Thứ Hai, 31 tháng 7, 2017

Nơi nào cũng có dấu ấn, công sức của lực lượng quân đội

Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thực hiện một trong ba chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân được Đảng và Nhà nước giao là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất”.
Nhìn lại lịch sử thành lập quân đội cho thấy, quân đội thành lập khi chưa có chính quyền. Ngay từ khi mới ra đời, quân đội ta phải mang tinh thần tự lực, tự cường, lấy sức mình để lao động sản xuất, tự nuôi mình, từ đó vận động nhân dân làm cách mạng, chiến đấu để giành độc lập, giải phóng đất nước. Sau khi đất nước thống nhất, quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, tham gia đắc lực vào hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi khó khăn gian khổ, các công trình trọng điểm quốc gia nơi nào cũng có dấu ấn, công sức của lực lượng quân đội lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.
Trong điều kiện cả nước đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, có ý kiến cho rằng, quân đội có nên tiếp tục tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế nữa hay không. Theo tôi, những lý do sau đây khẳng định: Quân đội cần tiếp tục tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế.
Thứ nhất, đất nước ta từ xưa tới nay việc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước, và ngày nay chúng ta thực hiện song hành hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược này thì phải kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng là vô cùng cần thiết. Lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là một nội dung quan trọng để quân đội thực hiện việc kết hợp này.
Thứ hai, với đường biên giới đất liền dài hơn 4.500km, đường biển hơn 3.200km, đời sống của bà con nhiều nơi còn khó khăn, lạc hậu, có nơi còn “trắng dân”, “trắng chính quyền”, “trắng đảng viên”. Do đó, để bảo vệ biên giới, chủ quyền quốc gia cần có quân đội đứng chân trên những vị trí chiến lược của các tuyến này. Với nhiệm vụ đưa dân ra sinh sống, xây dựng kinh tế hộ gia đình, phát triển kinh tế địa phương. Thông qua việc này tạo nên thế trận lòng dân, vận động nhân dân tạo nên thế trận, chiến lược bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm quốc phòng an ninh của quốc gia, tạo nên thế trận phòng thủ vững chắc. Quân đội đã thành lập các đoàn kinh tế quốc phòng để thực hiện nhiệm vụ này.
Hiện nay, nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng được Nhà nước đầu tư hiện đại, bảo đảm tương đối cho nhu cầu phục vụ thời chiến. Nhưng trong thời bình các cơ sở này chỉ phát huy được 20-30% công suất. Do đó cần phải kết hợp sản xuất hàng dân dụng, tránh lãng phí nguồn lực, đồng thời tạo nguồn thu nuôi dưỡng tiềm lực quốc phòng. Ngoài ra, khi quân đội có sản phẩm công nghệ cao phục vụ quân đội thì cũng đưa sản phẩm ra phục vụ dân sinh, cũng là thúc đẩy nền công nghiệp quốc gia phát triển; từ đó tái đầu tư để nghiên cứu phát triển, làm chủ công nghệ mới.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý cho tốt, cho chặt chẽ, ngăn chặn được mặt trái của kinh tế thị trường, không có lợi ích nhóm, không có tiêu cực trong hoạt động này. Khi làm kinh tế có hiệu quả sẽ làm tăng tiềm lực quốc phòng, thực tế cũng đã chứng minh điều đó.


                                                                                                                Nhân Trần
Quân đội làm kinh tế góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia
                                                                                  
Với một cách tiếp cận biện chứng, chúng ta luôn luôn gắn nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước là một. Không thể xây dựng được nếu không bảo vệ được đất nước. Ngược lại, không thể bảo vệ được đất nước nếu không có sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, hai mặt này bổ sung cho nhau. Ngoài ra, không phải hai nhiệm vụ này song song phát triển mà trong từng giai đoạn có sự ưu tiên, có sự thay đổi, điều chỉnh theo từng thời kỳ. Trong chiến tranh thì nhiệm vụ bảo vệ là số một, trong thời bình thì xây dựng là nhiệm vụ trung tâm bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ. Quân đội cũng là bộ phận của dân tộc thì không thể không tham gia. Đảng ta đã đưa quan điểm kết hợp kinh tế và quốc phòng; kinh tế, quốc phòng và an ninh vào văn kiện có ý nghĩa chiến lược lâu dài, đó là Cương lĩnh của Đảng và điều này cũng đã được ghi trong  Hiến pháp năm 2013.
          Mục đích tích cực khi quân đội làm kinh tế. Đó là gia tăng sức mạnh của bản thân quân đội, gia tăng sức mạnh tổng hợp của quốc gia; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam thông qua kinh tế quốc phòng; đồng thời góp phần tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt, con người, vật chất, trí tuệ...
Để thực hiện những mục tiêu nêu trên, quân đội phải tuân thủ những nguyên tắc trong việc thực hiện kinh tế quốc phòng này. Cụ thể, đóng góp cho tiềm lực đất nước không chỉ thông qua hoạt động kinh tế của doanh nghiệp quân đội mà bản thân hoạt động đó còn góp phần thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước. Nguyên tắc tiếp theo là nhiệm vụ bảo vệ vẫn phải giữ vững hàng đầu trong kết hợp với nhiệm vụ kinh tế. Trong làm kinh tế thì sản xuất là chính, kinh doanh ít hơn, tức là có chọn lọc; yếu tố chính trị luôn phải được coi trọng hơn lợi ích kinh tế. Ngoài ra, quân đội gánh vác những nhiệm vụ chính trị-xã hội mà không ai làm được. Doanh nghiệp quân đội làm những việc mà doanh nghiệp tư nhân không làm, thậm chí doanh nghiệp nhà nước cũng không làm.
Tiếp theo, tôi xin nhấn mạnh, quân đội làm kinh tế phải trong khuôn khổ luật pháp Nhà nước. Tuy nhiên, vì tính đặc thù của quân đội, không thể áp dụng toàn bộ kinh tế thị trường cho hoạt động kinh tế của quân đội. Phải xây dựng thể chế đa dạng cho từng đơn vị quân đội làm kinh tế...

Theo tôi hình thức quân đội nên tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là gì? Đó là để phục vụ trước hết cho nhiệm vụ quân sự-quốc phòng, đồng thời phát huy tính lưỡng dụng. Quân đội ta nên nghiên cứu để tận dụng thành tựu công nghiệp quốc phòng sang công nghiệp dân sự, để tận dụng thành tựu của công nghiệp dân sự sang công nghiệp quốc phòng. Sự kết nối này sẽ tăng sức mạnh cho nền kinh tế rất nhiều. Bên cạnh đó, liên doanh, liên kết với dân dụng cả trong nước và nước ngoài. Để quân đội tham gia sản xuất kinh doanh có hiệu quả, theo tôi cần lưu ý một số vấn đề như: Để tạo sự đồng thuận toàn xã hội thì nên có một nghị quyết của Bộ Chính trị và nên tuyên truyền rộng rãi trong toàn xã hội. Thứ hai, phải có tổng kết rất căn cơ trong 30 năm đổi mới, chủ trương này thế nào, quân đội làm kinh tế đã giải quyết được những gì, còn hạn chế như thế nào? Để có căn cứ triển khai. Đặc biệt, phải xây dựng một bộ thể chế riêng cho công nghiệp quốc phòng, đây không phải là những ưu ái mà là lĩnh vực đặc thù

                                                                                   Bàn Luận


Quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng
                                                                                                               
Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) là một chức năng cơ bản của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, vừa thể hiện sâu sắc bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, vừa cho thấy ý thức, trách nhiệm chính trị của quân đội trong việc quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.
Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Chức năng cơ bản đó của QĐND Việt Nam được xác lập quy định ngay từ ngày đầu thành lập và được khẳng định, phát huy trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành hơn 70 năm qua. Bởi vậy, dù ở bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, Quân đội ta luôn chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng định hướng của Đảng. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù chiến tranh ác liệt, nhưng Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, tích cực tăng gia, sản xuất cải thiện đời sống bộ đội; tham gia sản xuất xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, xây dựng căn cứ hậu cần tại chỗ trên các vùng chiến lược, thực hiện tốt chủ trương, đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam” của Đảng. Sau khi đất nước thống nhất, quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, tham gia đắc lực vào hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển KT-XH, nhất là trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo(1).
Trước nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, những năm gần đây, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa hai nhiệm vụ chiến lược và đường lối của Đảng, ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Trọng tâm là Nghị quyết số 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới-tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Quân đội”; Nghị quyết số 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư số 69/2017/TT-BQP ngày 3-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về KT-XH và quốc phòng-an ninh. Nổi bật là, quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng (KTQP), tham gia xây dựng, phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng-an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng. Đến nay, quân đội đã xây dựng 26 khu KTQP trên các địa bàn chiến lược, vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Các đoàn KTQP đã phối hợp với địa phương xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, điều kiện bền vững cho hàng trăm nghìn hộ dân định cư lâu dài, hình thành hàng trăm điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược. Đồng thời, tích cực hỗ trợ, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, kết hợp thực hiện công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị(2),... Các khu KTQP thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển KT-XH gắn với tăng cường quốc phòng-an ninh của đất nước.
Các doanh nghiệp quân đội-lực lượng chủ yếu trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội đã không ngừng đổi mới, phát triển, hội nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp quân đội đã chủ động vượt khó vươn lên, hoạt động theo đúng pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng, sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ quốc phòng và xã hội, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động. Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp quân đội có thương hiệu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh cho quốc phòng; là đối tác kinh tế quốc tế có uy tín, góp phần tích cực vào công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế. Chỉ tính riêng năm 2016, tổng doanh thu của các doanh nghiệp quân đội đạt gần 350 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt hơn 43 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước hơn 40 nghìn tỷ đồng. Các doanh nghiệp quân đội đã và đang khẳng định rõ vị thế trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo đảm an sinh xã hội. Bên cạnh đó, các đơn vị thường trực, đơn vị sự nghiệp công lập cũng tích cực phát huy nội lực, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất và làm một số dịch vụ theo quy định. Qua đó, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộ đội và tham gia có hiệu quả vào việc phát triển KT-XH trên địa bàn đóng quân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo,...
Thực tiễn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội và những kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động quân đội tham gia xây dựng kinh tế; cho thấy Quân đội ta luôn quán triệt, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, vừa làm tròn vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển KT-XH, vừa tham gia tích cực, có hiệu quả vào công cuộc đó. Mặc dù còn những khuyết điểm, thiếu sót, song với những kết quả quan trọng đạt được trên “mặt trận lao động sản xuất” những năm qua cho thấy, quân đội đã thực sự trở thành một nguồn lực của đất nước trong phát triển KT-XH, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là lực lượng nòng cốt giải quyết các vấn đề khó khăn về quốc phòng-an ninh, KT-XH trên các địa bàn chiến lược, nơi biên giới, hải đảo, vùng biển đặc quyền kinh tế của Tổ quốc. Thông qua sản xuất, xây dựng kinh tế, quân đội đã góp phần điều chỉnh lại lực lượng sản xuất trên các vùng, miền, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH và mục tiêu quốc phòng, tạo nên thế trận KTQP vững mạnh trên các địa bàn chiến lược, nơi phên giậu của đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tạo ra nguồn của cải vật chất đáng kể cho xã hội, nguồn thu bổ sung cho ngân sách quốc phòng, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tăng cường nguồn lực cho phát triển. Đồng thời, tạo ra điều kiện vật chất, kỹ thuật, công nghệ cho xây dựng lực lượng, thế trận, tiềm lực quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc,...
Trong những năm tới, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng; nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đứng trước những thuận lợi và cơ hội to lớn, song cũng có không ít khó khăn, thách thức. Để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ mới, đòi hỏi quân đội cùng với tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, cần tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, đóng góp nhiều hơn nữa vào phát triển KT-XH, tăng cường tiềm lực, sức mạnh của đất nước. Thực hiện mục tiêu đó, toàn quân tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 520-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương; chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế. Đặc biệt, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế trong giai đoạn hiện nay, thấy rõ vai trò nòng cốt của quân đội trong việc tham gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng và phát triển KT-XH, củng cố quốc phòng-an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Toàn quân phải thống nhất nhận thức: Tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam. Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là quán triệt, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, là sự tiếp nối, phát huy tư tưởng, truyền thống quý báu “Ngụ binh ư nông”, “Tịnh vi nông, động vi binh” của dân tộc trong thời kỳ mới. Cùng với đó, chủ động, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề này, nhằm hạ thấp uy tín của quân đội, chia rẽ quân đội và nhân dân, làm phai mờ bản chất cách mạng của quân đội, cổ súy cho việc xây dựng quân đội theo kiểu quân đội nhà nghề của các nước phương Tây. Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, các đơn vị, doanh nghiệp quân đội tiếp tục nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đưa hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội đi vào chiều sâu. Trong quá trình thực hiện, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, “kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng-an ninh với nhiệm vụ phát triển KT-XH”(3); chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng; lấy phát triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng-an ninh là mục tiêu hàng đầu; đồng thời, coi trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, thực hiện phát triển bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thời gian tới, Bộ Quốc phòng chỉ đạo kiện toàn tổ chức lực lượng làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế; nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, tạo bước đột phá trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Trước hết, tiếp tục tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu KTQP theo Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển các khu KTQP đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; ưu tiên xây dựng các khu KTQP trên hướng biển, đảo; tiến hành tổ chức lại mô hình sản xuất tại các khu KTQP,... quyết tâm xây dựng các khu KTQP thành những điểm sáng về kinh tế-văn hóa-xã hội và quốc phòng-an ninh trên địa bàn chiến lược biên giới, biển, đảo. Cùng với đó, quân đội tiếp tục đẩy mạnh tham gia phát triển kinh tế biển cả về quy mô và hình thức, tập trung vào một số ngành nghề có hiệu quả, mang tính lưỡng dụng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, gắn với bảo đảm quốc phòng-an ninh trên biển và ven biển để làm chỗ dựa tin cậy cho ngư dân và các lực lượng khác phát triển kinh tế biển. Đặc biệt, toàn quân tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, ngày 18-5-2017 của Quân ủy Trung ương “Về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo” và Đề án cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội (khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt), bằng các giải pháp đồng bộ, quyết liệt và quyết tâm chính trị cao, bảo đảm đạt mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Thông qua đó, nâng cao năng lực, sức canh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giữ vững thương hiệu doanh nghiệp quân đội, kịp thời khắc phục triệt để những tồn tại, thiếu sót, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển. Các đơn vị thường trực, đơn vị sự nghiệp công lập phát huy thế mạnh, tận dụng năng lực dôi dư để tổ chức sản xuất, xây dựng kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và người lao động, tăng cường nguồn lực quốc phòng. Các đơn vị, doanh nghiệp quân đội tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng về quản lý, sử dụng đất quốc phòng vào mục đích kinh tế, bảo đảm quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, toàn quân, trước hết là các doanh nghiệp tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại và đầu tư, tập trung vào những lĩnh vực mà quân đội có thế mạnh, góp phần đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Nhận thức đúng chức năng, nhiệm vụ, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước và phát huy những kinh nghiệm, kết quả đạt được, toàn quân tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, xứng đáng là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong thời kỳ mới. Qua đó, làm sâu sắc thêm bản chất cách mạng, truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng, thiết thực góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
(1) - Sau năm 1975,  quân đội đã chuyển 28 vạn cán bộ, chiến sĩ sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế.
(2) - Từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế-quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận hơn 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với hơn 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị-xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động có nền nếp, ...
(3) - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.312.

 Bàn Luận
Lịch sử dân tộc là minh chứng sát thực bác bỏ các quan điểm sai trái

                                                                    

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Chính vì vậy, ngoài chức năng chiến đấu, quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng công tác, chức năng lao động sản xuất. Ba chức năng cơ bản đó của Quân đội ta là tất yếu khách quan, điều đó không chỉ đúng với nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử Việt Nam; mà đó còn sự kế thừa lịch sử và truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là bằng chứng sát thực nhất để phản bác lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đang tìm mọi cách để chống phá chức năng lao động, sản xuất của Quân đội ta.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình, dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm kết hợp chặt chẽ vấn đề kinh tế với quốc phòng. Sự kết hợp đó được thể hiện tập trung trong chính sách “ngụ binh ư nông”…  Nước ta, từ khi thành lập cho đến nay là một nước nhỏ, dân ít. Từ yêu cầu đó của thực tiễn, tổ tiên ta đã thiết lập một tổ chức quân sự vừa đáp ứng được nhiệm vụ giữ nước, vừa thỏa mãn được nhu cầu làm ruộng, sản xuất ra lương thực. Chính từ cách thức tổ chức quân đội mang tính đặc thù của một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước mang tính trạng nông – binh bất phân, nên việc tham gia lao động sản xuất luôn gắn liền với trách nhiệm của quân đội, trở thành một nhiệm vụ mang tính chức năng của quân đội.
Trở về lịch sử, ngay từ thuở An Dương Vương cho xây dựng thành Cổ Loa, quân lính Âu Lạc đã trở thành một trong những lực lượng nhân công chủ yếu nhất để xây thành Cổ Loa. Sau này, các đội nghĩa binh trong thời kỳ đấu tranh lâu dài nhằm giành lại độc lập dân tộc cũng cơ bản là các đội quân ngày thì sản xuất, đêm tối tổ chức tập kích trại giặc, điển hình như “Vua đầm đêm” Triệu Quang Phục. Ngay quân đội của Ngô Vương (Ngô Quyền) cũng chính từ một đội nghĩa binh Ái Châu vừa sản xuất vừa chiến đấu mà trưởng thành đủ sức lập nên chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước. Đến các triều đại phong kiến tự chủ, nhất là từ thời Lý – Trần, việc dựa vào dân để xây dựng quân đội không phải là chính sách nhất thời, mà được phương lược hoá thành “ngụ binh ư nông” – chế độ binh dịch với tất cả đinh tráng và chế độ quân lính chia phiên vừa canh phòng, luyện tập vừa trở về sản xuất. Cách tổ chức lực lượng quân sự ấy tạo ra thế trận rộng khắp và thuận lợi trong điều động lực lượng; ở đâu có dân là ở đó có những trai tráng từng được luyện tập quân sự, có tên trong sổ binh, thời bình ở nhà sản xuất, khi có biến được huy động vào quân đội. Các sử gia Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ và Phan Huy Chú đánh giá “đây là một chính sách tốt, chế độ hay của thời cận cổ”, “lúc nông nhàn thì luyện tập, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiểu sổ gọi ra”, cho nên “binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống giặc”.
Có thể nói với các triều đại phong kiến Việt Nam, vấn đề chăm lo xây dựng tổ chức quân sự luôn gắn chặt với lao động, sản xuất để duy trì sự tồn tại của tổ chức quân sự và phát triển tổ chức đó. Chăm lo phát triển kinh tế và chăm lo quốc phòng trở thành hai nhiệm vụ quan trọng như nhau trong kế sách dựng nước của các nhà nước phong kiến tiến bộ. Khi đất nước thái bình, quân đội vẫn lo luyện binh, kén tướng, tích trữ lương thảo, sửa sang binh nhung; và khi đất nước có chiến tranh vẫn tích cực lao động, sản xuất, và khi kết thúc cuộc chiến là tạo điều kiện để phục hồi sản xuất được ngay. Lịch sử thời nhà Hậu Lê khởi nghiệp, cuộc dấy nghĩa Lam Sơn chống ách đô hộ của nhà Minh cho thấy, Bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương cho quân lính ra sức lao động sản xuất, cấy cày để tự túc lương thực. Trên thực tế, đây chính là sự thể hiện rất rõ chức năng lao động, sản xuất của quân đội. Sau khi giành lại độc lập cho đất nước, quân đội nhà Hậu Lê không chỉ thường xuyên luyện binh, rèn tướng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước, mà còn được sử dụng vào những công việc đặc biệt cần đến tổ chức quân sự chặt chẽ và là lực lượng trung thành. Khi cho xây dựng, sửa chữa lớn kinh thành, vua Lê chủ yếu dùng đến lực lượng quân đội.
Từ cuối đời Lê và đời Nguyễn, quân đội còn đóng vai trò là những người tiên phong đi mở đất. Đoàn quân của vị tướng Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế nối từ sông Hậu ra vịnh Thái Lan, là công trình đánh dấu xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất Nam Bộ.
Như vậy, đối với dân tộc Việt Nam, do chiến tranh giải phóng dân tộc mang tính chất chiến tranh toàn dân nên mọi người dân không chỉ đóng góp sức người, sức của, mà còn tự nguyện tham gia, kể cả tự vũ trang chiến đấu. Về mặt quân sự, không có sự tách biệt vai trò của các thứ quân, mà chỉ có sự phân công tác chiến cho phù hợp. Quân triều đình là lực lượng tác chiến chiến lược; quân các phủ, lộ và của các vương hầu chiến đấu trong đội hình chung hoặc đảm nhiệm những hướng và phương án tác chiến sở trường. Dân binh làng xã là lực lượng chiến đấu tại chỗ. Khi đất nước có chiến tranh, một bộ phận lớn dân chúng được chuyển hoá thành binh lực, thực hiện chức năng chiến đấu giữ nước. Khi đất nước chuyển sang thời bình, việc sử dụng một bộ phận quân đội tham gia lao động sản xuất, thực hiện chức năng đội quân sản xuất, là đương nhiên. Đây là một truyền thống văn hoá quân sự mang tính đặc thù của nước ta.
Tóm lại, việc xác định chức năng lao động, sản xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh mà đó còn là sự kế thừa, đồng thời phát triển lên một chất lượng mới tư tưởng quân sự truyền thống dân tộc, chủ yếu là tư tưởng về xây dựng quân đội của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đó cũng là căn cứ sát thực để bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong việc xuyên tạc, chống phá chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta hiện nay.


 Hướng Dương
Phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh – sứ mệnh của doanh nghiệp quân đội

Doanh nghiệp quân đội là các doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước giao cho Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý, được chia ra thành:
 Doanh nghiệp quân sự, quốc phòng, an ninh. Đây là doanh nghiệp nhà nước, gồm các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các doanh nghiệp đứng chân trên các địa bàn trọng yếu về an ninh, quốc phòng, kết hợp hai nhiệm vụ quốc phòng với kinh tế; kinh tế với quốc phòng.
Trong Quân đội cũng có một số doanh nghiệp thuần túy kinh tế như các doanh nghiệp xây dựng, dệt may chẳng hạn. Các doanh nghiệp này đang được từng bước chuyển sang mô hình công ty cổ phần theo chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp của Chính phủ.
Thực hiện Nghị quyết số 520-NQ/QUTW ngày 25-9-2012 của QUTW và Nghị quyết số 450- NQ/QUTW ngày 18 tháng 5 năm 2017 của QUTW về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội đến 2020 và những năm tiếp theo. Trong Nghị quyết, Quân ủy Trung ương khẳng định: Giảm mạnh đầu mối doanh nghiệp; thực hiện sát nhập các doanh nghiệp có cùng ngành nghề. Cổ phần hóa các doanh nghiệp không hoặc ít có nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trường hợp không thực hiện cổ phần hóa được thì giải thể hoặc cho phá sản.
Tập trung vào các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp bên ngoài chưa làm được hoặc không muốn làm hoặc làm không hiệu quả; đặc biệt là nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị quân sự phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc hoặc các danh nghiệp dứng chân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Còn những lĩnh vực kinh doanh ở những nơi thuận lợi mà các công ty dân sự có thể làm tốt thì để cho dân sự làm. Theo đó, các doanh nghiệp nằm trong diện cổ phần hóa, thoái vốn, từng bước thực hiện theo đúng quy trình. Các đơn vị này sẽ không dùng xe biển đỏ, trang bị kỹ thuật quân sự; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng sẽ được chuyển sang diện Chính phủ quản lý theo hình thức phù hợp.
Đây là một quyết sách đúng đắn mang ý nghĩa cách mạng, nhằm cấu trúc lại doanh nghiệp quân đội. Theo đó, các doanh nghiệp quân đội còn lại đều phải là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, gắn chặt kinh tế với quốc phòng, an ninh. Đây là giải pháp làm cho các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có sức sống mới, thực sự khẳng định thương hiệu, uy tín; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những ai nêu ra quan điểm cho rằng chuyển tất cả các doanh nghiệp quân đội sang Nhà nước quản lý; quân đội thôi làm kinh tế để chuyên tâm thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc là không hiểu hoặc cố tình không hiểu lời dạy của Bác Hồ, quan điểm, chủ trương, đường lối, chiến lược lâu dài, cơ bản, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước về quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế – xã hội. Hơn thế, họ cố tình kích động, gây rối, pha loãng bầu không khí chính trị ở nước ta, dọn đường cho các thế lực thù địch, cơ hội chính thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội, thực hiện “dân sự hóa quân đội”; làm cho quân đội ta suy yếu, mất chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và chế độ để thực hiện mưu đồ xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quân đội. Đó là điều không thể chấp nhận, cần kiên quyết bác bỏ.
Ở nước ta, Quân đội làm kinh tế là một tất yếu lịch sử, là nhu cầu thực tế của xã hội, yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho Quân đội.


                                                                                                      Công Bằng
Không thể xuyên tạc chức năng lao động, sản xuất của Quân đội

Thời gian gần đây, lợi dụng vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Đồng Tâm và việc sử dụng đất quốc phòng để làm sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị đã “tát nước theo mưa” để xuyên tạc, chống phá chức năng lao động, sản xuất của Quân đội ta. Chúng đưa ra nhiều lập luận mù mờ rồi kết luận rằng, không có cơ sở lý luận nào để khẳng định chức năng lao động sản xuất của quân đội. Đây là những luận điệu thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch nhằm mục đích làm thay đổi bản chất, chức năng của quân đội ta, tiến tới phủ nhận và làm suy yếu sức mạnh quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới – quân đội của Nhà nước vô sản đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái đó.
Với thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, cùng với sự kết hợp sáng tạo phương pháp lôgíc và lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen lần đầu tiên trong lịch sử đã luận giải một cách đúng đắn về nguồn gốc, bản chất và chức năng của quân đội. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen: Quân đội là lực lượng vũ trang chuyên biệt do nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nhằm mục đích tiến hành các cuộc “chiến tranh tiến công hay chiến tranh phòng ngự. Quân đội, xét đến cùng, có chức năng chiến đấu chống các loại kẻ thù để phục vụ nhà nước và giai cấp tổ chức ra nó. Chức năng chiến đấu là chức năng cơ bản, xuyên suốt của quân đội, tuy nhiên để thực hiện được chức năng đó và ngoài chức năng đó quân đội còn phải thực hiện các chức năng khác do nhà nước và giai cấp tổ chức ra nó giao phó. Do vậy, việc quân đội thực hiện chức năng lao động, sản xuất cũng là tất yếu khách quan.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rõ: mối quan hệ biện chứng giữa quân đội với nền kinh tế. Quân đội vừa phụ thuộc vào nền kinh tế quốc dân vừa có vai trò tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, kinh tế quyết định đến trạng thái chính trị tinh thần của người lính, quyết định đến tổ chức biên chế, trang bị vũ khí, đồng thời quyết định đến chiến lược, nghệ thuật, cách đánh và sức mạnh của quân đội. Tuy nhiên, quân đội không chỉ phụ thuộc vào nền kinh tế mà còn có vai trò tích cực đến sự phát triển kinh tế. C.Mác đã chỉ rõ: “Lịch sử quân đội xác định một cách rõ ràng hơn hết sự đúng đắn của quan điểm của chúng ta về mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ xã hội. Nói chung quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế”[1]. Trên một góc độ nào đó, nhu cầu xây dựng quân đội cũng là một động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, cũng như bản thân tổ chức quân sự có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất và đời sống xã hội. Quân đội là lực lượng nòng cốt giữ vững hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển; đồng thời quân đội còn trực tiếp tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân. Ph.Ăngghen đã chỉ ra mối liên hệ giữa chiến tranh và kinh tế, chiến tranh và chính trị; sự phụ thuộc của phương thức tiến hành chiến tranh, tổ chức và sức mạnh quân sự của nhà nước với quân đội làm nòng cốt vào chế độ kinh tế, xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ông khẳng định: Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế tiên quyết hơn là chính ngay quân đội và hạm đội. Ông cũng tập trung nghiên cứu, luận giải một cách biện chứng về sự chuyển hóa lượng – chất trong sức mạnh quân sự của nhà nước, về sức mạnh chiến đấu của quân đội gắn với sự hoàn thiện trình độ tổ chức quân sự trong mối tương quan với các tiền đề kinh tế – xã hội và chính trị – xã hội; chỉ ra sự tăng cường sức mạnh quân sự của bất cứ nhà nước nào cũng không thoát khỏi những điều kiện kinh tế. Bởi, theo Ph. Ăngghen, thắng lợi của bạo lực dựa vào việc sản xuất vũ khí và việc sản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất nói chung.
V.I.Lênin là người trực tiếp vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về vấn đề xây dựng, tăng cường sức mạnh quân sự của nhà nước, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và các thành quả của cách mạng. V.I. Lê-nin cho rằng, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản có vai trò rất quan trọng đối với nhiệm vụ lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế. Cho nên, ngay từ những năm đầu xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lê-nin đã quan tâm đến việc sử dụng quân đội vào nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế. Người chỉ ra rằng: “Cần phải tập trung toàn lực vào nhiệm vụ đó, cần phải tung vào những quỹ đạo mới đó toàn bộ lực lượng quân sự đã biểu lộ rõ tác dụng của mình trong việc xây dựng quân sự. Đó là tình hình đặc thù, là bước quá độ đặc thù khiến chúng ta nghĩ đến việc tổ chức các đội quân lao động…”[2].
Trong chỉ đạo thực tiễn, V.I.Lênin đề xuất chuyển một số đơn vị chính quy của Hồng quân thành những đội quân lao động để xây dựng kinh tế trong tình hình Nhà nước xôviết đã bước sang thời kỳ ngừng chiến từ đầu năm 1920, nhưng luôn luôn vẫn còn khả năng bọn đế quốc sẽ tái diễn việc vũ trang can thiệp. Người nói: “Nhiệm vụ chuyển từ chiến tranh sang công cuộc hòa bình xây dựng đã xuất hiện trong những điều kiện hết sức đặc biệt khiến cho chúng ta không thể giải ngũ quân đội được, vì chúng ta phải tính đến chẳng hạn khả năng tấn công của chính nước Ba Lan hoặc của một cường quốc nào đó hiện vẫn đang bị Đồng minh tiếp tục xúi giục chống lại chúng ta”[3]. Theo đề xuất của V.I.Lênin, vấn đề sử dụng các đơn vị quân đội trên mặt trận kinh tế đã được thảo luận trong Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Nga. Sau đó, theo quyết định của Chính phủ Xôviết, một bộ phận lực lượng quân đội đã được chuyển sang làm công tác khôi phục giao thông vận tải, công nghiệp nhiên liệu và một số quân đoàn được tổ chức thành quân đoàn lao động. Cùng với việc chuyển một số đơn vị của Hồng quân sang thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, phát triển kinh tế, V.I.Lênin cũng đề xuất chuyển một số nhà máy quốc phòng sang làm các công việc có lợi ích kinh tế là sản xuất các dụng cụ, máy móc nông nghiệp, sản xuất và sửa chữa các đầu máy xe lửa… Mặc dù việc thành lập những quân đoàn lao động được coi là một biện pháp tạm thời, chỉ cần thiết trong điều kiện cụ thể của thời kỳ tạm ngừng chiến nhằm giải quyết những nhiệm vụ kinh tế theo “chính sách cộng sản thời chiến”, song tư tưởng của V.I.Lênin đã sớm đặt nền móng hình thành lý luận về chức năng, nhiệm vụ xây dựng kinh tế của quân đội kiểu mới của nhà nước vô sản.
Tóm lại, nói đến quân đội là nói đến chức năng chiến đấu bằng bạo lực vũ trang, nhưng nói đến quân đội vô sản thì cùng với việc khẳng định chức năng chiến đấu là chức năng cơ bản hàng đầu của nó như một tất yếu, cần phải thấy được sự xuất hiện của các chức năng khác cũng là tất yếu và là một vấn đề hiện thực. Đây chính là sự khác nhau căn bản về chức năng, nhiệm vụ của quân đội của giai cấp vô sản – quân đội kiểu mới – so với các kiểu quân đội trước đó. Những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra trên đây là minh chứng sát thực nhất để phản bác lại các quan diểm sai trái của các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị khi cố tình xuyên tạc chức năng lao động, sản xuất của quân đội ta./.

[1] . C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 29, Nxb CTQG, H.1996, tr. 246
[2] V.I.Lênin toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ  Mát-xcơ-va, 1977, tr. 122
[3] V.I.Lênin toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ  Mát-xcơ-va, 1977, tr. 619


                                                       Công Bằng
Chủ trương thể hiện sự tiếp nối truyền thống, phù hợp với quy luật

Quân đội nhân dân Việt Nam với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ, việc quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế là thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất. Lời dạy đó sẽ luôn trường tồn, ngày càng được soi sáng bởi tư duy mới, tư duy hiện đại khi chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt là hội nhập kinh tế.
Nhìn vào lịch sử, triết lý ông cha ta là "ngụ binh ư nông", quân đội ở trong dân, lúc cần thiết thì tham gia chiến đấu, vào thời bình tham gia sản xuất, phát triển kinh tế gắn với cơ sở xã hội, xây dựng mối quan hệ quân-dân. Như vậy, vấn đề quân đội làm kinh tế, kết hợp kinh tế với quốc phòng là sự tiếp nối truyền thống dân tộc, phản ánh một quy luật là dựng nước đi liền với giữ nước, xây dựng gắn liền với bảo vệ.
Từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc  Mỹ xâm lược, đã khẳng định vai trò của quân đội, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc cũng như dấu ấn lịch sử về sản xuất, phát triển kinh tế. Trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh. Quân đội đã xây dựng các lâm trường, nông trường, các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng, rồi sau đó trở thành nòng cốt trên nhiều lĩnh vực. Đến nay, chúng ta đã có một đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân viên quốc phòng, đáp ứng được không chỉ nhu cầu của quân đội mà còn trong đời sống dân sự. Đóng góp này rất đáng được tôn vinh.
Hiện nay, câu chuyện thời sự đặt ra là, tổ chức lại, tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, trong đó, liên quan đến vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp quân đội. Điều này chỉ là nhằm thực hiện vai trò kinh tế chủ đạo của Nhà nước, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN chứ không có nghĩa là quân đội không làm kinh tế nữa mà ngày càng phải làm tốt hơn. Đặc biệt, cần phải mang sức mạnh của khoa học công nghệ như động lực cốt lõi vào sự phát triển để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng cùng với số lượng, tốc độ tăng trưởng thì mới có điều kiện để cải thiện đời sống nhân dân, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh nhiều thách thức như hiện nay.
Tôi cho rằng những biến đổi của lịch sử qua thời gian cho ta cảm nhận Quân đội nhân dân Việt Nam có nhiều điểm sáng giá, nhiều nét đặc thù, vì sinh ra từ nhân dân, từ yêu cầu phát triển của đất nước, dân tộc, sinh ra từ di sản cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ là động lực tinh thần rất lớn cho quân đội. Chúng ta khẳng định mối quan hệ giữa kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện chiến tranh nhân dân, thế trận lòng dân. Hiện nay, chúng ta càng có cơ sở tin cậy khi nghiên cứu vai trò của quân đội là lực lượng sản xuất.
Sau hơn 30 năm đổi mới, từ thực tiễn, Đảng ta rút ra những mối quan hệ lớn trong phát triển. Trong đó, quan hệ kinh tế với quốc phòng, quan hệ giữa xây dựng với bảo vệ rất được nhấn mạnh, có thể nói là cơ sở, nền tảng để quân đội tiếp tục sứ mệnh vừa tham gia sản xuất vừa tham gia phát triển kinh tế cùng với trọng trách lịch sử không bao giờ bị xem nhẹ là chức năng chiến đấu. Không phải ngẫu nhiên đến Đại hội 12, Đảng ta mở rộng nội dung xây dựng chỉnh đốn Đảng, là xây dựng Đảng về văn hóa, trong đó có công tác dân vận. Bởi có dân thì có tất cả, mất dân thì mất hết. Không có lực lượng nào ở nước ta có truyền thống, kinh nghiệm làm dân vận tốt như bộ đội. Những điều đó cho thấy cơ sở để tiếp tục tư tưởng quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế.
Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế có rất nhiều thuận lợi. Quân đội có lực lượng đông đảo, có tính kỷ luật chặt chẽ; trình độ học vấn, tri thức khoa học công nghệ không ngừng được nâng cao. Bộ đội ta mang danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ, sẽ là nhân tố bảo đảm cho chúng ta tránh được tiêu cực, tha hóa xảy ra trong điều kiện tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường. Bởi vì quân đội với truyền thống vẻ vang có đủ khả năng, tiềm lực để bảo đảm sự phát triển kinh tế lành mạnh trên cơ sở chính trị, đạo đức. Tức nói rộng ra là văn hóa quân sự, văn hóa quân đội, gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nếu không có sự tham gia của quân đội trong sản xuất, phát triển kinh tế sẽ khó có thể hoàn thành được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, càng khó thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.


                                                                                      Công Bằng

Chủ Nhật, 30 tháng 7, 2017

Bản chất chính trị của quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, nhằm bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội bằng bạo lực vũ trang. Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để đem lại tự do, bình đẳng và hạnh phúc cho nhân dân lao động. Đó cũng là mục tiêu chính trị cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quân đội ta không chỉ mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân mà còn mang đầy đủ tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Từ quan điểm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta không tiếp thu các đội quân của chế độ phong kiến để lại mà xây dựng quân đội nhân dân từ không đến có, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Đó là những đội tự vệ công nông đầu tiên trong cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, những đội du kích hình thành từ các cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Bắc Sơn… Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và căn dặn “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, “người trước, súng sau”... Ngày 22 tháng 12 năm 1964, kỷ niệm 20 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Người đã khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đó là luận điểm khái quát nhất về bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành trong gần 70 năm qua đã chứng minh, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải xây dựng toàn diện các yếu tố, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 
Gần đây, trong quá trình tham gia góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có một số ý kiến khác nhau về quy định ở Điều 70 (sửa đổi, bổ sung điều 45) trong Dự thảo Hiến pháp về nội dung: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, …”. Thậm chí, có ý kiến vì nhiều động cơ, mục đích không lành mạnh, đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, đòi quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị. Những người đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội thể hiện nhận thức “mơ hồ” về chính trị hoặc vì ý đồ cá nhân đã cố tình làm ngơ không hiểu bản chất giai cấp của quân đội nói chung, cũng như bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội đưa ra vào những năm 80 của thế kỷ XX với nội dung cơ bản là: Quân đội là một tổ chức quân sự, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, chỉ tuân theo Hiến pháp. Theo đó, quân đội trung lập về chính trị (không có quân đội xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa), đứng ngoài những biến động chính trị - xã hội, đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước. Vì thế, quân đội không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào.
“Phi chính trị hóa” quân đội thực chất là âm mưu, thủ đoạn chính trị nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa; làm cho Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân mất chỗ dựa vững chắc để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Lịch sử đã để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc về vấn đề này. Vào những năm cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô.
Hiện nay, với kinh nghiệm tác động, can dự vào đời sống chính trị và làm sụp đổ các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trước đây và một số nước Bắc Phi - Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng coi quân đội là một đối tượng cần tập trung chống phá, đòi “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, làm mất sức chiến đấu bảo vệ Đảng Cộng sản, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng mọi biện pháp để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, như: Tuyên truyền phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, cùng với hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội cụ Hồ”, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội…; với mục tiêu cao nhất là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
 Lịch sử ra đời và phát triển của các quân đội trên thế giới cho thấy, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập và càng không có quân đội chung chung. Quân đội mang bản chất của giai cấp tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện và sử dụng nó. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội là phục vụ cho mục tiêu, lý tưởng của giai cấp đã tổ chức ra nó. V.I.Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…” (V.I. Lênin, toàn tập, tập 12, NXB Tiến bộ, Matxcơva 1979, tr.136).
Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng mà bất cứ nhà nước nào, giai cấp cầm quyền nào cũng phải nắm lấy để bảo vệ quyền lợi chính trị, quyền lợi kinh tế của mình. Hô hào quân đội các nước xã hội chủ nghĩa chỉ phục tùng Nhà nước, không phục tùng Đảng Cộng sản, về thực chất là tuyên truyền cho sự chuyển hóa lập trường chính trị của giai cấp công nhân sang lập trường chính trị của giai cấp tư sản, lôi kéo quân đội tham gia vào chính trị của giai cấp tư sản. Trên cơ sở đó, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội và trong xã hội, để khi có đủ điều kiện sẽ tiến hành lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà không cần đến chiến tranh.
Trước yêu cầu xây dựng quân đội ta vững mạnh về chính trị, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam vừa là nguyên tắc cơ bản, vừa là quy luật trong việc xây dựng quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với quân đội bằng đường lối, chủ trương cho mọi hoạt động thể hiện ở cương lĩnh chính trị, nghị quyết, chỉ thị, đồng thời thông qua hệ thống tổ chức đảng mà hạt nhân là các cấp ủy, chế độ chỉ huy, chế độ công tác đảng, công tác chính trị và các tổ chức quần chúng trong quân đội.
Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đấu tranh chống mọi tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; miễn dịch trước sự tấn công, xâm nhập của những khuynh hướng, quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn nhằm hạ thấp và xóa bỏ vai trò lãnh của Đảng đối với quân đội.
Trong điều kiện hiện nay, để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, trước hết phải thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy, gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam; tiếp tục quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu về mọi mặt, thực sự là hạt nhân đoàn kết, tổ chức lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối của Đảng và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, tăng cường đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng, vạch trần âm mưu của các thế lực thù địch làm cho quân đội ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”.
Nhiệm vụ cơ bản trong đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là bảo vệ và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, về bản chất cách mạng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội ta. Đồng thời, đấu tranh trực diện, vạch trần bản chất chính trị phản động, phản khoa học của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn; là nhân danh “dân chủ hóa” để “lừa bịp về chính trị”; thực chất là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, hòng “chuyển hóa” lập trường chính trị, bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta.
Để tiến hành đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội có hiệu quả, cần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận trong quân đội có đủ phẩm chất và năng lực, nhanh nhạy, sắc bén trong đấu tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng.
Ba là, tăng cường giáo dục, giác ngộ cán bộ, chiến sĩ về bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân của quân đội ta cho cán bộ, chiến sĩ là một nội dung quan trọng nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng. Sự giác ngộ sâu sắc bản chất giai cấp công nhân của cán bộ, chiến sĩ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan những quan điểm, tư tưởng “phi chính trị hóa” quân đội, “quân đội phi giai cấp”, “quân đội trung lập về chính trị”.  
Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội hiện nay được thể hiện ở sự kiên định con đường cách mạng của Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi  mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp tác phong công tác tốt, lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống cá nhân chủ nghĩa, thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn, nâng cao trình độ năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nhiệm vụ của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là phải làm cho bản chất cách mạng của quân đội tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân của quân đội phải đi đôi với tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ chiến sĩ trong quân đội.
Bốn là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa ở các cơ quan, đơn vị quân đội trong sạch, lành mạnh, xây dựng đạo đức, lối sống, nhân cách người quân nhân xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan, đơn vị quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng “môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú”, tạo những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội, tạo thêm sức mạnh xây dựng ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đó là môi trường hết sức thuận lợi để nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội cụ Hồ”, từng bước hạn chế và khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta hiện nay.

                                                         Công Bằng



Thực tiễn là chân lý bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch

Quân đội ta là quân đội cách mạng, “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Chức năng cơ bản đó của Quân đội nhân dân Việt Nam được khẳng định, phát huy trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu, trưởng thành 73 năm qua.
Thế vậy mà, thời gian gần đây, lợi dụng vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Đồng Tâm và việc sử dụng đất quốc phòng để làm sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị đã “tát nước theo mưa” để xuyên tạc, chống phá chức năng lao động, sản xuất của Quân đội ta. Đây là những luận điệu thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch nhằm mục đích làm thay đổi bản chất, chức năng của quân đội ta, tiến tới phủ nhận và làm suy yếu sức mạnh quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, thực tiễn và truyền thống 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta là chân lý để bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái đó.
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguyên tắc tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta đã có quan điểm đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ của các đội tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của các Đội tự vệ công nông, Đội du kích Bắc Sơn, Đội du kích Nam Kỳ và các Trung đội Cứu quốc quân cho thấy, các đơn vị vũ trang của Đảng lúc bấy giờ vẫn thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm; coi đó là một lẽ tự nhiên của đội quân cách mạng của nhân dân. Về nhận thức lý luận, Đảng ta xác định quân đội cách mạng kiểu mới có chức năng lao động, sản xuất. Tuy nhiên, khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, trong các văn bản chính thức, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa đề cập đến chức năng lao động, sản xuất của Đội. Đến tháng 9-1945, trong chỉ thị “Kháng chiến và kiến quốc”, lần đầu tiên Đảng ta xác định chức năng, nhiệm vụ kiến quốc, xây dựng kinh tế của quân đội. Chỉ thị nêu rõ: Muốn kháng chiến lâu dài và giành thắng lợi, phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh. Triệt để dùng du kích vận động chiến; về kinh tế: Tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc; tự sản xuất vũ khí và lấy súng giặc đánh giặc. Sau chỉ thị “Kháng chiến và kiến quốc”, Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19-10-1946) đã xác định cụ thể hơn nhiệm vụ lao động, sản xuất của quân đội. Nghị quyết của Hội nghị chỉ rõ, ở những nơi bộ đội đóng, lấy đại đội hay trung đội độc lập làm đơn vị, bắt buộc phải tham gia sản xuất, trồng rau, chăn nuôi. Nghị quyết đã sớm đặt ra truyền thống tăng gia sản xuất tại chỗ, quanh nhà, quanh vườn của quân đội ta.
Thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mặc dù chiến tranh ác liệt, nhưng Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần tự lực tự cường, tích cực tăng gia, sản xuất, cải thiện đời sống bộ đội; tham gia sản xuất xây dựng hậu phương lớn miền bắc, xây dựng căn cứ hậu cần tại chỗ trên các vùng chiến lược, thực hiện tốt chủ trương, đường lối “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền nam” của Đảng. Sau khi đất nước thống nhất, Quân đội là lực lượng xung kích, nòng cốt, tham gia đắc lực vào hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Đặc biệt, qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhất là đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế đất nước từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của quân đội và yêu cầu quản lý nền kinh tế đất nước. Lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội từng bước được chấn chỉnh, củng cố, hoạt động có nền nếp, đạt hiệu quả toàn diện trên các lĩnh vực. Quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế – quốc phòng, tham gia xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng. Các khu kinh tế – quốc phòng là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế – xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước. Các doanh nghiệp quân đội – lực lượng chủ yếu trong thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, đồng thời là lực lượng nòng cốt trong việc giữ gìn, phát triển năng lực sản xuất quốc phòng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tiếp tục được sắp xếp lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động. Các doanh nghiệp Quân đội đã luôn đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, hoạt động theo đúng pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng; sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ quốc phòng và xã hội, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hàng chục nghìn lao động, bảo đảm an sinh xã hội. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Quân đội có thương hiệu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh cho quốc phòng; là đối tác kinh tế quốc tế có uy tín, góp phần tích cực vào công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, lực lượng bộ đội thường trực tham gia lao động, sản xuất với nhiều hình thức phong phú, không chỉ quanh bếp, quanh nhà mà còn tổ chức các trạm, trại tăng gia sản xuất tập trung. Hầu hết các đơn vị đã  tự túc được rau ăn quanh năm, một số đơn vị giải quyết được tại chỗ nhu cầu về thịt, cá, đậu cho bữa ăn hằng ngày của bộ đội. Qua đó, tạo nguồn thu trực tiếp cải thiện đời sống bộ đội và tham gia có hiệu quả vào việc phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn đóng quân, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo.
Tóm lại, hiệu quả từ thực tiễn hoạt động lao động, sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc huy động Quân đội tham gia xây dựng kinh tế; điều đó cũng cho thấy Quân đội ta luôn quán triệt, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, vừa làm tròn vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, vừa tham gia tích cực, có hiệu quả vào công cuộc đó. Quân đội đã thật sự trở thành một nguồn lực của đất nước trong phát triển kinh tế – xã hội, không những góp phần làm ra của cải vật chất cho xã hội, mà còn góp phần giữ gìn và phát triển năng lực sản xuất quốc phòng, nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tăng cường tiềm lực và thế trận quốc phòng- an ninh trên các địa bàn chiến lược biên giới, vùng sâu, vùng xa và trên các hải đảo, vùng biển đặc quyền kinh tế của đất nước. Đó là chân lý để bác bỏ các quan điểm sai trái của các thế lực trong việc xuyên tạc, chống phá chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta hiện nay.
                                                                           

                                                                                                   H.A