ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC
VÀO KỶ NGUYÊN MỚI, KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Nhân Trần
1.
Cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng
Trong 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không ngừng tìm tòi, phát
triển, bổ sung, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo,
năng lực cầm quyền. Đây là yếu tố then chốt bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch,
vững mạnh, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, giành hết
thắng lợi này đến thắng lợi khác. Yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo,
nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, bảo đảm Đảng là người cầm lái
vĩ đại, đưa dân tộc ta tiến lên mạnh mẽ đang đặt ra cấp thiết. Thực hiện nghiêm
phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tuyệt đối không để xảy ra bao biện,
làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng. Xây dựng các chi bộ cơ sở vững
mạnh, có tính chiến đấu cao, có năng lực đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn
cuộc sống; đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ cơ sở đảng, bảo đảm
hoạt động sinh hoạt chi bộ thực chất, hiệu quả. Đổi mới công tác kiểm tra, giám
sát; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các hoạt động
của Đảng. Ban hành Quy định phân cấp thẩm quyền kiểm tra, giám sát gắn với phát
hiện, xử lý nghiêm mọi hành vi lợi dụng kiểm tra, giám sát để tham nhũng, tiêu
cực.
2. Tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã
đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.
Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực, thì thể
chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”, đặt ra yêu cầu cấp thiết phát huy tính
đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về quan điểm pháp
luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải liên tục được hoàn
thiện để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát huy dân chủ, vì con
người, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Về
giải pháp, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp. Chuyển đổi tư duy xây dựng pháp
luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước vừa khuyến khích sáng tạo,
giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển. Tư duy
quản lý không cứng nhắc, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Các
quy định của luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài; luật chỉ quy định
những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc; không cần quá dài. Đổi mới
quy trình xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật. Bám sát thực tiễn, đứng trên
mảnh đất thực tiễn Việt Nam để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp; vừa làm
vừa rút kinh nghiệm; không nóng vội, nhưng cũng không cầu toàn, để mất thời cơ;
lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể; thường xuyên đánh giá hiệu
quả, chất lượng chính sách sau ban hành để kịp thời điều chỉnh bất cập, mâu
thuẫn, giảm thiểu thất thoát, lãng phí các nguồn lực; chủ động phát hiện và
tháo gỡ nhanh nhất những “điểm nghẽn” có nguyên nhân từ các quy định của pháp
luật. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền với phương châm “địa phương quyết, địa
phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; cải cách triệt để thủ tục hành chính,
giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân và doanh nghiệp.
Tập trung kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ
cương, đề cao trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu, kiên quyết chống
tiêu cực, “lợi ích nhóm”.
3.
Tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu
quả
Nhiệm vụ này đang đặt ra rất cấp thiết. Hiện nay 70% ngân sách
dùng để nuôi bộ máy, trong khi đó công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy
hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm
cấp trung gian còn bất cập, một bộ phận còn cồng kềnh, chồng lấn giữa lập pháp
và hành pháp, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế
xin, cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với
vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức,
viên chức còn thiếu triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cản
trở phát triển, tăng thủ tục hành chính, lãng phí thời gian công sức của doanh
nghiệp, công dân, làm lỡ thời cơ phát triển của đất nước. Vì vậy tiếp tục tập
trung xây dựng, tinh gọn bộ máy tổ chức Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ
quốc, các tổ chức chính trị - xã hội để hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tinh gọn
bộ máy, tổ chức các cơ quan của Đảng, thực sự là hạt nhân trí tuệ, là “bộ tổng
tham mưu”, đội tiên phong lãnh đạo cơ quan nhà nước. Cắt giảm đầu mối trung
gian không cần thiết, sắp xếp tổ chức theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực. Đẩy
mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa
phương chịu trách nhiệm” gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát, xác định rõ
trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương,
giữa người quản lý và người lao động. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo
đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo,
nâng cao khả năng tự chủ, tự cường của các địa phương.
4.
Chuyển đổi số
Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào
các hoạt động kinh tế - xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản
xuất mới tiên tiến, hiện đại - “phương thức sản xuất số”, trong đó đặc trưng
của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân
tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng;
đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong
hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số. Thực hiện cách mạng chuyển
đổi số với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất,
tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi do Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát
triển vượt bậc. Bộ Chính trị sẽ sớm nghiên cứu, ban hành nghị quyết về chuyển
đổi số quốc gia để lãnh đạo thực hiện quyết liệt trong toàn Đảng, toàn hệ thống
chính trị. Tập trung xây dựng hành lang pháp lý cho phát triển số, tạo nền tảng
để Việt Nam nắm bắt cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thường xuyên rà
soát, sửa đổi kịp thời các quy định không còn phù hợp, tạo hành lang cho các mô
hình kinh tế mới, như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo...
bảo đảm khung pháp lý không trở thành rào cản của sự phát triển, đồng thời bảo
đảm an ninh quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh
nghiệp. Đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an toàn. Tập trung xây
dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ
công trực tuyến mức độ cao. Kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư, đất đai, doanh nghiệp, tạo nền tảng tinh gọn bộ máy, cải cách thủ tục hành
chính thực chất. Phát triển kinh tế số, xây dựng công dân số.
5.
Chống lãng phí
Đẩy mạnh phòng, chống lãng phí tương đương với phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực. Từ ban hành quy định của Đảng để nhận diện, chiến lược quốc
gia, quy định của pháp luật và thực thi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân;
xử lý nghiêm các cá nhân, tập thể có hành vi, việc làm gây thất thoát, lãng phí
tài sản công theo tinh thần “xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng cả lĩnh vực”. Rà
soát, bổ sung các quy định về cơ chế quản lý, các định mức kinh tế - kỹ thuật
không còn phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Hoàn thiện các quy
định xử lý hành vi lãng phí; các quy định về quản lý, sử dụng tài sản công; thể
chế trong ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tạo sự đồng bộ trong
chuyển đổi để giảm thiểu lãng phí. Giải quyết dứt điểm tồn tại kéo dài đối với
các dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, dự án hiệu quả thấp, gây thất
thoát, lãng phí lớn; các ngân hàng thương mại yếu kém. Sớm hoàn thành cổ phần
hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Xây dựng văn
hóa phòng, chống lãng phí; đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở
thành “tự giác”, “tự nguyện”, “cơm ăn nước uống, áo mặc hàng ngày”.
6.
Công tác cán bộ
Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề “rất trọng yếu”, “quyết định
mọi việc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực đưa đất nước bước
vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đang đặt ra cấp thiết. Đổi
mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều
động, đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở sản
phẩm cụ thể đo đếm được Tăng cường tự đào tạo, tự bồi dưỡng, nhất là đối với
yêu cầu của chuyển đổi số. Xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ có tư
duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích
chung trên cơ sở phân định rõ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì
lợi ích chung với người phiêu lưu, liều lĩnh, viển vông, không thực tế; bảo vệ
đối với những trường hợp nguy cơ rủi ro, sai sót từ sớm, ngay khi có kế hoạch,
không để nhụt chí. Sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người
không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, thử thách
đối với các đồng chí là nhân sự được quy hoạch tham gia cấp ủy, ban thường vụ
cấp ủy các cấp, bảo đảm lựa chọn ra được cấp ủy, nhất là người đứng đầu có năng
lực lãnh đạo, có sức chiến đấu cao, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,
dám đổi mới sáng tạo vì sự nghiệp chung, có năng lực lãnh đạo thực hiện thắng
lợi các chủ trương của Đảng, đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống
trên từng lĩnh vực, địa bàn.
Phát triển kkinh tế
Đột phá mạnh mẽ hơn về thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, rào
cản, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, huy động, khơi thông mọi nguồn
lực bên trong, bên ngoài, nguồn lực trong dân, phát triển khoa học và công nghệ
đồng bộ, thông suốt, tất cả vì sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội của đất
nước và phát triển nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đồng
bộ và đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là ưu tiên cao
nhất. Tập trung xây dựng mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là xây
dựng con người xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa
mà Cương lĩnh của Đảng đã xác định. Phát triển lực lượng sản xuất mới (kết hợp
giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với tư liệu sản xuất mới, hạ tầng chiến lược
về giao thông, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh) gắn với hoàn thiện quan hệ sản
xuất. Khởi xướng và thực hiện cách mạng chuyển đổi số. Đẩy mạnh công nghệ chiến
lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng
tạo làm động lực chính cho phát triển./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét