Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI  CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
       Cách đây 72 mươi năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng tháng tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở ra một bước ngoạch mới cho cách mạng mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, là thắng lợi của Đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối đó được thể hiện trên những vấn đề sau:
Thứ nhất, Đảng đã lãnh đạo chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định phương thức khởi nghĩa giành chính quyền bằng con đường khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (BCHTƯ) (5-1941) xác định lực lượng cách mạng của ta bao gồm: Tiền phong quân chính là giai cấp vô sản trong nước, đội quân hậu bị trực tiếp, gồm nông dân và các tầng lớp nhân dân; ngoài nước, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa và cuộc cách mạng của nhân dân ở chính quốc… Hội nghị cũng nhấn mạnh nếu không có lực lượng cách mạng (lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang) hùng hậu thì không thể có khởi nghĩa thắng lợi, chúng ta phải dựa trên sức ta mà giải phóng cho ta. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, ta đã tích cực bắt tay vào xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang vững mạnh để chuẩn bị cho khởi nghĩa. Ngày 19-5-1941, Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm tập hợp lực lượng chính trị cho khởi nghĩa. Mặt trận Việt Minh đã phất cao ngọn cờ dân tộc, đưa ra những chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với nguyện vọng của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam nên được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ, lực lượng ngày càng vững mạnh, rộng khắp. Các hội Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Tự vệ cứu quốc…lần lượt ra đời với tinh thần: “…tổ chức một đoàn thể cứu quốc điều cốt yếu là không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc…” ([1]). Để phát triển lực lượng vũ trang, Đảng ta đã tổ chức đội vũ trang tuyên truyền, mở con đường quần chúng thúc đẩy lực lượng cách mạng phát triển mạnh mẽ trên nền tảng tư tưởng: “Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” ([2]). Thành lập các đội du kích, chủ yếu ở các địa bàn nông thôn: Du kích (Bắc Sơn; Cao Bằng; Nam Kỳ...).  Thành lập các đội tự vệ, chủ yếu ở thành phố, thị xã: Tự vệ đỏ; Xích vệ đỏ. Thành lập các đội cứu quốc quân (1, 2, 3…) có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung ương Đảng, gây cơ sở và căn cứ địa cách mạng. Để chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, ngày 22-12-1944, Bác Hồ đã ra chỉ thị thành lập “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”, đó là kết quả chuẩn bị công phu của Đảng ta cho cuộc Tổng khởi nghĩa vũ trang tháng Tám sau này.
Hai là, Đảng tích cực vận động, lôi kéo tầng lớp trung gian ([3]) đứng về phía cách mạng.
Trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin về lực lượng cách mạng, “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Đảng ta đã chủ động vận động, lôi kéo tầng lớp trung gian đứng về phía cách mạng để chống thực dân Pháp – Phát xít Nhật, chủ trương của Đảng đối với tầng lớp trung gian là: Phê bình, uốn nắn, vạch đường lối, chân thành đoàn kết trong hành động thực tế, giúp đỡ các tầng lớp trung gian lập ra tổ chức của mình để phát huy năng lực phục vụ Tổ quốc, đưa cách mạng đến thành công. “Tháng 6 -1944 Đảng dân chủ Việt Nam ra đời với tư cách là một chính đảng cách mạng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức yêu nước tiến bộ”([4]) làm cho thành phần tổ chức của Mặt trận Việt Minh ngày thêm phong phú và khả năng hiệu triệu của tầng lớp trung gian tham gia đánh đuổi Nhật càng được tăng thêm. Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9-3-1945, nhiều nhân vật trung gian vẫn trải qua một bước dao động ngắn, từng bước mạnh dạn tham gia phong trào cứu quốc ngày càng đông đảo. Một số đông quần chúng trung gian thời gian đầu còn bị mắc lừa Nhật và bọn tay sai Đại Việt quốc gia liên minh, tưởng rằng Nhật đã ban cho mình độc lập thật, cứ thế mà hưởng. Một số nhân vật trung gian khác, tuy hiểu rằng Nhật chẳng tốt đẹp gì, nhưng thiếu quan điểm đấu tranh cách mạng nên lập lờ chủ trương lợi dụng Nhật hoặc lợi dụng chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, để xây dựng lực lượng cho Việt Nam, để sau này Nhật thua tập trung chống Pháp nếu Pháp quay trở lại xâm lược lần nữa, điển hình là tổ chức Tân Việt Nam hội. Hơn nữa, bộ mặt có vẻ trung gian của nội các bù nhìn Trần Trọng Kim cũng làm cho nhiều người mắc lừa… Trước tình hình đó, Đảng chủ trương phải vạch mặt chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim “Thân phận bù nhìn của nó chỉ giữ được bù nhìn, phương châm của nó hứa hẹn nhiều nhưng thực hành ít, hay thực hành trái với lời hứa. Nhiệm vụ của nó là bọc nhung cho ách Nhật và hùa với giặc áp bức bóc lột nhân dân([5]) và bóc dần cái vẻ độc lập giả hiệu của phát xít Nhật...Sự phê bình, giúp đỡ của Đảng đã làm cho quần chúng trung gian dần dần tỉnh ngộ và đi theo cách mạng, thực tiễn chứng minh sau khi Nhật đầu hàng đồng minh (ngày 13-8-1945), tầng lớp trung gian nói chung đều theo cách mạng.
Ba là, Đảng đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngay từ năm 1930 tại Hội nghị thành lập Đảng, Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”([6]). Đường lối lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Tại Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng (5-1941), đề ra chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tranh thủ mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Hội nghị nhấn mạnh “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của các bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được”([7]). Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa.
Đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương đã có những điều kiện mới, nhân tố mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển thành cao trào rộng lớn, chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn kết thúc, phát xít Đức bị Hồng quân Liên Xô đánh tan ở Liên Xô. Ở Đông Dương Phát xít Nhật liên tiếp thất bại ở nhiều nơi, biết được âm mưu của Pháp, đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngay đêm 9-3-1945, Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Đình Bảng -Từ Sơn-Bắc Ninh, do đồng chí Trường Chinh chủ trì ra Bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 12-3-1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng họp, phân tích đánh giá, chỉ ra những khủng hoảng sâu sắc về chính trị mà cuộc đảo chính gây ra: (1) Hai thế lực phát xít, thực dân đánh nhau một mất, một còn; (2) Chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương tan rã; (3) Chính quyền Nhật mới lên, nhưng chưa ổn định; (4) Các tầng lớp trung gian đang hoang mang; (5) Quần chúng cách mạng muốn hành động. Đồng thời, phân tích đánh giá thời cơ có thể nổ ra khởi nghĩa, tình hình chính trị trong cả nước khủng hoảng sâu sắc, nạn đói hoành hoành, chiến tranh thế giới đến giai đoạn quyết liệt là những cơ hội tốt cho khởi nghĩa đi đến chín muồi một cách nhanh chóng. Khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương, phát xít Nhật đưa quân ra ngăn cản quân Đồng minh, để sau lưng sơ hở thì lúc đó là lúc phát động khởi nghĩa vô cùng thuận lợi. Đồng thời, bản Chỉ thị nêu rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc khởi nghĩa của ta, vì như thế lại ỷ vào người và tự bỏ tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần thì khi ấy quân đồng minh chưa đổ bộ vào Đông Dương thì cuộc Tổng khởi nghĩa của ta có thể bùng nổ thắng lợi”([8]).
Trên cơ sở bám sát thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận định: Thời điểm này là thời kỳ phát triển hoà bình cách mạng đã qua, nhưng toàn dân Tổng khởi nghĩa chưa tới, thời cơ cục bộ xuất hiện, nhưng tình thế trực tiếp cách mạng trên phạm vi cả nước chưa chín mùi. Trước tình hình đó, Thường vụ Trung ương Đảng chỉ đạo khởi nghĩa từng phần ở những địa phương có đủ điều kiện và giành thắng lợi ở một số địa phương, sau đó lan nhanh khắp các vùng nông thôn 6 tỉnh Việt Bắc, đến hàng loạt chiến khu ở nhiều vùng rừng núi và nông thôn thuộc Bắc Bộ, Trung Bộ như: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Đông Triều....Các hoạt động bức hàng các đồn bốt, xoá bỏ chính quyền địch ở thôn xã, lập các Uỷ ban Việt Minh, tổ chức nhân dân phá kho thóc cứu đói...Nhiều đội tự vệ cứu quốc chặn đánh các cuộc càn quét của quân Nhật vào khu căn cứ, bảo vệ vùng giải phóng, thu hẹp phạm vi kiểm soát của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước thắng lợi.
Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị về việc tổ chức Uỷ ban dân tộc giải phóng các cấp, trong phạm vi cả nước thì lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức chính quyền cách mạng lâm thời của nước Việt Nam mới. Nhằm khẩn trương, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Ngày 15-4-1945 Ban thường vụ Trung ương triệu tập hội nghị quân sự Bắc Kỳ ở Hiệp Hoà (Bắc Giang), quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân; đẩy mạnh phát triển lực lượng vũ trang và bán vũ trang; xây dựng căn cứ kháng Nhật, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
       Ngày 12-8-1945 được tin Nhật gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị mở cuộc đàm phán ngừng bắn, ngày 13-8-1945, Đảng triệu tập hội nghị Trung ương ra Nghị quyết: “Phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc”. Hội nghị nhấn mạnh: Phát xít Nhật đã đầu hàng Đồng minh và tan rã khắp mặt trận, đây chính là thời cơ để Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước, là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến, toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Trung ương Đảng chỉ rõ: Phải giành cho được chính quyền bằng cách đập tan chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim, lập ra chính quyền cách mạng trước khi Đồng minh kéo vào. Nguyên tắc khởi nghĩa: Tập trung, thống nhất, kịp thời. Phương châm tác chiến: Đánh chiếm những nơi chắc thắng không kể thành phố hay thôn quê, thành lập Uỷ ban nhân dân ở nơi ta đã làm chủ. Điều kiện đánh: Nơi nào cần và chắc thắng thì đánh. Hành động của lực l­ượng vũ trang: “Đánh cho quân giặc những đòn chí tử, tiêu diệt lực lượng của chúng, chộp lấy những căn cứ chính (cả đô thị) trước khi quân đồng minh vào, tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh, làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh” ([9]).  Sử dụng lực l­ượng đồng thời cả tiến công của lực lượng quân sự với nổi dậy của lực lượng quần chúng d­ưới sự chỉ huy của Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc và từng địa ph­ương, trong đó sự nổi dậy của lực l­ượng quần chúng đóng vai trò quyết định, tiến hành mít tinh, biểu tình, bao vây các công sở, gây sức ép, kêu gọi địch đầu hàng, tuyên truyền thanh thế của cách mạng, thị uy biểu dương lực lư­ợng. Lực lượng quân sự làm hậu thuẫn cho nổi dậy của quần chúng, sử dụng khi cần thiết để diệt ác, trừng trị kẻ ngoan cố. Địa bàn khởi nghĩa, diễn ra cả nông thôn và thành thị với tinh thần đồng loạt nổi dậy. Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng từ ngày 14 đến 28-8 tất cả các địa phương trên khắp đất nước đã đứng nên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 30-8-1945 Bảo Đại làm lễ thoái vị trao ấn kiếm cho đại diện Chính phủ lâm thời. Ngày 02-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kết hợp chặt chẽ điều kiện khách quan và chủ quan; kết hợp chặt chẽ đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng với trí sáng tạo, tinh thần dũng cảm và sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta. Đã 72 năm trôi qua, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám mãi mãi là mốc son chói lọi của lịch sử cách mạng, lịch sử dân tộc Việt Nam, những bài học thành công từ Đường lối, chủ trương của Đảng trong lãnh đạo khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát huy trong điều kiện mới. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cả nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng ta tiếp tục kế thừa truyền thống lãnh đạo trong chặng đường lịch sử vẻ vang của mình, tranh thủ những điều kiện và thời cơ thuận lợi của Quốc tế và trong nước, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ động tạo ra thời cơ thuận lợi, vượt qua thách thức để phát triển đất nước vững mạnh về mọi mặt, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa nước ta vững bước tiến trên con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
                                                             CHÂN LÝ



 ([1]).  Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng: Toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 125.
 ([2]).Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 507.
 ([3]). Các tầng lớp trung gian trong Cách mạng Tháng Tám gồm có tiểu tư sản, tư sản dân tộc và các nhân sĩ yêu nước trong giai cấp địa chủ…
([4]) . Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Cách mạng tháng tám 1945, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 80
([5]). Thanh Đạm: Vấn đề tầng lớp trung gian trong Cách mạng tháng Tám, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 163, năm 1975. 
([6]) . ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 2, tr .2
([7]) . ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 113
([8]). ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 373.
([9]).Văn kiện Đảng, 1930-1945, Ban nhiên cứu Lịch sử  Đảng Trung ương, Nxb HN,1977, tập 3, tr 418, 419.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét