Thứ Tư, 15 tháng 2, 2023

 

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Nhân Trần

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Chúng tung thông tin giả, xấu độc, xuyên tạc, đang từng ngày, từng giờ lan tràn trên internet và mạng xã hội. Do vậy, các cấp, các ngành phải chủ động và tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài trong tình hình mới. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm, xảo quyệt, đặc biệt là chúng lợi dụng internet, mạng xã hội đưa những ý kiến trái với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phản ánh sai tình hình thực tiễn cách mạng, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam như: Tổ chức Việt Tân, Đài Á châu tự do, BBC Việt ngữ, thoibao.de… thường xuyên đăng tảitung thông tin sai sự thật chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Chúng thiết lập các website, blog, facebook, youtube, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ”… phát tán các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu độc để chống phá; đăng tải thông tin thật giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống cách mạng, bản chất cách mạng cao đẹp của lực lượng vũ trang, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Bọn chúng sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, tập hợp dư luận, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Chuyển hóa các bài viết có sẵn thành thể thơ hoặc bài hát phát trên các kênh âm nhạc trực tuyến làm công cụ tuyên truyền, chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

    Đặc biệt, các phần tử xấu, cơ hội chính trị điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; tìm mọi cách “hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ” của Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận tư tưởng của Hồ Chí Minh, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: “Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam”. Thực chất đây là những luận điệu phản động, sai trái, bịa đặt nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Việc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta gần đây diễn ra rất kiên quyết, mạnh mẽ, “Sai phạm đến đâu thì xử lý đến đó và không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào” được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng thuận, ủng hộ. Tuy nhiên, các thế lực phản động, những kẻ đội lốt “dân chủ” bóp méo rằng, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng chỉ là sự “thanh lọc” trong nội bộ chứ không phải vì mục đích phục vụ sự phát triển của đất nước; chúng còn vu cáo, tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, thể chế một đảng không thể chống được tham nhũng... Chúng lợi dụng việc xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, nhất là sau việc Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đề nghị kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y và 12 quân nhân có vi phạm, các phần tử xấu thổi phồng, “vơ đũa cả nắm”... tung luận điệu rằng: “Tham nhũng xảy ra ở toàn quân...”. Thực chất đây là kiểu quy chụp, chúng đưa những thông tin sai trái, xuyên tạc nhằm lái dư luận sang chiều hướng tiêu cực, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, giảm uy tín, vai trò của quân đội; tự bịa đặt, suy diễn, kích động làm “nóng” tình hình; bày ra âm mưu cực kỳ tinh vi, xảo quyệt hòng thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. Các thông tin do các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn tốt xấu, thật giả, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

   Những thông tin như vậy trước hết các thế lực phản động kích động sự hiếu kỳ của đông đảo người dân, đồng thời tạo sự mâu thuẫn, đấu đá nội bộ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

    Nhận thức rõ tác động tiêu cực của những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng đối với công tác tư tưởng, nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên internet, mạng xã hội, cấp ủy đảng các cấp trong toàn Đảng, toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương Đảng về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Cấp ủy các cấp, đơn vị và đội ngũ cán bộ chính trị đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, thường xuyên chú trọng định hướng đấu tranh trên mạng xã hội; thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và thường xuyên đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Qua đó, góp phần tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

    Tuy nhiên, việc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng nhằm phản bác các thông tin giả, xấu độc, sai sự thật ở một số cơ quan, đơn vị cơ sở chưa thật sự chủ động, nhạy bén, sắc sảo, chưa liên tục, còn phải đôn đốc nhắc nhở. Một số cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tham gia chưa thường xuyên, lơ là, thiếu sót, thiếu tính tự giác dễ dẫn đến bị kẻ xấu lợi dụng, kích động nhưng chưa được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời; đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin chưa thành thạo, nhiều cán bộ chưa biết cách vào các trang mạng xã hội để comment phản bác những luận điệu xuyên tạc… nên chưa tạo được sự chú ý rộng rãi và sức lan tỏa đối với cộng đồng. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn chưa sắc bén, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác này; chậm đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc đối với kẻ địch; thiếu những bài viết có chất lượng chuyên sâu để đấu tranh trực diện phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái…

    Để nâng cao chất lượng đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên internet, mạng xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong tình hình mới cần tập trung một số giải pháp chủ yếu sau:

    Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác luận điệu sai trái trên không gian mạng theo định hướng, chỉ đạo thống nhất, đồng thời giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền; thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

    Hai là, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên mạng xã hội cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch; mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Đây là cơ sở của hành động, định hướng hành động, có nhận thức đúng mới có trách nhiệm cao và hoạt động hữu hiệu. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân; định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh, chính trị trật tự, an toàn xã hội.

    Ba là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hoá hình thức đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên mạng xã hội. Đổi mới nội dung tuyên truyền đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại.... trên mạng xã hội, trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng hệ giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của người dân trước những thông tin sai trái, thù địch. Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền; lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền. Phải hướng mạnh về cơ sở, tăng cường thông tin đối ngoại; tiến hành điều tra dư luận xã hội để nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của kẻ địch.

    Bốn là, duy trì thường xuyên và có hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền trong quần chúng nhân dân. Cần phát huy hiệu quả lợi thế từ công tác tuyên truyền, với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; chủ động thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính định hướng nhằm giải quyết hiệu quả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, nhất là trước những sự kiện nhạy cảm, phức tạp, tạo sự đồng thuận cao trong cơ quan, đơn vị, nhân dân đối với các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cần cảnh giác với thông tin trên các trang mạng xã hội, phải tỉnh táo, sáng suốt nhận biết thông tin nào là đúng, chính xác, thông tin nào là giả, bịa đặt, xuyên tạc nhằm tránh bị các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng để lôi kéo, kích động người dân hướng theo ý đồ xấu độc của chúng. Phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.

 

LẬT TẨY NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Nhân Trần

Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch chống phá Đảng ngày càng có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn rất tinh vi, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ đơn thuần là vấn đề lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch hiểu rất rõ vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bởi vậy, để chống phá Đảng thì vấn đề quan trọng hàng đầu mà chúng tập trung là phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu cho rằng: “Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện đã lỗi thời, không còn phù hợp”; việc “Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm”... Không những thế, chúng còn tuyệt đối hóa và chia tách, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp Hồ Chí Minh nhằm hạ bệ uy tín và phủ nhận tư tưởng của Người. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng rêu rao rằng: “Chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của sự phát triển của xã hội loài người không có gì có thể thay thế, chủ nghĩa tư bản đang tự điều chỉnh và hoàn thiện”, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với Mác thì đừng trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”(!)...

Thứ hai, chúng xuyên tạc, phủ nhận cương lĩnh, đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thủ đoạn cũ rích, nhưng chúng luôn coi là một trọng điểm chống phá với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Chúng cố tình lờ đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng “lý sự” rằng: “Mọi câu hỏi của xã hội đều được tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản”(!); Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” với con đường đi lên CNXH là trái quy luật, hoặc “đã phát triển kinh tế thị trường thì đâu còn là CNXH”(!); Việt Nam hiện nay là “đỏ vỏ, xanh lòng”(!)... 

Đối với quân đội, chúng cho rằng “quân đội chỉ trung thành và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị”(!)... Bên cạnh đó, chúng còn ra sức tuyên truyền cho luận điệu “có nhiều đảng cạnh tranh mới là dân chủ”, logic của chúng là phải xóa bỏ sự “độc tài, toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Thực chất là, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng đối lập; phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đó là hai vấn đề căn cốt để chúng tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ ba, chống phá công tác cán bộ của Đảng. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là “thanh trừng nội bộ”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, chúng phủ nhận thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các thế lực thù địch trắng trợn phủ nhận sạch trơn những thành tựu to lớn mà Đảng và quân, dân ta đã đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu qua gần 35 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (dù thực tế những thành tựu của nước ta đã được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao)... Mục đích của chúng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

Những hoạt động chống phá trên đều nhằm tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với những người thiếu bản lĩnh, nhận thức mơ hồ và những kẻ bất mãn vì cho rằng mình không được trọng dụng, đãi ngộ... từ đó gây hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ XHCN, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên thực tế, rất khó để tách bạch giữa âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Bởi chiêu trò của chúng là kết hợp giữa công khai với ngấm ngầm chống phá, thông qua các phương tiện cả truyền thống và hiện đại, đan xen các cách thức, biện pháp với nhiều màu sắc, quy mô, cấp độ, lẫn lộn trắng-đen, thật-giả... rất khó phân biệt, nhận diện. Tuy nhiên, có thể khái quát một số đặc điểm chính trong chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch như sau:

Thứ nhất, các hoạt động chống phá luôn được các thế lực thù địch chủ động tiến hành trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ, dưới nhiều hình thức. Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các thế lực thù địch lập ra các hội nhóm online, tổ chức livestream, hội thảo trực tuyến, đăng tải các bài viết... với nội dung xoay quanh chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và cố tình vẽ ra các bất cập nảy sinh. Thời điểm tiến hành của chúng luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, các thời điểm chuẩn bị và tổ chức tiến hành đại hội đảng, bầu cử, ban hành luật, nghị định... Cách làm phổ biến của chúng là: Khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (cả với chủ trương ở cấp cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình, phản đối; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và thông qua một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên, liên tục, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Thực hiện phương châm “nói nhiều sẽ tin”, các trang mạng, blog cá nhân, các kênh YouTube... liên tục tiến hành các hoạt động chống phá bằng các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm. Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Khi các thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ ba, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. Hiện nay, với sự phát triển mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với các phương thức, chiêu trò, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cả trong lịch sử và hiện tại. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả.

Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm thù địch”. Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của Đảng (do Đảng chưa tính tới, chưa kịp thời cập nhật...) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có lợi cho đất nước và nhân dân, thì cần nghiên cứu tiếp thu. Còn nếu “quan điểm khác” nhưng ngược với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần phải kiên quyết lên án và đấu tranh bác bỏ./.

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

Nhân Trần

Phương thức, thủ đoạn chống phá

Bên ngoài, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam; thông qua tài trợ, hợp tác từng bước tác động chuyển hóa nội bộ, hướng lái Việt Nam theo đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sử dụng các trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài, hậu thuẫn cho các tổ chức, cá nhân hoạt động chống Việt Nam; thúc đẩy hình thành hội, nhóm hoạt động chống phá trong nước, kích động số trí thức, văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích lợi dụng phản biện, góp ý để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tạo dựng các phần tử chống đối trong nước “đòi dân chủ”, “tự do thông tin” theo tiêu chí phương Tây. Chúng triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; giao lưu kinh tế, văn hóa; đầu tư, viện trợ, nhất là ở cấp cơ sở để tuyên truyền xuyên tạc, hỗ trợ, hậu thuẫn các hoạt động chống phá, kích động tụ tập biểu tình, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy mâu thuẫn trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, tiến tới kích động, bạo loạn lật đổ chế độ ta. Để phục vụ cho mục đích này, thời gian vừa qua, các tổ chức phản động lưu vong, trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài duy trì và lập mới hàng ngàn website, blog, tài khoản facebook, youtube..., gia tăng các chiến dịch “chiến tranh tâm lý”; phát động hàng trăm chiến dịch tán phát tin giả, tin sai sự thật trên mạng internet; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội” để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng đối lập, thúc đẩy “bất tuân dân sự” ở trong nước, xuyên tạc chia rẽ nội bộ, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Một số đối tượng ở bên ngoài đóng vai trò là “nguồn tin”, thường xuyên tạo dựng các thông tin sai lệch, xuyên tạc về nội bộ Đảng, chính quyền các cấp, đời tư các đồng chí lãnh đạo cấp cao... để tán phát lên internet, mạng xã hội nhằm dẫn dắt, định hướng số đối tượng phức tạp, chống đối trong nước hoạt động tuyên truyền chống phá.

Trong nước, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có chiều hướng phức tạp, ngày càng công khai. Số cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đa nguyên, đa đảng; cung cấp thông tin cho báo, đài phương Tây công khai chống phá, thách thức chính quyền; móc nối, nhận tài trợ từ bên ngoài, lập hội, nhóm chống đối trên mạng internet, lôi kéo cán bộ, đảng viên, cán bộ hưu trí, văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... tham gia; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội”, danh nghĩa yêu nước, từ thiện, giáo dục, hoạt động tôn giáo; lợi dụng các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp trong nước để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, chờ thời cơ để hình thành “tổ chức đối lập”. Tình trạng đăng tải, chia sẻ thông tin nội bộ chưa được kiểm chứng diễn ra phổ biến trên không gian mạng, tạo dư luận trái chiều trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Một số cơ quan báo chí chưa chấp hành nghiêm định hướng tuyên truyền, buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đưa tin không chính xác, sai sự thật, vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Báo chí, ảnh hưởng an ninh chính trị, đối ngoại... Đáng chú ý, một số phóng viên, biên tập viên thiếu bản lĩnh chính trị, trích đăng/dẫn lại thông tin xấu, độc trên mạng internet, gây dư luận xấu.

Để hiện thực hóa phương thức và thủ đoạn trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để khai thác, lợi dụng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là internet và mạng xã hội nhằm gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với những chiêu thức, thủ đoạn mới hơn, tinh vi hơn. Trong đó, nổi bật là việc sử dụng mạng xã hội (thông qua các ứng dụng phổ biến như facebook, youtube, zalo...) và một số hãng truyền thông không thiện chí với Việt Nam để phát động các chiến dịch tuyên truyền phá hoại tư tưởng, đẩy mạnh các hoạt động đăng tải, phát tán tin, bài viết, video clip xấu, độc, sai lệch, xuyên tạc về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, bôi nhọ thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tình hình dịch bệnh Covid-19 và công tác phòng chống dịch Covid-19 của chính quyền các cấp; các vụ việc xử lý một số cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, từ đó kích động, chia rẽ, phá hoại nội bộ; tạo ra nhiều luồng thông tin không đúng sự thật, đi ngược lại các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tìm cách tác động “chuyển hóa” Việt Nam đi theo “quỹ đạo” tư bản chủ nghĩa, thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị ở Việt Nam.

Tập trung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thời gian tới, các cấp, các ngành cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm.

Trong đó, các cơ quan truyền thông tăng cường phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về phương thức, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên không gian mạng; kịp thời cập nhật, cung cấp thông tin chính thống về các vấn đề, vụ việc mà dư luận xã hội quan tâm để cho người dân dễ dàng tiếp cận, đối chiếu, kiểm chứng thông tin trên mạng xã hội.

Các cơ quan Đảng, Nhà nước tăng cường các biện pháp công tác quản lý đảng viên, quản lý cán bộ, thường xuyên thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, người lao động; quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng mạng xã hội của cán bộ, đảng viên, chủ động trong công tác cập nhật, tiếp cận, xử lý thông tin.

Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau dồi nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng lệch lạc, quan điểm sai trái, thù địch, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bị lôi kéo, mua chuộc; hãy là người sử dụng mạng xã hội thông minh, nhận diện và đẩy lùi thông tin xấu độc, tin sai sự thật, góp phần tuyên truyền, nhân rộng những thông tin tích cực, chính thống trong cộng đồng mạng.

Song song đó, các cơ quan chức năng chủ động trong công tác phòng ngừa, tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin và truyền thông, xử lý nghiêm các hoạt động tán phát thông tin xấu, độc, chống Đảng, chống Nhà nước và chính quyền các cấp. Tổ chức có hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội tham gia vào công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng và Nhà nước trên không gian mạng. Phối hợp rà soát, chấn chỉnh, kiến nghị xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong việc sử dụng mạng xã hội, những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Cần sớm thành lập lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Công an tỉnh Hậu Giang gắn với đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới./.

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Nhân Trần

Sau hơn 77 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, có thể khẳng định rằng nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục được hưởng thụ ngày càng đầy đủ quyền con người  theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Vì thế, dù các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, cơ hội cố tình xuyên tạc, bóp méo, bôi đen việc thực thi nhân quyền, quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam; phao tin và cho rằng Việt Nam không xứng đáng khi đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, thì sự thật việc đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam vẫn và luôn là không thể phủ nhận. Việt Nam nhận thức sâu sắc quyền con người là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc và giá trị đó được cộng đồng quốc tế ghi nhận, được ghi rõ trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, vì thế tôn trọng, thực thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948, nhưng quyền con người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, rõ ràng hơn, đầy đủ hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013.

Việt Nam cũng đã thông qua nhiều luật quan trọng như: Bộ luật Lao động; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật Cư trú; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính... liên quan đến quyền con người, quyền công dân, phù hợp với các Công ước quốc tế, nhất là Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. Gần nhất, năm 2021, Việt Nam tiếp tục thông qua và sửa đổi nhiều bộ luật quan trọng như Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi; xem xét thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế cho thấy, việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh qua các năm luôn đảm bảo nguyên tắc ưu tiên đưa vào Chương trình các dự án luật nhằm triển khai thi hành các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Cùng với đó, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức…

Những thành tựu Việt Nam đạt được trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước; hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG)... nhất là đóng góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận) và việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực thi nhân quyền” mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân quyền, quyền công dân cho người dân.

Hằng năm, nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước đều ký Quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân có quá trình cải tạo tốt. Đây không chỉ là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện sự nghiêm minh trong xét xử người phạm tội đi liền với sự khoan hồng, nhân đạo đối với những phạm nhân đã cải tạo tốt để trở lại làm người có ích cho xã hội. Bên cạnh đó, việc xem xét đặc xá cho những trường hợp có quốc tịch nước ngoài được thực hiện công bằng, minh bạch không chỉ góp phần làm cho cộng đồng quốc tế nhận thức rõ hơn về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà còn thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ song phương với các nước có công dân được đặc xá.

Ở Việt Nam, quyền dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Trong đó, tự do báo chí được thể hiện, với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí (hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử; hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 67 đài phát thanh, truyền hình với 182 kênh) và 18.000 nhà báo được cấp thẻ, khoảng 5.000 phóng viên; 60 nhà xuất bản và 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam… Nói quyền tự do Internet, sử dụng mạng xã hội thì Việt Nam đang đứng top đầu thế giới như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận internet: “Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile; khoảng 70 triệu người dùng internet; 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã”.

Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo và được khẳng định tại các bản Hiến pháp. Việc phát triển hệ thống báo chí, truyền thông không chỉ góp phần nâng cao dân trí và mức sống văn hóa của xã hội mà còn góp phần lan tỏa những thông điệp đúng đắn, sâu sắc, toàn diện trong cộng đồng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó các tôn giáo sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và được Nhà nước tạo điều kiện cho in ấn, phát hành kinh sách… Đặc biệt, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân...

Việt Nam cũng luôn tham gia tích cực, chủ động và trách nhiệm tại các diễn đàn đa phương quốc tế về quyền con người như: Phiên họp cấp cao và các Khóa họp thường kỳ trong năm 2022 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ); đồng chủ trì thúc đẩy thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết về “Biến đổi khí hậu và quyền lương thực” với số nước đồng bảo trợ cao tại Khoá 50 Hội đồng Nhân quyền (tháng 7/2022); tham gia các cuộc họp của Uỷ ban 3 Đại hội đồng Khoá 74 (tháng 10 -11/2022)… và triển khai xây dựng Báo cáo thực hiện Công ước Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn (CAT); Báo cáo lần thứ 9 thực hiện Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); nộp và chuẩn bị bảo vệ Báo cáo Công ước về chống phân biệt đối xử (CERD); tổ chức Hội thảo quốc tế về bảo đảm quyền các nhóm dễ tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm Ngày nhân quyền quốc tế và khởi động tiến trình UPR chu kỳ IV,v.v.. Việt Nam cũng đã thiết lập cơ chế bảo hộ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo Hiến pháp và các điều ước quốc tế về hợp tác lao động thông qua cơ quan đại sứ quán, lãnh sứ quán, hội người Việt Nam ở các quốc gia sở tại; phát huy thế mạnh của cộng đồng người Việt Nam hướng về xây dựng quê hương, đất nước gắn liền với việc tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chủ trương, đường lối, về thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam…

Thực tế, Việt Nam không chỉ ủng hộ những tư tưởng tiến bộ về quyền con người được Liên hợp quốc khẳng định trong Tuyên ngôn và các văn kiện quan trọng khác, mà còn nỗ lực xây dựng, triển khai các chính sách để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và sự quyết tâm, thực thi đó đã đạt được các kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việc thực thi quyền con người ở Việt Nam đúng như nhận định của ông Jean - Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt khi cho rằng: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”.

Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời: tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946 theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết và bỏ phiếu kín để Quốc hội trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức, thông qua Hiến pháp 1946…  Sau đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo tư tưởng của Người được triển khai, vận dụng sáng tạo phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam trên tinh thần: Dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước và tất cả vì lợi ích của nhân dân. Trong Nhà nước đó, các cơ quan trong tổ chức bộ máy Nhà nước và cả hệ thống chính trị đều vì nhân dân phục vụ, thực hành theo nguyên tắc “các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” và “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Những nội dung nêu trên đều được khẳng định tại Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), mà điểm nhấn chính là: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, và chế độ “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ… con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản  lãnh đạo”. Điều này cũng đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Chúng ta xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có” và hệ thống chính trị đó “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người”.

Thực tế, việc “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước” và “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường tạo đồng thuận xã hội” tiếp tục là một nội dung quan trọng được khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng. Bởi rằng, ở Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại đa số) khác với các nền dân chủ tư sản (nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số); trong đó, nội dung cốt lõi là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân được quy đinh trong Hiến pháp. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ, pháp luật, kỷ cương xã hội không loại trừ, mà thống nhất biện chứng, là tiền đề phát triển của nhau nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong vai trò làm chủ, trong việc thụ hưởng giá trị của tự do, dân chủ, được sống, được hạnh phúc… trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Trong chế độ xã hội đó, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Theo đó, quyền con người, quyền công dân được thực thi khi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ (quyền bầu cử, bãi nhiệm; quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước của công dân; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền tham gia xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước…) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Có thể nói, với 36 điều trong tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã không chỉ khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các bản Hiến pháp trước đó, mà còn thể chế hóa, luật hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phù hợp với thực tiễn Việt Nam, với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Thực tế cho thấy rằng, ở bất cứ quốc gia nào, thể chế chính trị nào mà đời sống vật chất, tinh thần người dân ngày càng được nâng cao và quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm thì nơi đó là hạnh phúc. Cho nên, việc giới dân chủ hải ngoại hay nhóm những người mượn danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ xuyên tạc tình hình thực thi và đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam; mượn các sự kiện “tù nhân lương tâm như Phạm Chí Dũng, Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Lê Dũng Vova, Bùi Tuấn Lâm” để làm rùm beng trên các trang Việt Tân, Quyenduocbiet.com, TiengDan.com… và mạng xã hội chắc chắn đó không phải là “những người đang đấu tranh cho tương lai tốt đẹp của đất nước” như các thế lực thù địch ảo tưởng tự nhận. Thủ đoạn, một mặt, tô vẽ cho các “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước” hay trao các loại “giải thưởng nhân quyền”; mặt khác xuyên tạc sự thật việc thực thi và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam về bản chất là cùng chung chiêu trò thâm độc để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và đưa đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Cho nên, các luận điệu xuyên tạc sự thật mà các thế lực thù địch hay nhóm những người giả danh dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền “vinh danh những cá nhân đã hoạt động tích cực đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam” nhằm mục đích khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như việc trao “giải thưởng nhân quyền năm 2022” cho Nguyễn Tường Thụy… chỉ là sự cổ xúy cho những người đã “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các hoạt động đó không phải là “sự quy tụ của những người có nhiệt huyết, trách nhiệm, hoạt động vì tình yêu đất nước và thương dân” và “bị chụp mũ cho cái tên phản động”, mà đó đích thị là các hoạt động lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây sức ép và hạ uy tín của Việt Nam để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Cùng với đó, những luận điệu “buôn” dân chủ, “buôn” nhân quyền, cổ xúy cho những người đã, đang cam tâm chống phá Đảng và chế độ; sự tuyên truyền xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam để “tụng niệm” các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính phổ cập của quyền con người nhằm chụp mũ “Việt Nam đã vi phạm quyền cơ bản của con người”, vi phạm tự do, dân chủ… cũng chính là một trong những thủ đoạn nằm trong chiến dịch phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín của Việt Nam khi Việt Nam vừa được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, ngày 11/10/2022.

Trên thực tế Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, truyền thông, báo chí… đều vào cuộc, đều không ngừng nỗ lực để mỗi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất và “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Cho nên, cần phải nhận diện đúng và tiếp tục khẳng định rằng: Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhân quyền/quyền con người, quyền công dân đã được thực thi, được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Việc cần phải bác bỏ mọi luận điệu bôi đen, bịa đặt, xuyên tạc, thâm chí vu khống về tình hình thực thi nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch là quan trọng và cần thiết!./.

 CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM                                                                                                        

          Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, mục đích của nó, được quy định bởi thực tế khách quan của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và tình hình quốc tế từng giai đoạn phát triển. Căn cứ vào phạm trù tác động của các phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, có thể chia các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

          Chức năng đối nội

          Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Muốn tiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước. Nhà nước phải có đủ sức mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch, đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh. Muốn vậy, Nhà nước phải quan tâm xây dựng các lực lượng an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải “phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”.

          Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân. Đây là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ. Đảng ta nhấn mạnh “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân”.

          Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là chức năng quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước. Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức thực hiện có hiệu quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.

          Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế. Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao. Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế.

          Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục. Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ. Đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoa học và công nghệ. Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội. Trước mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển tiếp theo trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.

          Chức năng đối ngoại

          Nhà nước ta thực hiện chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới. Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

          Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

          Chức năng củng cố, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tư tưởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nước ta là, trên cơ sở kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế,“nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

          Chức năng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều vào cộng đồng thế giới. Vì vậy, bất cứ nhà nước tiến bộ nào cũng đều có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới. Ngày nay, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên thế giới cùng phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

 

                                                                                                   BIỂN RỘNG


 

ÂM MƯU MỚI CỦA BẠO LOẠN NHẰM LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ  XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

          Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc câu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc Trung ương[1]. Thực chất đây là một phương thức, thủ đoạn chống phá bằng bạo lực gồm cả hoạt động chính trị, hoạt động vũ trang và kết hợp hai hình thức đó, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng ở địa phương hoặc Trung ương, thiết lập chính quyền phản cách mạng làm tay sai cho các thế lực thù địch. Lực lượng tiến hành bao gồm cả phản động trong nước (các thành phần của chính quyền Sài Gòn không chịu cải tạo; lực lượng phản động đội lốt các dân tộc, tôn giáo; các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn nhen nhóm thành các tổ chức hoạt động công khai, hợp pháp dưới danh nghĩa các hội, đoàn; các phần tử thoái hoá biến chất, lưu manh và quần chúng bị lừa gạt, ép buộc tham gia...) kết hợp với phản động nước ngoài (các tổ chức phản động quốc tế; các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài được sự huấn luyện, trang bị, chỉ đạo, tiếp tay của các tổ chức phản động quốc tế...); trong đó lực lượng phản động trong nước là chủ yếu.          

Dựa trên nội dung cuốn sách Từ độc tài đến dân chủ (From dictatorship to democracy) do Giáo sư Gene Sharp - một nhà hoạt động xã hội thuộc Học viện Albert Einstein ở Mỹ viết cho phong trào dân chủ ở Myama năm 1993 sau khi bà Aung San Suu Kyi - Lãnh tụ phe đối lập, Chủ tịch đảng liên minh quốc gia vì dân chủ Myama bị chính quyền cầm tù; học thuyết chính trị phản kháng phi bạo lực đã chính thức ra đời. Học thuyết này sử dụng cái gọi là sức mạnh của quần chúng nhân dân; nhưng thực chất đó là lực lượng, các phần tử phản động, khủng bố đã được đào tạo về kỹ năng lật đổ. Từ đó, chúng kích động làn sóng chống đối chính phủ, dẫn đến tụ tập, tuần hành, biểu tình, bạo động trong nước và cuối cùng là bạo loạn cướp chính quyền. Cơ chế tiến hành thường núp dưới khẩu hiệu xúc tiến dân chủ, đấu tranh vì tự do, vì sự tiến bộ của xã hội... và với 198 hành động phản kháng phi bạo lực (198 metheods of nonviolen action); trong đó bao hàm cả các hoạt động bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như in tiền giả, làm tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, tự thiêu... Chìa khóa của phản kháng phi bạo lực là tìm ra điểm yếu nhất trong chính quyền hiện hành; cần thiết thì thêm thắt khuyết điểm cho tăng phần trầm trọng; sau đó gán tất cả những khuyết điểm ấy cộng với những sai trái, tiêu cực trong xã hội hiện thời cho bộ máy cầm quyền để tạo ra phong trào phản kháng, đối lập trong dư luận quần chúng. Vũ khí sử dụng chủ yếu là thông tin, phương tiện truyền thông, mạng Internet... để kích động nhân dân. Trình tự làm tan rã một quốc gia theo 3 giai đoạn: (1) Làm mất uy tín bộ máy quyền lực nhà nước; lôi kéo, vận động nhân dân, quan chức, nhân viên chính phủ tham gia các hoạt động chống đối. (2) Hình thành hàng loạt các hoạt động mềm như tuần hành, mít tinh, biểu tình phản đối chính phủ với lí do bộ máy chính quyền đương thời mục nát, độc tài, mất dân chủ, không còn hợp pháp. Thông qua các hoạt động mềm này các thế lực chống đối kiểm tra khả năng phản kháng của bộ máy cầm quyền; thử nghiệm mức độ huy động trong xã hội và khả năng tổ chức, tập hợp lực lượng của các phe, nhóm đối lập chống chính phủ. (3) Can thiệp từ bên ngoài vào để trực tiếp lật đổ chính quyền. Sự ra đời của học thuyết này được các thế lực thù địch, các nhà dân chủ tóm lấy như là bảo bối để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia như Bosnia, Estonia, Zimbawe... bằng cách mạng màu những năm 2004 - 2006 và lật đổ chính thể hàng loạt các nước khu vực Trung Đông, Bắc Phi như Tuynidi, Ai Cập, Yêmen, Libi, Xyria... năm 2011 và được gọi dưới cái tên mĩ miều mùa xuân Ả rập.

Sau cách mạng màumùa xuân Ả rập, hiện nay, hành động bạo loạn đã có bước phát triển cao đến mức có thể coi đó là “công nghệ lật đổ, tiếp tục có những động thái mới ngày càng tinh vi hơn và có vẻ rất hợp pháp. Bởi vì quá trình tiến hành thường diễn ra và gắn liền với một cuộc bầu cử theo một kịch bản đã được dựng sẵn: (1) Hình thành lực lượng đối lập (thân cận, chịu sự chỉ đạo của chúng) cài cắm để chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc bầu cử. (2) Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, truyền thông trước và trong quá trình bầu cử theo hướng có lợi cho lực lượng đối lập; bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín của bộ máy chính quyền đương thời. (3) Tẩy chay, không công nhận kết quả bầu cử nếu lực lượng đối lập không chiến thắng, không giành được đa số phiếu. (4) Kích động tâm lý đám đông, tổ chức cho “người dân xuống đường biểu tình, cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông tạo ra các “điểm nóng, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tạo ra cảnh tượng bạo lực. (5) Tạo cớ can thiệp từ bên ngoài vào với danh nghĩa ủng hộ những chiến sĩ đấu tranh vì dân chủ, ủng hộ người dân, ủng hộ công lý và với lý do rất chính đáng là đã có gian lận trong bầu cử. (6) Kêu gọi các nước đồng minh, các tổ chức - diễn đàn quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... gây sức ép tổng lực trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền mới bầu ra (không có lợi cho chúng) phải tuyên bố hủy bỏ kết quả bầu cử, từ chức, giải tán. (7) Tiếp tục cài cắm lực lượng đối lập, tuyên truyền có lợi và nhanh chóng tổ chức cuộc bầu cử lại, bầu cử mới. (8) Tuyên bố thắng lợi và công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới (của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của chúng). Kịch bản đó được chỉ đạo thực hiện rất công phu, bài bản thông qua bàn tay nhào nặn của một số chính khách được gọi là “chuyên gia lật đổ. Cho nên, một thể chế chính trị hay một bộ máy cầm quyền mới do chúng dựng lên nhưng lại được hợp thức hóa thông qua một cuộc bầu cử theo luật định. Đó thực sự là “công nghệ lật đổ, rất hợp pháp, vô cùng tinh vi, thâm độc.

                                                                                                BIỂN RỘNG

 




[1]Bộ Quốc phòng, Trung tâm từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H. 2004, tr.63.

 XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHUỆ,

TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân anh dũng chiến đấu, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa vị thế nước ta ngày càng nổi bật trên trường quốc tế. Tình hình hiện nay đang đặt ra cho quân đội ta những yêu cầu mới, đòi hỏi phải giữ vững bản chất và phát huy truyền thống “trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Trong đó, chúng ta phải đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu ngày càng cao; thường xuyên cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và an ninh quốc gia.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng, khác hẳn quân đội của các nước tư bản về bản chất; là quân đội của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước. Xây dựng quân đội cách mạng là xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng vững vàng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa, với Tổ quốc và nhân dân; có tinh thần cách mạng tiến công, luôn đứng vững trên tuyến đầu, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Quân đội nhân dân Việt Nam lấy lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Vấn đề chăm lo xây dựng quân đội ta vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng luôn là yêu cầu hàng đầu, có tính khách quan, bức thiết. Thông qua học tập, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cần làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành với Đảng, nhân dân, Tổ quốc, làm tròn chức năng là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thắng lợi.

Xây dựng nền nếp chính quy cũng là một đòi hỏi khách quan và đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Có chính qui mới thống nhất, mới tạo ra sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ và chiến thắng. Quân đội chính quy là quân đội được xây dựng theo những tiêu chuẩn thống nhất được pháp luật nhà nước quy định về tổ chức, biên chế, trang bị; hệ thống chỉ huy; điều lệnh; chế độ huấn luyện và giáo dục; các chế độ công tác, sinh hoạt nhằm đáp ứng với yêu cầu của chiến tranh chính quy. Xây dựng quân đội chính quy, trước hết phải có một hệ thống điều lệnh, điều lệ toàn diện, hoàn chỉnh, phù hợp, nhằm thống nhất mọi hoạt động cơ bản của toàn quân. Đây là cơ sở pháp lý để cán bộ các cấp huấn luyện, chỉ huy và duy trì các chế độ sinh hoạt của bộ đội. Việc tổ chức, biên chế, cần gọn, nhẹ, bảo đảm tính cơ động cao tác chiến có hiệu quả. Trang bị, vũ khí, kỹ thuật phải hiện đại, có chất lượng cao, phù hợp với cách đánh của các thành phần lực lượng quân, binh chủng là một yêu cầu khách quan, bức thiết. Song vũ khí không phải là tất cả, mà con người mới là nhân tố quyết định thắng - bại trong chiến tranh. Kẻ địch có quân đội chính quy, có sức mạnh được tạo ra bởi chính quy với chỗ dựa chủ yếu là vũ khí công nghệ cao. Đây là mặt mạnh của địch nhưng lại có mặt trái là hành động dễ rập khuôn, máy móc, dễ bị lệ thuộc vào vũ khí và công nghệ, dẫn đến ỷ lại, cứng nhắc, vì vậy chúng ta có thể nắm được quy luật hành động và đánh trả hiệu quả.

Quân đội tinh nhuệ, nói một cách cụ thể là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tinh nhuệ; cán bộ, nhân viên kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ tinh nhuệ; chiến sĩ tinh nhuệ; tổ chức, biên chế tinh gọn; vũ khí, trang bị tinh nhuệ (thuần thục kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, cương vị công tác; khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, vận dụng, ứng phó linh hoạt...). Muốn thực hiện được điều đó, quân đội ta phải được huấn luyện thành thục mọi cách đánh thích hợp với sở trường và điều kiện địa hình, thời tiết của ta. Cán bộ nhất thiết phải được đào tạo, rèn luyện chính quy ở các trường để được trang bị những kiến thức, động tác thực hành cần thiết, tương ứng với cương vị đảm nhiệm. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải biết nhận định, đánh giá tình hình nhanh, chính xác, hạ quyết tâm đúng, kịp thời, chỉ huy, hiệp đồng linh hoạt, đánh thắng địch giòn giã, ngay cả khi tương quan về số quân và vũ khí, trang bị ta thua kém hơn. Cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cần được đào tạo cơ bản, chuyên sâu, có trình độ tinh thông nghiệp vụ, thao tác thuần thục, sử dụng thành thạo, linh hoạt các loại vũ khí trong biên chế. Chiến sĩ phải được huấn luyện, rèn luyện để có sức bền, dẻo, mạnh, có động tác chiến thuật, kỹ thuật đạt đến trình độ kỹ xảo, đánh hiệu quả, đồng thời cũng phải biết phòng tránh tốt, giữ an toàn người và vũ khí, trang bị của ta để đánh lâu dài. Lực lượng dự bị động viên cần được tổ chức theo các đơn vị quân, binh chủng; xếp đúng chuyên môn, nghiệp vụ và được huấn luyện thường xuyên để khi được động viên sẽ nhanh chóng hoà đồng với đơn vị thường trực. Đẩy mạnh xây dựng quân đội từng bước hiện đại vừa là nhiệm vụ, vừa là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Quân đội hiện đại là quân đội được trang bị những kiến thức khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự mới nhất. Do khả năng tài chính, trình độ của nền kinh tế, công nghiệp quốc phòng, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của ta có hạn, sự chi viện của hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn, ta phải lấy tự lực cánh sinh là chính. Vì vậy, xây dựng quân đội từng bước hiện đại là một quá trình lâu dài, phải thực hiện từng bước; phải căn cứ vào tình hình khách quan để lựa chọn thứ tự nội dung ưu tiên, vừa đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu trước mắt, vừa bảo đảm tính hiệu quả, giữ được sức mạnh chiến đấu cơ bản, lâu dài của quân đội, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở phát huy tối đa năng lực công nghiệp của đất nước, triệt để khai thác những thành tựu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đầu tư thích đáng cho các ngành công nghiệp đặc thù quốc phòng, tăng cường trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội. Phấn đấu xây dựng được nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, có tiềm lực mạnh, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Phát triển công nghiệp quốc phòng theo một cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp của đất nước, kết hợp chặt chẽ các loại hình công nghệ sản xuất, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao. Bố trí công nghiệp quốc phòng theo các vùng chiến lược phù hợp với yêu cầu phục vụ chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Gắn công nghiệp dân sinh với công nghiệp quốc phòng, bảo đảm mỗi bước phát triển công nghiệp đất nước đều góp phần tăng thêm tiềm lực quốc phòng.

                                                                                            BIỂN RỘNG