Lịch sử dân tộc là minh chứng sát thực bác bỏ các quan
điểm sai trái
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra,
vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Chính vì vậy, ngoài chức năng
chiến đấu, quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng công tác, chức năng lao
động sản xuất. Ba chức năng cơ bản đó của Quân đội ta là tất yếu khách quan,
điều đó không chỉ đúng với nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của Chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử
Việt Nam; mà đó còn sự kế thừa lịch sử và truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đó
cũng là bằng chứng sát thực nhất để phản bác lại các quan điểm sai trái của các
thế lực thù địch đang tìm mọi cách để chống phá chức năng lao động, sản xuất
của Quân đội ta.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của mình,
dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm kết hợp chặt chẽ vấn đề kinh tế với quốc phòng.
Sự kết hợp đó được thể hiện tập trung trong chính sách “ngụ binh ư nông”…
Nước ta, từ khi thành lập cho đến nay là một nước nhỏ, dân ít. Từ yêu cầu
đó của thực tiễn, tổ tiên ta đã thiết lập một tổ chức quân sự vừa đáp ứng được
nhiệm vụ giữ nước, vừa thỏa mãn được nhu cầu làm ruộng, sản xuất ra lương thực.
Chính từ cách thức tổ chức quân đội mang tính đặc thù của một nền sản xuất nông
nghiệp lúa nước mang tính trạng nông – binh bất phân, nên việc tham gia lao
động sản xuất luôn gắn liền với trách nhiệm của quân đội, trở thành một nhiệm
vụ mang tính chức năng của quân đội.
Trở về lịch sử, ngay từ thuở An Dương Vương
cho xây dựng thành Cổ Loa, quân lính Âu Lạc đã trở thành một trong những lực
lượng nhân công chủ yếu nhất để xây thành Cổ Loa. Sau này, các đội nghĩa binh
trong thời kỳ đấu tranh lâu dài nhằm giành lại độc lập dân tộc cũng cơ bản là
các đội quân ngày thì sản xuất, đêm tối tổ chức tập kích trại giặc, điển hình
như “Vua đầm đêm” Triệu Quang Phục. Ngay quân đội của Ngô Vương (Ngô Quyền)
cũng chính từ một đội nghĩa binh Ái Châu vừa sản xuất vừa chiến đấu mà trưởng
thành đủ sức lập nên chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử giành lại độc lập hoàn
toàn cho đất nước. Đến các triều đại phong kiến tự chủ, nhất là từ thời Lý –
Trần, việc dựa vào dân để xây dựng quân đội không phải là chính sách nhất thời,
mà được phương lược hoá thành “ngụ binh ư nông” – chế độ binh dịch với tất cả
đinh tráng và chế độ quân lính chia phiên vừa canh phòng, luyện tập vừa trở về
sản xuất. Cách tổ chức lực lượng quân sự ấy tạo ra thế trận rộng khắp và thuận
lợi trong điều động lực lượng; ở đâu có dân là ở đó có những trai tráng từng
được luyện tập quân sự, có tên trong sổ binh, thời bình ở nhà sản xuất, khi có
biến được huy động vào quân đội. Các sử gia Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ và Phan Huy
Chú đánh giá “đây là một chính sách tốt, chế độ hay của thời cận cổ”, “lúc nông
nhàn thì luyện tập, lúc vô sự thì làm ruộng, khi có động thì chiểu sổ gọi ra”,
cho nên “binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống
giặc”.
Có thể nói với các triều đại phong kiến Việt
Nam, vấn đề chăm lo xây dựng tổ chức quân sự luôn gắn chặt với lao động, sản
xuất để duy trì sự tồn tại của tổ chức quân sự và phát triển tổ chức đó. Chăm
lo phát triển kinh tế và chăm lo quốc phòng trở thành hai nhiệm vụ quan trọng
như nhau trong kế sách dựng nước của các nhà nước phong kiến tiến bộ. Khi đất
nước thái bình, quân đội vẫn lo luyện binh, kén tướng, tích trữ lương thảo, sửa
sang binh nhung; và khi đất nước có chiến tranh vẫn tích cực lao động, sản
xuất, và khi kết thúc cuộc chiến là tạo điều kiện để phục hồi sản xuất được
ngay. Lịch sử thời nhà Hậu Lê khởi nghiệp, cuộc dấy nghĩa Lam Sơn chống ách đô
hộ của nhà Minh cho thấy, Bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương cho quân lính ra sức
lao động sản xuất, cấy cày để tự túc lương thực. Trên thực tế, đây chính là sự
thể hiện rất rõ chức năng lao động, sản xuất của quân đội. Sau khi giành lại
độc lập cho đất nước, quân đội nhà Hậu Lê không chỉ thường xuyên luyện binh,
rèn tướng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước, mà còn được sử dụng vào những
công việc đặc biệt cần đến tổ chức quân sự chặt chẽ và là lực lượng trung
thành. Khi cho xây dựng, sửa chữa lớn kinh thành, vua Lê chủ yếu dùng đến lực
lượng quân đội.
Từ cuối đời Lê và đời Nguyễn, quân đội còn
đóng vai trò là những người tiên phong đi mở đất. Đoàn quân của vị tướng Thoại
Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế nối từ sông Hậu ra vịnh Thái Lan, là công trình đánh
dấu xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất Nam Bộ.
Như vậy, đối với dân tộc Việt Nam, do chiến
tranh giải phóng dân tộc mang tính chất chiến tranh toàn dân nên mọi người dân
không chỉ đóng góp sức người, sức của, mà còn tự nguyện tham gia, kể cả tự vũ
trang chiến đấu. Về mặt quân sự, không có sự tách biệt vai trò của các thứ
quân, mà chỉ có sự phân công tác chiến cho phù hợp. Quân triều đình là lực
lượng tác chiến chiến lược; quân các phủ, lộ và của các vương hầu chiến đấu
trong đội hình chung hoặc đảm nhiệm những hướng và phương án tác chiến sở
trường. Dân binh làng xã là lực lượng chiến đấu tại chỗ. Khi đất nước có chiến
tranh, một bộ phận lớn dân chúng được chuyển hoá thành binh lực, thực hiện chức
năng chiến đấu giữ nước. Khi đất nước chuyển sang thời bình, việc sử dụng một
bộ phận quân đội tham gia lao động sản xuất, thực hiện chức năng đội quân sản
xuất, là đương nhiên. Đây là một truyền thống văn hoá quân sự mang tính đặc thù
của nước ta.
Tóm
lại,
việc xác định chức năng lao động, sản xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam không
chỉ là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh mà đó còn là sự kế thừa, đồng thời phát triển lên một chất lượng mới tư
tưởng quân sự truyền thống dân tộc, chủ yếu là tư tưởng về xây dựng quân đội
của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đó cũng là căn cứ sát thực để bác bỏ các
quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trong việc xuyên tạc, chống phá
chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta hiện nay.
Hướng Dương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét