Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG.

 Sau khi thất bại trong chống phá Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam và cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV của Việt Nam, trên nhiều trang mạng xã hội, các thế lực thù địch không giảm bớt đi những hành động chống Đảng và Nhà nước ta, mà ngược lại còn tăng cường đẩy mạnh tung ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “độc tôn, độc tài”; “bán rẻ lợi ích dân tộc”; “ không dám treo cờ lên biển đảo của mình...”, …

Thực tế lịch sử dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã khẳng định vai trò và thành quả lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước đã lật mặt nạ nhiều đảng phái nhân danh “yêu nước”, nhưng lại đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích dân tộc, bám gót ngoại bang, chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam đứng mũi chịu sào, chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ để lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong hơn 30 năm đất nước đổi mới, không một ai, không một thế lực nào có thể phủ nhận sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đến nay, tuy còn không ít khó khăn, nhưng kinh tế nước ta có sự tăng trưởng với chất lượng, hiệu quả ngày càng cao; đời sống của nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định; quan hệ đối ngoại mở rộng. Đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Vị thế, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Đúng vậy, lịch sử dân tộc Việt Nam từ 1930 đến nay là nhân chứng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do thực tiễn cách mạng Việt Nam quy định. Đó là thành quả cách mạng quan trọng nhất của nhân dân ta, trong đó có sự đóng góp quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân thừa nhận và khẳng định rõ tình cảm, ý chí của mình trong Hiến pháp năm 2013 về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu chuyện bịa đặt, xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “bán đất”, “bán biển” cho nước ngoài; rằng “không dám treo cờ lên biển đảo của mình” là những luận điệu vu cáo, xuyên tạc độc ác, thâm hiểm của bọn phản động tung ra, về thực chất, chúng đã cố tình lờ đi những hiện thực cuộc sống mà nhân dân miền Nam đã khẳng định: Kể từ ngày miền Nam thống nhất đến nay đời sống nhân dân ta sung sướng lên nhiều, tự do, thoải mái, muốn làm thì làm, muốn chơi thì chơi, so với trước kia người dân lao động nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột không được học hành… Đặc biệt, những cảm xúc,  những lời phát biểu tốt đẹp của những đoàn Việt kiều về thăm Tổ quốc khi thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam, chụp ảnh với bộ đội bên cột cờ Tổ quốc ở đảo Trường Sa. Hằng ngày, có hàng vạn tàu thuyền của bà con ngư dân từ Bắc đến Nam treo cờ Tổ quốc hiên ngang ra khơi bám biển, bám đảo.
Các lực lượng của Hải quân nhân dân Việt Nam, Cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư, bộ đội biên phòng... hằng ngày hằng giờ tuần tra, ngăn cản, xua đuổi, đấu tranh buộc giàn khoan và các tàu thuyền của nước ngoài phải rút khỏi vùng biển, đảo của Tổ quốc. Trong điều kiện thời tiết, khí hậu phức tạp, thường xuyên phải đối diện với sóng gió, quần đảo với tàu nước ngoài, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên quần đảo Trường Sa luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, phức tạp, nhưng lực lượng quân, dân vùng biển luôn nhận thức đúng bản chất, âm mưu của kẻ thù, xác định rõ đối tượng, đối tác, chấp nhận và chịu đựng gian khổ, hy sinh, trên dưới một lòng đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, gắn bó với biển, đảo, quyết tâm sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Những điều kể trên là minh chứng và bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam “không dám mang cờ ra Trường Sa treo cho đẹp mắt năm châu”. Mục đích của những luận điệu xuyên tạc, vu cáo ấy không có gì khác là nhằm gây tâm lý chống đối, phá hoại đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây mất ổn định chính trị - xã hội, sự hoang mang, giao động cho người dân và các tàng lớp xã hội. Là người có lương tri, yêu Tổ quốc, yêu Nhân dân, tôi bác bỏ mọi điều xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam. Lẽ phải không thể chối từ, chân lý không thể bác bỏ, người dân Việt Nam tin theo Đảng, treo cờ Đảng và Tôi cũng khuyên những người còn có hành động chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam, hãy nhìn xa trông rộng xu thế của thời đại, hiểu đầy đủ con người Việt Nam, tích cực đóng góp ý kiến tốt đẹp để xây dựng Việt Nam ngày càng phát triển thì tốt hơn, còn cứ cố tình chống Đảng và Nhà nước Việt Nam thì cũng chỉ vô ích mà thôi.

                                                                                             Chân Lý
TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, mưu đồ  “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xác định là một trọng điểm. Vì vậy, cần phối hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng để đấu tranh làm thất bại mưu đồ đen tối đó.       
          Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là hai lực lượng do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Thực tiễn cách mạng khẳng định, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội và Công an luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, của Tổ quốc và Nhân dân. Mối quan hệ giữa Quân đội và Công an là quan hệ giữa các thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước và được thực hiện thông qua Quy chế phối hợp giữa hai lực lượng. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, yêu cầu khách quan xuất phát từ mối quan hệ hữu cơ, thống nhất giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và từ chức năng, nhiệm vụ của mỗi lực lượng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội và Công an luôn giữ vững bản chất cách mạng, lòng trung thành tuyệt đối, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Thông qua sự phối hợp đó, tình đoàn kết, gắn bó giữa hai lực lượng ở tất cả các cấp càng sâu sắc.
          Thấy rõ vai trò quan trọng đó của Quân đội và Công an, trong chiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch xác định đây là trọng điểm chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa”, sử dụng mọi biện pháp và hành động, nhằm làm thay đổi bản chất nền tảng tư tưởng, lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của Công an và Quân đội. Chúng lập luận rằng, việc tổ chức ra lực lượng vũ trang chỉ là để bảo vệ “lợi ích dân tộc”, “lợi ích quốc gia”. Bởi thế, quân đội, công an phải “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”, v.v. Thực chất của những luận điệu thâm độc trên là nhằm xóa nhòa bản chất giai cấp, chức năng chính trị - xã hội của lực lượng vũ trang cách mạng; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” và phương hướng xây dựng Công an, Quân đội được thể hiện trong văn kiện Đại hội XII của Đảng, hòng làm tê liệt, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng với hai lực lượng này. Không những thế, chúng còn đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cán bộ chính trị và cơ quan chính trị trong Quân đội, Công an; đưa lối sống cơ hội, thực dụng, vô cảm, ích kỷ, hẹp hòi đầu độc đời sống tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, thổi phồng, khoét sâu sai sót trong thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là những vụ việc có sự tham gia giải quyết của Quân đội, Công an… hòng làm giảm niềm tin của nhân dân, hạ thấp vị thế xã hội của hai lực lượng này.
Mục đích âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm làm suy yếu Quân đội và Công an - lực lượng nòng cốt, trung thành của Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác, phát huy sức mạnh tổng hợp, đấu tranh có hiệu quả với thủ đoạn của chúng.
          Trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình” và sự cần thiết phải phối hợp giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong đấu tranh làm thất bại chiến lược này.
Làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong hai lực lượng thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng, luôn tỉnh táo, xử lý kịp thời các tình huống diễn ra trong hoạt động thực tiễn theo đúng định hướng, không để kẻ địch lợi dụng. Công tác giáo dục chính trị phải gắn kết chặt chẽ với quản lý tình hình tư tưởng, không để xảy ra đột biến; tăng cường trao đổi chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục sát nhiệm vụ, đặc thù hoạt động của từng lực lượng. Mặt khác, phải phát huy vai trò của công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật, bảo đảm cho công tác này luôn bám sát nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội, Công an giữ đúng định hướng chính trị, tích cực đấu tranh với những quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch.
          Thứ hai,sự phối hợp giữa Quân đội, Công an trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của Nhà nước. 
Đây là vấn đề thuộc cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang; nhân tố quyết định hiệu quả phối hợp giữa hai lực lượng trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đảm bảo trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội, Công an luôn vững vàng, kiên định, không dao động trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, Công an vấn đề then chốt là phải xây dựng Đảng bộ Quân đội, Công an vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII); kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện dao động, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội và Công an.
          Thứ ba, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức phối hợp giữa  Quân đội, Công an phát huy thế mạnh của mỗi lực lượng trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Trên cơ sở Cơ chế phối hợp đã được xác định trong Nghị định 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ về “Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng”, cần cụ thể hóa nội dung, biện pháp phối hợp ở từng cấp cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình hiện nay. Tăng cường phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong công tác trao đổi thông tin, phân tích, đánh giá tình hình, thống nhất đề xuất các chủ trương, biện pháp đối phó với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Hằng năm, căn cứ tình hình thực tiễn, cấp ủy, chỉ huy Quân đội, Công an các cấp cần quan tâm chỉ đạo xây dựng và thống nhất kế hoạch phối hợp; phát huy thế mạnh của từng lực lượng, nâng cao khả năng dự báo về những âm mưu, thủ đoạn mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” để tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp, cách thức phối hợp hiệu quả. Nghiên cứu đổi mới cơ chế điều hành phối hợp, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập để khắc phục; duy trì nghiêm chế độ giao ban định kỳ; hỗ trợ, phối hợp hành động, trao đổi nghiệp vụ công tác, xử lý tình huống theo chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng. Trong đó, cần xác định những điểm mấu chốt, đột phá và những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp để phát huy, nhân rộng, tạo chuyển biến rõ nét trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên các lĩnh vực. Đặc biệt, cần chủ động xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch phối hợp hành động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, bảo vệ an toàn nội bộ, không để kẻ địch lợi dụng, chống phá.
          Thứ tư, phối hợp chặt chẽ trong xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị. Đây là giải pháp tác động trực tiếp đến chất lượng chính trị của Quân đội và Công an, tạo bức tường vững chắc ngăn cản mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, cần tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ trong hai lực lượng nhận thức đúng về đối tác, đối tượng và tính chất đan xen của nó để trên cơ sở đó xử lý tốt các tình huống, các mối quan hệ trong thực tiễn. Yêu cầu cơ bản và là kết quả đạt được của mục tiêu xây dựng Quân đội và Công an vững mạnh về chính trị là rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực tư duy sáng tạo, nhạy bén, chủ động xử lý những tình huống phức tạp diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để làm được điều đó, hai lực lượng cần phối hợp quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tăng cường hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu đề ra. Phối hợp làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đẩy mạnh các biện pháp giữ gìn an ninh, nhất là đối với các cơ quan, đơn vị trọng yếu, cơ mật; phòng, chống địch cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, kích động. Tăng cường công tác dân vận, gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào dân để đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
          Thứ năm, phối hợp nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát giữa hai lực lượng trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Lãnh đạo, Chỉ huy các cấp của Quân đội, Công an cần xác định rõ trách nhiệm của bộ phận chuyên trách và liên quan đến nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình” để giúp cấp trên xây dựng kế hoạch, theo dõi, hướng dẫn, đề xuất triển khai thực hiện công tác phối hợp. Đồng thời, thường xuyên trao đổi, đánh giá kết quả, xác định những hạn chế, tồn tại trong hoạt động của cơ quan giúp việc để rút kinh nghiệm, đề ra giải pháp khắc phục. Lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cần tiếp tục quan tâm, đầu tư trang thiết bị, phương tiện; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách để họ có đủ trình độ và điều kiện cần thiết hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhiệm vụ phối hợp chống “diễn biến hòa bình” để xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong hai lực lượng đối với nhiệm vụ quan trọng này. Thông qua đó, ngăn ngừa, khắc phục các biểu hiện thiếu đoàn kết, “tranh công đổ lỗi”, thực hiện chưa đúng, chưa nghiêm các quy định, cơ chế phối hợp, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước./.
                                                                                               Chân Lý


NÂNG CAO CẢNH GIÁC, KIÊN QUYẾT VẠCH TRẦN ÂM MƯU CỦA LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG CHỐNG VIỆT NAM

Chúng ta đều biết trước, trong và sau cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 -2021 của Việt Nam, lực lượng phản động trong và ngoài nước lợi dụng tự do dân chủ, nhân quyền cũng như các sự kiện thời sự diễn ra trong nước để tuyên truyền, xuyên tạc cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV của Việt Nam nói riêng và chống phá cách mạng Việt Nam nói chung, Vì vậy, chúng ta phải cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Để thực hiện chống phá cách mạng Việt Nam, lực lượng phản động đã chủ động, thậm chí rất táo tợn công khai lôi kéo các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn có tư tưởng chống đối cách mạng đang sống trong nước và lưu vong ở nước ngoài để kết hợp tán phát tài liệu, thông tin tuyên truyền, xuyên tạc mọi đường lối, quan điểm, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Các phần tử này sử dụng mạng xã hội hô hào, cổ vũ phong trào “tự do dân chủ”. Điển hình ngày 14/02/2017, trên facebook nick nêm “Pham Thomas”, tán phát tài liệu cái gọi là “trưng cầu dân ý”, nội dung tuyên truyền kêu gọi “lật đổ” Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để thay thế bằng chính thể “Đệ tam Việt Nam cộng hòa”, bằng cách bỏ phiếu tín nhiệm cho đối tượng Đào Minh Quân (từng làm Trung úy Quân lực Việt Nam cộng hòa, hiện đang sống tại Hoa Kỳ), làm “Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” trên “lá phiếu” gửi về email của các đối tượng.
Đáng chú ý là tổ chức phản động “Việt Tân” và các tổ chức phản động khác từng đưa lực lượng từ Việt Nam sang Thái Lan, Malaysia huấn luyện về phương thức lật đổ theo kiểu “cách mạng màu,” “đấu tranh bất bạo động.” Một trong những thủ đoạn của các phần tử này là ra sức xuyên tạc cho nhiều người hiểu sai lệch về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh, các phần tử này từng mở 4 khóa huấn luyện cho hàng chục tri thức, sinh viên, hình thành các nhóm chi bộ “Việt Tân” nhằm lôi kéo những người khiếu kiện, phát triển lực lượng ở các khu công nghiệp lớn. Các thế lực phản động cũng đã tổ chức nhiều đợt thu thập chữ ký vào thỉnh nguyện thư với quy mô lớn gửi chính quyền Mỹ.
Từ sau Đại hội Đảng XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan công an đã thu được nhiều bằng chứng về âm mưu của Việt Tân và các tổ chức phản động lợi dụng các cuộc biểu tình “phản đối Trung Quốc” để tập dượt “cách mạng màu” ở Việt Nam. Thực chất âm mưu chống phá của các thế lực phản cách mạng trước bầu cử là nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các phần tử này đã xác định bấy lâu nay.
Như vậy, thực tiễn cho thấy hoạt động chống phá của các thế lực thù địch chống cách mạng Việt Nam đang diễn ra ngày càng quyết liệt cả về cường độ, tính chất, nội dung cũng như phương thức thủ đoạn. Chúng ta cũng cần nhận thức rõ ràng rằng việc phủ nhận, xuyên tạc nhằm chuyển hóa chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là mục tiêu không hề thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng mà họ đã thể hiện từ hàng chục năm nay. Vì vậy, mỗi cơ quan đơn vị, địa phương trong cả nước, cấp ủy, thủ trưởng, cần làm tốt công tác tuyên truyền để mỗi cán bộ, nhân dân, nhận thức rõ, đầy đủ bản chất, âm mưu nham hiểm của bọn phản động, nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.


                                                                                  Chân Lý

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2017

            Không thể bác bỏ giá trị của chiến thắng lịch sử 30/4/1975
Chiến thắng 30/4/1975 là sự tôn vinh sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Nhưng đâu đó, vẫn cất lên tiếng nói từ những người mang ý thức hệ xa lạ với nhân dân và dân tộc mình, coi đó là ngày “quốc hận” - một cái nhìn sai lạc và xuyên tạc sự thật lịch sử, đi ngược lại tinh thần khoan dung, đồng thuận, đoàn kết của toàn dân ta; tự reo rắc hận thù, chia rẽ, ngược với trào lưu lịch sử. Song, sự thật những gì diễn ra ở miền Nam suốt hai thập kỷ đã tự nó nói lên tất cả về cái tồn tại trong quá khứ của chính thể Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên. Đã không có độc lập, tự chủ thì chỉ là lệ thuộc. Giải phóng miền Nam, xóa bỏ một trật tự lỗi thời, một sản phẩm trái mùa của lịch sử là một thắng lợi của chính nghĩa, đem lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân. Nuối tiếc cái đã lùi vào dĩ vãng để gieo rắc ý thức “quốc hận” là xa lạ với chính đồng bào, dân tộc mình. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi dưỡng, kích động sự thù địch, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, đều tiếp tay cho kẻ thù, có hại cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, cần phải phê phán. Đó là điều thứ hai cần nói tới trong tư duy phê phán của chúng ta.
            Lại có cách nhìn lệch lạc khác, cho rằng, Chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển, trách nhiệm ấy họ quy cho Đảng ta, cho con đường mà Hồ Chí Minh lựa chọn. Đây cũng lại là một nhận thức phi lịch sử, muốn phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời là phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà chúng ta đã lựa chọn, kiên trì theo đuổi. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, tính chất, bản chất của sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ không sao tránh khỏi của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam Cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng không thể chối cãi về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài, hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức và bóc lột nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.
Dù khép lại quá khứ nhưng không được quên quá khứ, càng không thể phủ nhận và phỉ báng lịch sử. Sự tàn bạo, phi nhân, tội ác mà thực dân, đế quốc và những thế lực do chúng nuôi dưỡng, thành công cụ của chúng để đàn áp cách mạng và nhân dân là sự thật lịch sử không thể nào quên, cho dù, trong bối cảnh mới, hoàn cảnh mới, đối thủ thù địch trong quá khứ có thể trở thành đối tác cùng hợp tác, cùng tồn tại. Vì vậy, chúng ta không cho phép bất cứ ai, dù với cương vị gì, “nhà văn”, “nhà nghiên cứu”, “nhà biên khảo”,… được bóp méo, xuyên tạc giá trị của Chiến thắng lịch sử này.


                                                                H.A
Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975
 Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nhưng cũng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. 
Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 quân và dân ta đã đập tan toàn bộ bộ máy chiến tranh to lớn, hiện đại của chính quyền tay sai Mỹ ở miền Nam và quét sạch bộ máy ngụy quyền mà đế quốc Mỹ đã ra sức xây dựng trong hơn 20 năm. Ta đã giải phóng hoàn toàn 44 tỉnh ở miền Nam, cả các đảo do quân ngụy đóng giữ, giành lại toàn bộ giang sơn đất nước gồm cả vùng đất, vùng trời vùng biển ở miền Nam. Nhân dân ta đã giành được độc lập tự do, tiến tới thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khảng định về ý nghĩa lịch sử, với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các n­ước đế quốc, vĩnh viễn thoát khỏi hoạ đất nước bị chia cắt, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nư­ớc, bảo vệ những thành quả b­ước đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đư­a cả nư­ớc bư­ớc vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội; đư­a dân tộc ta đứng vào hàng ngũ của quốc gia, dân tộc tiên phong trên thế giới.
Đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi, đã thức tỉnh, cổ vũ hàng trăm triệu ng­ười đứng lên dũng cảm đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giành lại độc lập dân tộc, đư­a đất nư­ớc tiến vào quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân.
                                                                                  BIỂN RỘNG


Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Xuyên tạc Chiến thắng 30-4-1975 là có tội với lịch sử và dân tộc
Chiến thắng 30-4 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam 42 năm; chiến tranh đã cách xa chúng ta 42 năm. Trải qua 42 năm, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại, giữa bạn và thù đã quá rõ ràng. Mặc dù vậy, ý nghĩa, giá trị to lớn của chiến thắng 30-4-1975 vẫn tồn tại mãi với thời gian như Đại hội IV đã khẳng định “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Khẳng định, đánh giá ý nghĩa, giá trị to lớn của chiến thắng 30-4-1975, Đại hội VI khẳng định, chiến thắng 30-4-1975 “đã đập tan cuộc phản công lớn nhất của tên đế quốc đầu sỏ chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc, mở rộng trận địa của chủ nghĩa xã hội, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam châu Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, làm yếu hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các trào lưu cách mạng của thời đại, đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên trái đất đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”. Với chiến thắng 30-4-1975, nhân dân Việt Nam không những đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, mà còn làm tròn sứ mệnh quốc tế thiêng liêng cao cả đối với nhân dân thế giới.
Với thắng lợi có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc như vậy mà chiến thắng 30-4-1975 đã được thế giới thừa nhận, ca ngợi, đánh giá cao. Ấy vậy mà sau 42 năm chiến tranh kết thúc, khi Việt Nam đã và đang trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó, có cả quốc gia đã từng gây chiến và các quốc gia trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, nay cùng hợp tác, phát triển, nhưng vẫn còn câu hỏi lạc lõng rằng: “30-4-1975 Chiến tranh Việt Nam kết thúc mang ý nghĩa gì?.
Để giải thích cho câu hỏi ác ý này, những kẻ không thiện tâm đã lý giải rằng: “Các bên cựu thù ngoại bang, thì nay dường như tỏ ra có thực tâm muốn tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cựu thù bản xứ xích lại gần nhau và sẵn sàng giúp Việt Nam xây dựng dân chủ, phát triển đất nước, theo yêu cầu của một thế chiến lược quốc tế mới và vì quyền lợi thiết thân của chính họ”. Với mục đích xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30-4-1975 của nhân dân Việt Nam, nên chúng đã trắng trợn cho rằng: “càng ngày người ta có vẻ dễ dàng đồng ý được với nhau về ý nghĩa lịch sử của chiến tranh Việt Nam”.
Mặc dù chiến thắng 30-4-1975 đã qua đi 42 năm, nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của chiến thắng 30-4-1975 vẫn tồn tại mãi mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc của nhân loại. Vì vậy, mọi sự xuyên tạc ý nghĩa lịch sử của chiến thắng 30-4-1975 nhằm phục vụ mưu đồ của một thế lực nào đó không chỉ là ảo tưởng, mà còn là tội lỗi với không chỉ với lịch sử dân tộc mà cả lịch sử đấu tranh chống xâm lược của nhân dân thế giới; phạm tội vong ân bội nghĩa với các thế hệ người Việt Nam đã hy sinh máu xương cho sự yên bình và hạnh phúc của dân tộc. Bất cứ dân tộc nào có tự trọng, đều có quyền tự hào về truyền thống lịch sử đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, góp phần gìn giữ hoà bình thế giới.

                                                                      Hướng Dương
TỰ DO CỦA NHỮNG “CHIÊN SỸ ĐẤU TRANH CHO TỰ DO”
Banluan
Hiện nay, có một số người tự xưng là “chiến sỹ đấu tranh cho tự do”. Họ tuyên truyền cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”... Họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam độc đoán, chuyên quyền, Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền tự do của cá nhân. Họ đòi trả tự do cho các “chiến sỹ đấu tranh cho tự do” đang bị giam giữ. Vậy thực chất mục đích của những “chiến sỹ đấu tranh cho tự do” là gì? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cùng bàn luận về vấn đề “tự do”.
Nói về vấn đề tự do, ta thấy rằng tự do là quyền của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Tuy nhiên quyền tự do này phải được đặt trong khuôn khổ luật pháp, các chuẩn mực đạo đức xã hội và mối quan hệ với lợi ích của cộng đồng. Tự do nhưng không được vi phạm pháp luật, không được trái với chuẩn mực đạo đức xã hội, không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp và chính đáng của người khác và của cộng đồng. Tự do không có nghĩa là được vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc, suy diễn theo ý muốn chủ quan, gây hại cho người khác nhằm đạt mục đích riêng của mình.
Như vậy về góc độ quyền tự do cá nhân, mọi người được quyền bày tỏ chính kiến của mình và thậm chí được tuyên truyền cho chính kiến mà mình cho là đúng. Tuy nhiên nếu việc tuyên truyền chính kiến của cá nhân mà xâm hại đến lợi ích của đất nước, tập thể hay cá nhân khác thì lại là hành vi vi phạm pháp luật. Việc những “chiến sỹ đấu tranh cho tự do” tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại Nhà nước, làm tổn hại cho đất nước là đã vượt ra khỏi quyền tự do của cá nhân.
Thực chất mục đích của những “chiến sỹ đấu tranh cho tự do” là nhằm thỏa mãn ý chí, nguyện vọng của cá nhân, phục vụ cho lợi ích riêng của họ, nhưng lại đi ngược lại với nguyện vọng của quảng đại quần chúng Nhân dân, xâm hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc.
THỰC HIỆN “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG” LỢI HAY HẠI
Banluan
Hiện nay, có một số người tuyên truyền cho cái gọi là chế độ “đa nguyên, đa đảng”. Họ cho rằng thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” sẽ tạo được sự đấu tranh giữa các đảng phái, tạo được động lực để phát triển. Để làm rõ vấn đề này, chúng ta cùng bàn luận về lợi, hại của việc thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng”.
Ta thấy, quan điểm cho rằng thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” sẽ tạo được sự đấu tranh giữa các đảng phái, tạo được động lực cho sự phát triển của đất nước nghe có vẻ hợp lý và phù hợp với lý luận Mác – Lê-nin, bởi theo Chủ nghĩa Mác – Lê-nin thì đấu tranh là nguồn gốc động lực của phát triển. Tuy nhiên chúng ta cần xét xem thực hiện chế độ “đa nguyên đa đảng” có tạo ra được động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước hay không.
Đúng là thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” sẽ tạo ra sự đấu tranh mà nói chính xác hơn là tạo ta sự cạnh tranh giữa các đảng phái. Trong cạnh tranh, bao giờ các đảng phái cũng đặt lợi ích của đảng phái mình lên trên hết và khi có sự mâu thuẫn giữa lợi ích riêng của đảng phái với lợi ích chung của đất nước thì vì lợi ích riêng của đảng phái, họ sẵn sàng hy sinh lợi ích chung của đất nước. Như vậy vô hình chung thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” không những không tạo được động lực cho sự phát triển của đất nước mà lại gây phương hại cho lợi ích quốc gia.
Thực tiễn cuộc cạnh tranh quyền lực giữa hai phe “áo đỏ” và “áo vàng” gây tổn hại lớn cho nền kinh tế đất nước Thái Lan là một minh chứng. Thực tiễn cuộc xung đột ở Syria giữa quân chính phủ và các phe phái đối lập hiện nay gây tổn hại cho đất nước là minh chứng thứ hai và còn nhiều minh chứng khác.

Hơn nữa, việc một số người tuyên truyền cho cái gọi là “đa nguyên, đa đảng”, đó là ý muốn chủ quan của họ, còn việc thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” hay không lại là ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng Nhân dân, của cả dân tộc Việt Nam được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật. Nếu chúng ta thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của một số ít người, nhưng lại trái với ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng Nhân dân, của cả dân tộc Việt Nam. 

 Phủ nhân vai trò của Đảng “Phi chính trị hóa” quân đội một tâm địa đen tối của một thế lực phản động

Quan điểm của Đảng ta xây dựng quân đội , công an nhân vững mạnh chính trị thực sự là lực lượng trung thành bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XII.

Trong những này gần đây một số trang thông tin mạng đăng tải đường lối quan điểm Đảng ta ‘’phi chính trị hóa quân đội” phủ nhân vai trò lãnh đạo của Đảng. Do vậy chúng ta không lạ lẫm gì cái trò “phá rối”, “chọc gậy bánh xe” của những kẻ tự cho mình là người có “trách nhiệm” với dân, với nước.

Hiện nay, với kinh nghiệm tác động, can dự vào đời sống chính trị và làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trước đây và một số nước Bắc Phi - Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng coi quân đội là một đối tượng cần tập trung chống phá, đòi “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, làm mất sức chiến đấu bảo vệ Đảng Cộng sản, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi biện pháp để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, như: Tuyên truyền phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, cùng với hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội…; với mục tiêu cao nhất là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Suy cho cùng, mọi luận điệu mà các thế lực thù địch tung ra chỉ nhằm một mục đích duy nhất là làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, mất sức chiến đấu, không còn là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Một khi Đảng không nắm được Quân đội, tất yếu Quân đội sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng. Đó là thời cơ để các thế lực thù địch đẩy đất nước lâm vào tình cảnh rối ren, mất ổn định chính trị - xã hội, chệch hướng CNXH. 
Thực tiễn lịch sử cho thấy, từ khi có giai cấp, Nhà nước, quân đội cho đến nay, không có và cũng sẽ không bao giờ có cái gọi là: quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị phi giai cấp, hay quân đội trung lập về chính trị. Bất kỳ, giai cấp, nhà nước nào tổ chức ra quân đội đều nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi, địa vị của giai cấp, nhà nước đó. Theo đó, bản chất giai cấp của đảng cầm quyền và của nhà nước đã tổ chức giáo dục và rèn luyện quân đội, quy định bản chất giai cấp của quân đội. Bản chất giai cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam được quy định bởi bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức, lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Vì thế, luận điệu đòi “phi chính trị hóa quân đội”, chỉ là trò “ảo thuật chính trị”, “ngụy biện” đánh tráo bản chất của đối tượng, khoác cho nó “cái áo” có vẻ như là thiện chí, tâm huyết và trách nhiệm đối với sự tồn vong của đất nước. Rõ ràng, đằng sau luận điệu đòi “phi chính trị hóa quân đội” là một mưu đồ chính trị đen tối mà các thế lực thù địch rắp tâm áp dụng đối với cách mạng Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu hàng đầu là hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.Lịch sử đã để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc về vấn đề này. Vào những năm cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô.Trước những luận điệu xuyên tạc đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐNDVN không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác, cần nhạy bén phát hiện âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, chủ động đấu tranh, củng cố và tăng cường trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Kẻ địch hiểu rất rõ chỉ có thể thực hiện được “phi chính trị hóa” quân đội, nếu chia rẽ được Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Luận điệu “phi chính trị hóa quân đội”, thực chất chỉ là trò “ảo thuật chính trị”, lừa dối những ai nhẹ dạ, cả tin, ấu trĩ về chính trị. Sinh thời, V.I. Lê-nin đã cảnh báo: ... Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Cho dù các thế lực thù địch có nhiều mưu ma chước quỷ hiểm độc đến đâu, song chúng cũng không thể đạt được mục đích chuyển hóa hòng làm cho quân đội ta “đứng ngoài chính trị” hoặc “trung lập về chính trị”.Bản chất giai cấp của quân đội ta là bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Bản chất đó được biểu hiện tập trung ở mục tiêu chiến đấu của quân đội, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Bản chất giai cấp công nhân là yếu tố quy định tính tiên tiến, cách mạng triệt để của quân đội và là đặc điểm để nhận biết sự khác nhau căn bản giữa quân đội ta với quân đội của các giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử, là nguồn gốc để QĐNDVN tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc, nhân dân. Bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của quân đội ta là một thể thống nhất bền vững. Tiền đề của sự thống nhất này là sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân trong đường lối cách mạng của Đảng. Quân đội chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng để giành độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong đó, chỉ có đấu tranh giành được độc lập dân tộc mới có điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội - con đường duy nhất đúng đắn để giữ vững độc lập dân tộc và ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân.Chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và tăng cường xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là hai mặt của quá trình xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; đòi hỏi phải vạch trần sự phi lý và ngụy tạo, “ảo thuật chính trị” của quan điểm đòi “phi chính trị hóa” quân đội; đồng thời, phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, tập trung vào các giải pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận rõ mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh luôn giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, kiên định vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.Trong tình hình hiện nay, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải xây dựng toàn diện các yếu tố, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải giữ vững bản chất cách mạng, phát huy truyền thống, củng cố sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc, tính nhân dân của quân đội. Đó là điều kiện bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Muốn vậy, trước hết phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội trong mọi hoàn cảnh; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội. Phải giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ, bảo vệ nhân dân với tinh thần “vì nhân dân phục vụ”, thực hiện “quân với dân một ý chí”. Cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.Thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một chiêu trò ảo thuật, một âm mưu hết sức nguy hiểm, thâm độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xét về nội dung tuy không mới, nhưng về thủ đoạn, cách thức tiến hành thì có sự thay đổi, điều chỉnh so với trước. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, tích cực và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của chúng; tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
                                                                        
                                                                            ÁNH SÁNG



NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG CÁC TRANG MẠNG INTERNET ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY


          Thời gian vừa qua, trong xã hội xuất hiện nhiều người với tư tưởng thù địch, cơ hội chính trị, chống đối... Chúng đã lập ra các blog, website, facebook, đăng tải nhiều bài viết có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điển hình như các đối tượng Nguyễn Văn Hải - blog Điếu cày, Tạ Phong Tần - blog Công lý và sự thật, Nguyễn Hữu Vinh - blog anh ba sàm hoặc các blog khác như Đàn chim Việt, dân làm báo, Chân dung quyền lực ... để phát tán các thông tin suy diễn, bịa đặt; truyền bá quan điểm trái chiều hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng; bóp méo sự thật, thổi phồng khó khăn; kích động, xúi dục Nhân dân; gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra các “khoảng trống tư tưởng”, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay ở bên trong đất nước ta. Thủ đoạn tiến hành của chúng rất công phu, kiên trì, bài bản. Ban đầu, để tạo “lòng tin” với độc giả, chúng cho đăng tải lại bài của một số báo, tạp chí có uy tín. Sau đó đến các bài viết hầu hết thông tin là chính xác, chỉ cài một vài thông tin sai lệch, nhạy cảm, hướng dư luận vào tự suy luận, khó phân minh phải trái rõ ràng. Dần dần các bài viết với các thông tin, hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa, bịa đặt ngày càng tăng lên kèm theo các tiêu đề “giật gân”, “câu khách” để thực hiện “mưa dần thấm lâu”, “cứ bôi sẽ bẩn”, “cứ nói nhiều sẽ tin” hướng cộng đồng mạng đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng còn thường mạo danh các bậc lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học có uy tín hoặc đăng tải trực tiếp các thông tin xấu độc vào các website, blog khác... Đồng thời các đối tượng này liên tục mở các chiến dịch tìm, diệt, đánh sập các website, blog, facebooker có ảnh hưởng tích cực trên các trang mạng. Đó là những hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.
          Tuy nhiên, điều nực cười là khi cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước Việt Nam bắt, truy tố, xét xử thì họ một mực cho rằng mình không hề vi phạm pháp luật mà đó chỉ là việc thể hiện chính kiến, là thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân và kêu rằng mình “bị oan”, “vô tội”. Chúng còn bịa đặt rằng như vậy “Nhà nước Việt Nam đàn áp nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến”. Gần như ngay lập tức một số cá nhân, tổ chức ở nước ngoài vốn không có thiện cảm với Nhà nước Việt Nam cũng ùa theo và tuyên bố “Việt Nam vi phạm nhân quyền”. Trong số đó nổi lên là các tổ chức phản động người Việt lưu vong; một số nghị sỹ, chính khách không thiện cảm với Việt Nam trong chính giới phương Tây cũng như một số tổ chức quốc tế do các nước này thao túng, chi phối phục vụ cho mục đích, ý đồ chính trị của họ như tổ chức Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW), tổ chức Ân xá quốc tế (AI) hay Phóng viên không biên giới (RSF). Luận điểm của họ chủ yếu xoay quanh các vấn đề như “Việt Nam bóp ngẹt tự do báo chí”, “Việt Nam đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, các tù nhân lương tâm”. Rõ ràng đây là những hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Đảng, chống Nhà nước Việt Nam. Luận điệu “Việt Nam vi phạm nhân quyền” thực ra chỉ là những đánh giá chủ quan, phiến diện, sai sự thật của những tổ chức, cá nhân không có thiện chí, thậm chí là thù địch với Nhà nước Việt Nam. Và suy cho cùng đây chính là hành động lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” chống phá Nhà nước Việt Nam. Sự thật vẫn là sự thật, Việt Nam vẫn là một đất nước dân chủ. Những năm qua, với những nỗ lực của Đảng, Nhà nước cũng toàn thể nhân dân, Việt Nam vẫn đang có những bước tiến mạnh mẽ trên con đường xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.    
          Vì vậy cộng đồng mạng cần cảnh giác, nhận diện đúng thủ đoạn của các đối tượng trên và không mắc mưu tin theo các thông tin suy diễn, bịa đặt, hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa nhằm mục đích vu cáo, bôi nhọ, chống phá đó.

                                                                                               Nhân Trần
Ngày 30-4: Mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Đã 42 năm đã trôi qua, hơn 1/3 thế kỷ là khoảng thời gian cần thiết để chúng ta càng nhận ra ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng 30/4/1975.
Chiến thắng 30/4 là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Suốt 30 năm kể từ ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cả dân tộc kiên cường chiến đấu hy sinh để đi tới thắng lợi trọn vẹn “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, “Bắc Nam sum họp”…
Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của nội lực Việt Nam, của truyền thống văn hoá dân tộc, của sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, đồng thời là sự ủng hộ giúp đỡ chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.
Với mỗi người Việt Nam, ngày 30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại. Đó là ngày mà chiến tranh dần đi vào dĩ vãng, đất nước sạch bóng thù xâm lược, hoà bình trở lại trên toàn cõi Việt Nam. Đó là ngày đoàn tụ: Non sông thu về một mối, Bắc – Nam liền một dải từ địa đầu Lũng Cú đến chót mũi Cà Mau. Vĩ tuyến 17 ngang dòng sông Bến Hải chỉ còn là di tích lịch sử một thời…
Ngày 30/4 là ngày hoà hợp dân tộc, từng gia đình và cả dân tộc sum họp dưới mái nhà Việt Nam, người một nước cùng nhìn về một hướng, cùng chung một con đường… Hoà hợp dân tộc đã hoá giải xung đột, xoá bỏ hận thù, giải phóng nội lực để cùng nhau bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn…
Có trải qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến cảnh đất nước hai miền chia cắt mới thấy ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4, mới cảm nhận hết giá trị của những năm tháng hoà bình và sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc. Vì cuộc sống hoà bình và toàn vẹn lãnh thổ mà cả dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến 30 năm. Vì thế, hơn ai hết, người Việt Nam càng quý trọng những ngày tháng hôm nay, càng trân trọng những thành quả có được sau hơn 20 năm đất nước đổi mới trong bối cảnh đất nước hoà bình, xã hội ổn định.
Tinh thần chiến thắng 30/4 đang cổ vũ chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay. Ý chí quyết chiến quyết thắng thôi thúc chúng ta khôg cam chịu cảnh nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển. Tính sáng tạo, táo bạo, bất ngờ, tranh thủ thời cơ giúp chúng ta biến thách thức thành cơ hội, xoay chuyển tình thế, vượt lên khó khăn, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn hiện nay… Và nữa, bài học từ phát huy sức mạnh hoà hợp và đoàn kết toàn dân tộc mách bảo chúng ta tiếp tục có những chính sách khuyến khích hiền tài, khơi nguồn lực của toàn xã hội, chăm lo tốt hơn nữa những vấn đề an sinh xã hội…
Chiến tranh càng lùi xa, chúng ta càng gìn giữ và phát huy tối đa giá trị tinh thần mà ngày chiến thắng 30/4 mang lại, để dân tộc mãi mãi hoà bình và thịnh vượng.


                                      H.A
MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Kể từ khi có bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) cho tới nay, Việt Nam đã 4 lần sửa đổi hiến pháp; trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013, quyền con người ngày càng được qui định toàn diện, đầy đủ hơn.
Nếu như trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 mới chỉ hiến định Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thì đến bản Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và có bước phát triển mới trong hiến định quyền con người. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 dành một chương là Chương II hiến định: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước ta, quyền con người được hiến định rõ thành các chế định cơ bản trong hiến pháp. Điều này phản ánh nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thông qua các chế định cơ bản từ Điều 14 đến Điều 49 (36 điều), hiến định một cách đầy đủ, toàn diện các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Việt Nam, cũng như việc bảo đảm các quyền đó. Trong đó, ở ngay trong Điều 14 hiến định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo hiến pháp và pháp luật. Như vậy, quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam được bản văn có giá trị pháp lý cao nhất là hiến pháp qui định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (1946) và ngày càng được bổ sung, phát triển đầy đủ các quyền tự nhiên, cao quí và thiêng liêng của con người, phù hợp với tiến trình lịch sử của dân tộc và thế giới.
Việt Nam đã gia nhập hầu hết các điều ước nhân quyền quốc tế chủ chốt như: “Công ước về quyền dân sự, chính trị”, “Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hoá”; “Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc”, “Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”. Việt Nam còn là nước thứ hai trên thế giới và là nước châu Á đầu tiên tham gia “Công ước quyền trẻ em”; Nhà nước ta đã phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế. Ngày 20.10.2007, Việt Nam đã ký “Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật” và đang nghiên cứu việc tham gia “Công ước chống tra tấn”. Những cam kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế đã phản ánh trong các văn bản pháp luật trong nước, và được khẳng định nhất quán trong các tuyên bố của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, cũng như được thực hiện bằng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể.
Nhà nước Việt Nam luôn chú trong xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm tra, giám sát và thực hiện pháp luật khẳng định quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, suốt tiến trình từ khi Nhà nước Việt Nam ra đời đến nay, các cơ chế kiểm tra, giám sát và thực hiện pháp luật không ngừng được củng cố, hoàn thiện nhằm xác lập quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Trong đó, quyền con người ở Việt Nam được bảo đảm bởi các cơ quan quan trọng trong hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Đồng thời, nhân dân cũng có thể tham gia đóng góp ý kiến thông qua các cơ chế dân cử cấp địa phương, các qui trình khiếu nại, tố cáo, thanh tra, khiếu kiện…, theo tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Chính từ chính sách nhất quán, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về bảo đảm quyền con người và sự tham gia của toàn dân, cuộc sống và quyền của người dân đã được bảo đảm ngày càng đầy đủ trong tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, dân sự. Kể từ ngày Việt Nam giành được độc lập năm 1945, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Cùng với tiến trình lịch sử, các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không chỉ được qui định trong hiến pháp, pháp luật mà còn được thực thi trên thực tế. Sự kiện Tổng tuyển cử bầu Quốc hội ngày 6.1.1946, là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, mọi công dân đủ 18 tuổi trở lên được thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Không chỉ vậy, ngay sau khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Hồ Chí Minh đã ký và ban hành hàng chục sắc lệnh xoá bỏ các điều luật bảo hộ của chính quyền thực dân, phong kiến, đồng thời ban bố và thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Xuyên suốt sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta không ngừng xây dựng và thực thi các chính sách bảo đảm về quyền con người, quyền công dân. Điều đó góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam liên tục đạt ở mức trên 6%/năm trong một thời gian dài và đã vào nhóm nước có thu nhập trung bình.
Với chính sách nhất quán của Nhà nước là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy các giá trị đạo đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo, cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay rất sôi động, phong phú với trên 20 triệu tín đồ của các tôn giáo lớn trên thế giới như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia ngày càng sâu, rộng trong đời sống chính trị của đất nước. Các đại biểu là người dân tộc thiểu số cũng giữ vị trí lãnh đạo ở nhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, kể cả ở những cấp cao nhất. Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về bảo đảm quyền của người phụ nữ, được Uỷ ban Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) ghi nhận và Ngân hàng thế giới cùng Ngân hàng phát triển châu Á đánh giá là “quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về khoảng cách giới trong 20 năm qua ở châu Á”. Trẻ em, người tàn tật được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, xã hội và gia đình, theo chính sách ưu tiên của Nhà nước, truyền thống lâu đời của dân tộc, được hưởng sự chăm sóc, bảo vệ ngày càng tốt hơn trong các lĩnh vực y tế, giáo dục…
Ngày 8.5.2009, Việt Nam đã trình bày báo cáo về việc thực hiện và bảo đảm nhân quyền con người tại Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc. Nhiều nước đã phát biểu thể hiện sự cảm phục lịch sử, truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước của Việt Nam, đánh giá cao các thành tựu mà Việt Nam đạt được về mọi mặt trong công cuộc đổi mới; trong đó, có việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đặc biệt là trong các lĩnh vực: xoá đói, giảm nghèo, chăm lo đời sống của phụ nữ, trẻ em, của đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân cũng như về y tế, giáo dục, văn hoá, việc làm… Đồng thời, quốc tế ủng hộ những nỗ lực, cam kết của Việt Nam nhằm tiếp tục đảm bảo tốt hơn nữa việc hưởng thụ các quyền con người và quyền công dân.
Những thành tựu trong công cuộc bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam đề cập ở trên, là kết quả của sự kết hợp giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam; giữa chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam luôn đặt con người là trọng tâm trong sự phát triển đất nước, với nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong việc thúc đẩy thực hiện quyền con người. Như vậy, có thể khẳng định rằng những thành tựu về nhân quyền ở Việt Nam được bảo đảm bằng đường lối, quan điểm của Đảng, sự cụ thể hoá bằng hiến pháp, pháp luật cũng như thực tiễn chăm lo, thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về quyền con người, và được ghi nhận đánh giá cao của dư luận quốc tế./.




Chính thể Việt Nam Cộng hòa là phi pháp, Quân đội, cảnh sát mang gốc gác thực dân
Chính thể Việt Nam Cộng hòa là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân hại nước, đang tâm làm tay sai cho các thế lực ngoại bang.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa thường khoe là chiến đấu cho tự do. Tuy nhiên quân đội này lại phát xuất từ chính lực lượng ngụy quân đã sát cánh bên quân đội viễn chinh Pháp dưới lá cờ tam tài! Đa phần các tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn đều đã từng phục vụ trong quân đội Pháp hoặc quân đội “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại để bảo vệ nền thống trị của người Pháp ở Đông Dương. Viên tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, kẻ đã bại trận thảm hại tại chiến trường Tây Nguyên năm 1975, cũng từng là lính Việt chiến đấu hăng hái bên các chiến hữu Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Tại Điện Biên, ông Phạm Văn Phú khi đó si mê hát Quốc ca Pháp, hô hào các binh sĩ ngụy khác đánh trả quân Việt Minh của tướng Võ Nguyên Giáp.
Cái gọi là “Cảnh sát Quốc gia” của chế độ ngụy cũng không hơn. Nó bắt nguồn từ lực lượng cảnh sát và mật thám của Pháp tại Đông Dương từ năm 1946. Tướng Nguyễn Ngọc Loan - Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia ngụy, kẻ đã dùng súng lục bắn thẳng vào đầu một tù binh cộng sản ngay trước ống kính máy ảnh và máy quay phim của phóng viên ngoại quốc trên đường phố Sài Gòn năm 1968 - xuất thân là quân nhân trong quân đội Liên hiệp Pháp.
Description: chinh nghia khong thuoc ve che do viet nam cong hoa hinh 3
Người dân Sài Gòn đón chào quân giải phóng tháng 4/1975 (ảnh: Báo chí nước ngoài)
Description: chinh nghia khong thuoc ve che do viet nam cong hoa hinh 4
Khu vực Dinh "Độc lập" vào ngày 30/4/1975 (ảnh: Tư liệu)
Đến khi đổi chủ, hai lực lượng này lại hết lòng với các quan thầy Mỹ. Dù người ta có ngụy biện đến thế nào cũng không thể phủ nhận bản chất tay sai của quân đội và cảnh sát ngụy.
Cả quân lực và cảnh lực ngụy đã tham gia vào những chiến dịch “diệt cộng” rất dã man, trên tinh thần “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Thời Diệm, với luật 10/59, máy chém được lê khắp miền Nam để chặt đầu người cộng sản và làm họ lung lạc ý chí.
Trong “cuộc chiến vì tự do”, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ - những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như hãm hiếp phụ nữ Việt Nam, thảm sát dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napalm và các loại bom chùm có sức sát thương tàn bạo…
Với những đòn nhục hình gần như chỉ để triệt hạ các tù binh cộng sản (đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục…), nhà tù Phú Quốc - địa ngục trần gian do quân đội Sài Gòn tạo ra (sau khi học hỏi kinh nghiệm của chuyên gia Mỹ) - là minh chứng hùng hồn cho những vi phạm nhân quyền và những tội ác kiểu trung cổ trời không dung đất không tha của chế độ ngụy.
Quân đội ngụy hoàn toàn được đào tạo theo lối Mỹ, được trang bị cực tốt và đầy đủ, có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, hoạt động cực kỳ tốn kém theo kiểu Mỹ và bằng ngân sách Mỹ. Đã vậy, khi tác chiến quân đội Sài Gòn còn nhận được sự cố vấn của chuyên gia quân sự Mỹ và sự hỗ trợ tối đa về hỏa lực và hậu cần từ phía quân đội Mỹ. Nói cách khác, quân đội Sài Gòn là một đội quân đánh thuê cho đế quốc Mỹ và được Mỹ ưu ái đầu tư bài bản.
Tuy nhiên, có một thứ mà chính người Mỹ cũng thừa nhận là họ không thể mang đến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa được – đó là tinh thần chiến đấu quả cảm và sự mưu trí sáng tạo.
Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), quân đội Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể Việt Nam Cộng hòa) suy sụp nhanh chóng, không còn biết “đánh đấm gì nữa”, chẳng khác nào “bệnh nhân bị rút ống thở”.
Trong đợt tổng công kích của quân giải phóng năm 1972, quân ngụy Sài Gòn trụ vững được phần lớn là nhờ Hoa Kỳ đã yểm hộ tối đa cho họ bằng phi pháo và oanh tạc cơ chiến lược B-52. Đến năm 1975, khi bị người Mỹ bỏ rơi thì họ đã không thể chống đỡ nổi các đòn tiến công dũng mãnh của quân giải phóng. Sau khi trúng đòn điểm huyệt ở Buôn Ma Thuột, dù lực lượng vẫn đông và vũ khí còn nhiều (hơn hẳn quân giải phóng) nhưng quân đội ngụy ở Tây Nguyên đã nhanh chóng rã đám do thiếu mưu lược và do sĩ quan của họ chỉ mải lo cho gia đình mình và di tản một cách hỗn loạn, khiến thế trận của ngụy quyền ở toàn bộ Tây Nguyên sụp đổ.
Một số kẻ cố bào chữa cho ngụy quyền Sài Gòn, cho rằng nếu quân đội Sài Gòn đánh thuê cho Mỹ thì quân đội nhân dân Việt Nam hoạt động theo chỉ đạo của Liên Xô.
Vế thứ 2 của luận điệu trên là hoàn toàn không đúng. Vì Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao và kết hợp nhuần nhuyễn hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam trân trọng sự giúp đỡ quý báu của nhân dân các nước XHCN nhưng không bao giờ ỷ lại vào đó. Trong tác chiến, quân đội nhân dân Việt Nam có tham khảo kinh nghiệm và lý luận quân sự của nước khác nhưng là trên tinh thần độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, xuất phát từ thực tiễn dân tộc và đất nước (trường hợp thay đổi phương châm tác chiến tại Điện Biên Phủ là một ví dụ điển hình). Và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không để cho quân đội nước bạn nào vào lãnh thổ để tham chiến bên cạnh mình. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa đã để cho nửa triệu quân Mỹ và nhiều quân chư hầu của Mỹ vào giày xéo đất nước.
Nếu xét về viện trợ thì những gì mà Liên Xô và Trung Quốc cung cấp cho Quân đội Nhân dân tuy lớn nhưng đâu thấm tháp so với khối lượng khổng lồ tiền bạc, vũ khí và quân cụ mà Mỹ đổ vào quân đội Sài Gòn. Nên nhớ, trong hoàn cảnh thời đó, mức lương của một sĩ quan ngụy rất cao, đủ nuôi sống cả gia đình họ.
Tất nhiên, Quân lực Việt Nam Cộng hòa bao gồm những người con đất Việt máu đỏ da vàng, mang trong mình các nét văn hóa Việt. Tuy nhiên họ đã không phát huy được sức mạnh của văn hóa và truyền thống tổ tiên, vì họ đã sống trong môi trường tha hóa và thiếu chính danh của Việt Nam Cộng hòa, đã lầm đường lạc lối, đã bị lừa dối, bị ép buộc, hoặc đơn giản là hành động chỉ vì miếng cơm manh áo.
                                                                              Công Bằng