NGHỆ THUẬT PHỐI HỢP TÁC CHIẾN VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA
PHƯƠNG TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN
Trung Lập
Là Chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến
công chiến lược Xuân 1975, Chiến dịch Tây Nguyên dành thắng lợi vang dội đã tạo
ra đột biến chiến lược và điều kiện thuận lợi phát triển cuộc tiến công chiến
lược thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam. Chiến dịch Tây
Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật tổ chức chuẩn bị và
thực hành chiến dịch, trong đó nổi lên là nghệ thuật phối hợp chặt chẽ giữa bộ
đội chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương để giành thế chủ động, áp đảo địch.
Sự phối hợp hiệp đồng ấy được thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau:
Một là,
đã phát huy vai trò của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ
đạo tổ chức phối hợp chuẩn bị thiết bị chiến trường
Trên cơ sở nền
tảng chiến tranh nhân dân đã được xây dựng, quá trình hoạt động tại Tây Nguyên,
bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên luôn được sự đùm bọc, giúp đỡ to lớn của Đảng
bộ và chính quyền các địa phương nơi đứng chân. Để phát huy sức mạnh tổng hợp
trong quá trình tổ chức chuẩn bị và thực hành chiến dịch càng cần có sự phối hợp
nhịp nhàng với lực lượng vũ trang địa phương, mà hệ thống tổ chức đảng, chính
quyền các cấp là cơ quan trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng này. Theo đó,
bên cạnh Bộ Tư lệnh Chiến dịch, còn có các đồng chí Ủy viên Thường vụ Khu ủy, đại
diện cho Khu ủy Khu 5; đi sát với các hướng chiến dịch có các ban chỉ đạo tác
chiến của Tỉnh ủy Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum ... Các thành phần trên đã góp phần
quan trọng cùng Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời giải quyết được những vấn đề cấp
bách nảy sinh trong quá trình tổ chức chuẩn bị, thực hành tác chiến cũng như
phát triển chiến dịch. Yêu cầu đầu tiên đòi hỏi việc phối hợp phải được tiến
hành thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, Bộ
Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức nhiều hội nghị liên tịch giữa đại biểu các đơn vị
lực lượng vũ trang nhân dân với đại biểu của cấp ủy đảng và chính quyền địa
phương các tỉnh để xây dựng căn cứ địa, thiết bị chiến trường[1]. Trên
địa bàn chiến trường, ngoài lực lượng chủ lực của chiến dịch còn có lực lượng
vũ trang các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Đức và lực lượng vũ trang
các tỉnh đồng bằng Khu 5, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức
chuẩn bị chiến dịch, xây dựng thiết bị chiến trường.
Dưới
sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực
lượng vũ trang các tỉnh ở Tây Nguyên, tổ chức xây dựng thiết bị chiến trường bảo
đảm cho hoạt động tác chiến chiến dịch. Lực lượng công binh của Sư đoàn 968 và
Trung đoàn 19 phối hợp với dân quân, nhân dân các làng phía Tây Pleiku tổ chức
tu sửa các tuyến đường cơ động cho xe, pháo, mở mới những đoạn đường ở gần các
mục tiêu địch trên các đường 19, 5A, 5B. Những con đường này góp phần quan trọng
cho ta vận chuyển gạo, đạn, cơ động bộ đội pháo binh, cao xạ vào triển khai thế
trận chiến dịch. Bên cạnh đó, các trận địa phòng ngự ở tuyến phía Tây Gia Lai
như Chư Kra, Điểm cao 631 trên các đường 5A, 5B, Đường 19 cũng được lực lượng
vũ trang địa phương phối hợp sửa chữa làm bàn đạp cho các lực lượng của chiến dịch
cơ động tiến công địch.
Mặt
khác, để thu hút địch về Bắc Tây Nguyên, giữ bí mật chiến dịch, tạo điều kiện
cho hướng Buôn Ma Thuột chuẩn bị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo phối hợp chặt
chẽ với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Kon Tum đẩy mạnh hoạt động nghi
binh, sử dụng lực lượng đánh nhỏ lẻ ở hướng Bắc và cử cán bộ xuống bàn bạc với
Tỉnh ủy, Tỉnh đội tỉnh Kon Tum, Gia Lai, huy động lực lượng dân công làm đường
vào thị xã, phao tin ta chuẩn bị đánh Kon Tum... làm cho địch hoang mang, lo sợ
và lúng túng đối phó. Chấp hành chủ trương trên, Sư đoàn 10 dùng pháo, cối bắn
vào thị xã Kon Tum; Sư đoàn 320 đánh nhỏ ở khu vực Đường 19; pháo binh bắn vào
La Sơn, Thanh An; Trung đoàn 95 chặn đánh các tốp xe quân sự, tập kích các chốt
địch trên Đường 19 Đông Pleiku; Trung đoàn 198 đặc công tập kích kho xăng
Pleiku. Huy động dân công các huyện: 40, 67, 30, 80, Diêu Bình, Tân Cảnh tỉnh
Kon Tum, các huyện: 4, 5 của tỉnh Gia Lai rầm rộ làm đường giả vào thị xã Kon
Tum - Pleiku... và phao tin, nghi binh đánh lừa địch. Sự
phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực của chiến dịch với lực lượng vũ trang địa
phương các tỉnh Tây Nguyên đã sớm hình thành thế trận. Đến trước khi tác chiến
chiến dịch, hệ thống đường trục chiến lược và đường ống đã xuyên qua khu căn cứ
Tây Nguyên. Các khu kho, trạm cấp phát, trạm xe, trạm xăng dầu, đường dây thông
tin và các trạm thông tin hữu tuyến, vô tuyến cũng được tổ chức hoàn thành. Tất
cả các yếu tố thiết bị chiến trường trên đã góp phần quan trọng bảo đảm cho ta
hoàn chỉnh thế trận tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên.
Hai là, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ
trang địa phương tác chiến tạo thế, đánh cắt giao thông, tiến công rộng khắp,
chia cắt, cô lập mục tiêu chủ yếu
Tây Nguyên nối liền với các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ bằng các
đường 19, 7, 21 và liên hệ với Quân khu 1, Quân khu 3 của địch bằng đường chiến
lược 14. Nếu những con đường này bị khống chế thì sự tiếp viện cho các lực lượng
địch ở Tây Nguyên bằng đường bộ không thực hiện được. Để cắt đứt 3 trục đường
19, 21, 14, lực lượng chủ lực của chiến dịch cần có sự hỗ trợ của lực lượng vũ
trang địa phương là lực lượng nắm chắc địa bàn, tham gia dẫn đường, triển khai
thế trận và phối hợp tác chiến. Do vậy, ngoài các đơn vị chủ lực của chiến dịch
thì lực lượng vũ trang Khu 5 cũng được huy động như: Sư đoàn 3, lực lượng vũ
trang các tỉnh: Đắk Lắk, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Sư đoàn 3, Quân khu 5,
dù có nhiều khó khăn về quân số và bảo đảm hậu cần, cũng đã nghiêm chỉnh chấp
hành mệnh lệnh, tích cực phối hợp với Trung đoàn 95A, đánh cắt Đường 19 từ đèo
Thượng An đến Cầu 13 chiếm lĩnh khu vực Truông Ổi, Định Quang và làm chủ hoàn
toàn đoạn đường này. Trung đoàn 25, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa
phương tỉnh Khánh Hòa, hoạt động trên Đường 21 ở khu vực Chư Cúc, đánh chiếm và
giữ chắc Đường 21 (đoạn Tây Khánh Dương 14km). Như vậy, hai con đường tiếp viện
chính của Tây Nguyên là Đường 19 và 21 nối liền Tây Nguyên với đồng bằng đã bị
cắt đứt. Sư đoàn 320, phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk tiến công
tiêu diệt địch ở Buông Chiêng cắt đứt Đường 14 ở đoạn Buôn Hồ, Thuần Mẫn. Tập
đoàn phòng ngự của địch ở Tây Nguyên bị chia cắt và cô lập.
Để giữ chắc địa bàn đã giành được, tạo thế cho chiến dịch, đòi hỏi lực
lượng bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương phải phối hợp chặt chẽ với
nhau. Bởi vì, trước nguy cơ bị vây hãm, ngoài việc dùng lực lượng tại chỗ, địch
đã điều động Liên đoàn 4 biệt động quân từ Bàu Cạn xuống tăng cường cho Lữ đoàn
2 kỵ binh cùng 3 tiểu đoàn bảo an mở cuộc hành quân giải tỏa đoạn Tây Măng
Giang; điều Trung đoàn 41 và 42 (Sư đoàn 22) từ Hòa Nhơn, lên Phú Phong phối hợp
với Trung đoàn 47 hình thành sư đoàn đủ giải tỏa đoạn Đông An Khê; đồng thời,
điều Liên đoàn 21 biệt động quân từ Kon Tum vào đối phó với ta ở Đường 14 đoạn Thuần
Mẫn. Ngày 6 tháng 3, địch điều Chi đoàn 2, Liên đoàn 19 từ Bình Thuận ra Khánh
Hòa phối hợp cùng học viên trường Biệt động quân Dục Mỹ và hai tiểu đoàn bảo an
giải tỏa Đường 21 đoạn Tây Khánh Dương. Tuy nhiên, tất cả các lực lượng trên đều
bị các đơn vị của chiến dịch phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh bại[2].
Bằng sự phối hợp tác chiến chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương,
ta cơ bản đã cài xong thế trận chiến dịch. Một là, chia cắt Đường 19, cô lập địch
ở Bắc Tây Nguyên. Hai là, chia cắt Đường 21 - tuyến mạch máu vận chuyển từ thị
trấn Ninh Hòa lên Buôn Ma Thuột, đồng thời còn là đường dự bị vận chuyển bổ
sung cho Pleiku - Kon Tum. Ba là, chia cắt Đường 14, cắt chiến trường Tây
Nguyên ra làm đôi, khiến bản thân tập đoàn Tây Nguyên của địch cũng bị xé làm
hai cụm Bắc - Nam, không chi viện ứng cứu được cho nhau. Với thế chia cắt hiểm
đã đẩy địch đến nguy cơ thất thủ. Việc nối liền giữa Quy Nhơn với Pleiku - Kon
Tum, giữa Nha Trang với Buôn Ma Thuột và giữa Pleiku, Cheo Reo với Buôn Ma Thuột
hoàn toàn bị cắt đứt, bị cô lập, không thể tiếp tế vận chuyển và chi viện ứng cứu
cho nhau bằng đường bộ. Tình thế đó đã đánh một đòn tâm lý nặng vào binh lính địch.
Trong quá trình tác chiến chiến dịch, để hỗ trợ cho bộ đội chủ lực tiến công, lực
lượng vũ trang các địa phương đã tiến hành tác chiến rộng khắp buộc địch phải
giăng ra đối phó trên nhiều hướng xuất hiện sơ hở trên hướng mục tiêu, chủ yếu
chiến dịch lựa chọn cùng với tác chiến tạo thế chiến dịch. Lực lượng vũ trang
các tỉnh ở Tây Nguyên đẩy mạnh phá bình định, tập trung bao vây, bức hàng, bức
rút đồn, bốt; đánh phá giao thông, cầu cống, kho tàng, làm nòng cốt cho quần
chúng nổi dậy, giải phóng một số quận ly, thị trấn. Ngay từ tối mùng 10 tháng
3, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 301 do Thị ủy Đắk Lắk trực tiếp chỉ đạo
đã tiến vào thị xã nối lại các cơ sở và huy động quần chúng nổi dậy, du kích mật
truy bắt bọn ác ôn và tàn quân địch, “quét sạch 13 khu đồn, 35 ấp chiến lược và
bộ máy kìm kẹp của địch; giải phóng hoàn toàn 70 buôn và 11 dinh điền, chính
quyền cách mạng nhanh chóng được thiết lập ở các cấp”[3]
Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, lúc này lực lượng vũ trang địa
phương các huyện và du kích của tỉnh Kon Tum đã được tập trung về tỉnh, do Tỉnh
đội chỉ đạo, chỉ huy sử dụng hỏa lực đánh vào các khu quân sự và khu kho trong
thị xã, khống chế sân bay, khu cảnh sát dã chiến. Đặc công của Mặt trận Tây
Nguyên đánh vào trạm tiếp điện Chư Hreng. Phối hợp với bộ đội chủ lực hoạt động
mạnh từ nam cầu Đắk Bla đến ngã ba Tà Huỳnh. Ở phía Bắc, lực lượng vũ trang địa
phương tỉnh thực hiện nhiều đợt pháo kích, tiếp cận ngay một số mục tiêu ở thị
xã Kon Tum.
Trên
địa bàn tỉnh Gia Lai, khi Chiến dịch Tây Nguyên mở màn, Tỉnh ủy đã chỉ đạo Tỉnh
đội tỉnh tập trung toàn bộ lực lượng vũ trang của tỉnh tiêu diệt, bức hàng, bức
rút các đồn, bốt, tiêu diệt những tên đầu sỏ ác ôn. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh đội,
lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai cùng với chủ lực của Mặt trận Tây
Nguyên giải phóng phần lớn đất đai phía Nam Pleiku - Cheo Reo, chia cắt, phân
tán địch, tạo thế trận cho bộ đội chủ lực diệt địch.
Phối
hợp với hướng chính, Sư đoàn 3, Quân khu 5 giải phóng An Khê, Trung đoàn 29 phối
hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum tiến công các mục tiêu quanh thị xã Kon
Tum; Trung đoàn 95A và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai bao vây các lực
lượng địch quanh thị xã Pleiku, Trung đoàn 271 giải phóng Kiến Đức và thị xã
Gia Nghĩa ... Sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng buộc địch phải phân tán
đối phó khắp nơi. Lực lượng chủ lực địch tại Tây Nguyên (Buôn Ma Thuột, Pleiku,
Kon Tum) bị chia cắt không hỗ trợ được cho nhau. Lực lượng địa phương vốn đã mỏng
yếu nay lại phải đối phó với lực lượng vũ trang địa phương của ta và sự nổi dậy
của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ, chính
quyền địa phương nên càng suy yếu, tạo thời cơ thuận lợi cho bộ đội chủ lực tiến
hành Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.
Ba là, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa
phương trong truy kích địch rút chạy và phát triển chiến dịch
Địch rút chạy, tình huống chiến dịch diễn ra mau lẹ,
đòi hỏi cần vận động nhanh để thực hiện truy kích kịp thời, vấn đề đặt ra là cần
được sự phối hợp, giúp đỡ của lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh dẫn đường
và tác chiến tạo thế. Với quyết tâm tiêu diệt đoàn quân tháo chạy của địch từ
Pleiku - Kon Tum về Cheo Reo, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã điều đồng chí Phó Tư lệnh,
một bộ phận cơ quan chiến dịch trực tiếp đi cùng với Sư đoàn 320, 320A và một số
đơn vị chiến đấu, phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 5, bộ đội địa phương tỉnh
Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Phú Yên, huyện Phú Túc, huyện Củng Sơn tác chiến
ngăn chặn, truy kích địch.
Trên hướng Pleiku - Kon Tum, các đơn vị chủ lực và địa
phương phối hợp chặt chẽ, bám sát đội hình rút chạy của địch từ phía sau đánh tới.
Các đơn vị bộ đội địa phương và du kích hai tỉnh Đắk Lắk, Phú Yên đánh chặn và
chốt ở dọc đường không cho địch chạy thoát về Tuy Hòa, buộc chúng phải rút theo
Đường 7 để ta truy kích, tiêu diệt. Trên Đường 7, được sự giúp đỡ của lực lượng
vũ trang địa phương tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Sư đoàn 320 tổ chức gấp rút hành
quân cắt đường, chặn đứng, tiêu diệt địch tại Cheo Reo. Sư đoàn 320A phối hợp
chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân, du kích, cấp ủy, chính quyền và nhân
dân tỉnh Phú Yên truy kích địch. Đặc biệt, Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh
Phú Yên được đặt dưới sự chỉ huy chung của chỉ huy Trung đoàn 64, Sư đoàn 320A và
đại diện quân sự tỉnh, đã tiêu diệt đại bộ phận khối quân địch từ Tây Nguyên
rút chạy đang co cụm tại Củng Sơn[4]
. Trận truy kích thần tốc, đuổi đánh địch tháo chạy trên Đường 7 - Cheo Reo, Củng
Sơn đã phá tan âm mưu co cụm của địch về đồng bằng, góp phần quan trọng giải
phóng hoàn toàn Tây Nguyên, tạo thời cơ chiến lược cho Bộ Chính trị quyết định
giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong tháng 4 năm 1975.
Trên
đà phát triển thuận lợi xuống đồng bằng, Bộ Tổng Tư lệnh điện giao bổ sung nhiệm
vụ cho Bộ Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên: Tiếp tục phát triển chiến đấu trên 3
trục đường 19, 7 và 21, giải phóng Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3, Quân khu
5 giải phóng Bình Định. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ, từ Tây Nguyên, các đơn vị
chủ lực đã tiến theo các đường 19, 7 và 21, đổ xuống duyên hải miền Trung cùng
với lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt và làm tan rã quân địch. Sau
khi giải phóng Pleiku, Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95 được chuyển về trực thuộc
Quân khu 5, tiến theo Đường 19, phối hợp với Sư đoàn 3 Quân khu 5, chiếm khu vực
sân bay Gò Quánh, giải phóng Đập Đá, diệt Trung đoàn 47 ngụy và Sở Chỉ huy Sư
đoàn 2, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Định tiến công giải
phóng thị xã Quy Nhơn. Sư đoàn 320, sau khi diệt địch ở Củng Sơn phối hợp với lực
lượng vũ trang địa phương của Phú Yên tiêu diệt địch và giải phóng thị xã Tuy
Hòa. Sư đoàn 10 được phối thuộc Trung đoàn 25, Tiểu đoàn xe tăng, được pháo
binh và phòng không chi viện, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa
phương tỉnh Khánh Hòa phát triển tiến công theo Đường 21 tiêu diệt Lữ đoàn dù số
3, tiến vào giải phóng Nha Trang, thực hiện thắng lợi bước phát triển của Chiến
dịch Tây Nguyên.
Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân 1975, đã tạo cho ta sức mạnh toàn diện mới, mở ra tiền đề vô cùng quan
trọng đẩy mạnh cuộc tiến công phát triển mạnh mẽ. Sự đoàn kết, gắn bó giữa cấp ủy,
chính quyền và nhân dân địa phương địa bàn với bộ đội chủ lực chiến dịch là thực
sự cần thiết, đặc biệt là sự phối hợp tác chiến chặt chẽ của lực lượng vũ trang
địa phương tiến hành tác chiến tạo thế, liên tục tiến công, lần lượt tiêu diệt,
làm tan rã, truy kích tiêu diệt địch và phát triển chiến dịch, hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ được giao. Những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật quân sự trong
Chiến dịch Tây Nguyên cần được nghiên cứu, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu
cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc tình hình mới.
[1] Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch Tây Nguyên, Nxb QĐND, Hà Nội, 1991, tr.13.
[2] Tài
liệu số 07/L20, Tổng kết tiến công quân sự
của các lực lượng vũ trang Quân khu 5 trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa
Xuân 1975, Lưu tại Quân khu 5, tr.19.
[4] Truy
kích trong Chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, Nxb QĐND, Hà Nội, 2010, tr.101.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét