sử và diễn biến, kết quả của Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 và khẳng định Chiến thắng Tây Nguyên có ý nghĩa to lớn tạo ra một  bước đà mới manh mẽ, quan trọng cho Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lịch sử và thực tiễn.

Hai là, vận dụng ý nghĩa của chiến thắng Tây Nguyên vào giảng dạy ở Học viện Chính trị hiện nay, cần bám sát từng đối tượng đào tạo, chương trình, nội dung của từng môn học trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học quân sự và khoa học nghệ thuật để chắt lọc những nội dung hợp lý, sử dụng phương pháp hợp lý, lồng ghép các nội dung kiến thức của chiến thắng trên vào làm rõ khẳng định nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; những giá trị về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trong Chiến dịch Tây Nguyên. Đồng thời, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức điều hành và tiến hành chiến tranh vào chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Ba là, lựa chọn và khai thác tốt các nội dung của chiến thắng Tây Nguyên năm 1975 vào nghiên cứu các đề tài, chuyên đề, thông tin khoa học, tọa đàm khoa học góp phần làm sâu sắc thêm về giá trị lịch sử và thực tiễn của Chiến dịch Tây Nguyên 1975 đối với thắng lợi chung của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Bốn là, tích cực theo dõi, phát hiện các trang mạng của các thế lực thù địch đăng tải các trang thông tin xuyên tạc, phủ nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam trong Chiến thắng Tây Nguyên nói riêng trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 chung./.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét