Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

                                                                                                            Mặt Trời

          Tư tưởng Hồ Chí Minh có quá trình hình thành và phát triển, có nguồn gốc lí luận và thực tiễn; không phải hình thành ngay một lúc mà đã trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được xác định là một hệ tư tưởng chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin, được chính thức đưa ra từ Đại hội VII (1991) cho đến nay. Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểm khoa học, chính thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và coi tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam; từ đó đưa ra khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại”.

          Đảng Cộng sản Việt Nam xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động và đây là cội nguồn mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tăng cường giáo dục, tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội. Mục đích nghiên cứu học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhằm áp dụng vào con đường xây dựng đất nước Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đối với thế hệ trẻ nói chung, với học sinh, sinh viên trong các trường cao đẳng và đại học nói riêng, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh cần đặc biệt coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, đặc biệt là giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao lý luận, phương pháp tư duy biện chứng, góp phần đào tạo sinh viên thành những chiến sĩ đi tiên phong trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam đàng hoàng hơn và to đẹp hơn như Di chúc của Hồ Chí Minh để lại: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên Việt Nam là bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; là một việc rất hệ trọng và rất cần thiết hiện nay./.

                                      GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

                                                                                                         Mặt Trời

          Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hoá nhân loại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường giải phóng và phát triển dân tộc, là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của thời đại, luôn trường tồn, bất diệt và đã trở thành một bộ phận của văn hoá dân tộc, có sức hấp dẫn, lâu bền và phổ biến; là tài sản vô giá của dân tộc ta. Bởi vì tư tưởng của Người không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hoá, tư tưởng vĩnh cữu của loài người, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Tính sáng tạo của Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ vừa trung thành với những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời khi nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý đó, Người đã mạnh dạn loại bỏ những gì không thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả. Nét đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những vấn đề xung quanh việc giải phóng dân tộc và định hướng cho sự phát triển của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm trong lịch sử và ngày nay, tư tưởng đó đang soi sáng con đường cách mạng Việt Nam; là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Trong suốt chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951) trở lại đây đã liên tục khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Đảng đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, tư tưởng của Người giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và đảm bảo quyền con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch đường lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn dân tộc ta đi tới thắng lợi.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn đối với sự phát triển thế giới; phản ánh khát vọng của thời đại. Hồ Chí Minh là nhân vật lịch sử vĩ đại, tư tưởng của Người không chỉ là sản phẩm của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ. Việc xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có các vấn đề chủ nghĩa xã hội và con dường xây dựng chủ nghĩa xã hội, về hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc... có giá trị to lớn về mặt lý luận và đang trở thành hiện thực của nhiều vấn đề quốc tế ngày nay. Điều này đã được UNESCO khẳng định, ghi nhận. Tìm ra con dường, giải pháp đấu tranh giải phóng loài người
là đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là từ việc xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đến việc xác định một con đường cách mạng, một hướng đi, một phương pháp để thức tỉnh hàng trăm triệu con người bị áp bức trong các nước thuộc địa lạc hậu. Người đã giải quyết đúng đắn vấn đề "làm thế nào để giải phóng các dân tộc thuộc địa"; xác định chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù lớn nhất của các dân tộc bị áp bức, Người kêu gọi lao động toàn thế giới, nhất là các nước thuộc địa cần phải đại đoàn kết, đại hòa hợp. Từ rất sớm, với việc nhận thức đúng sự chuyển biến của thời đại, nắm bắt chính xác xu thế phát triển, đặc điểm của thời đại, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Rồi từ kinh nghiệm của nước mình, Người đi đến khẳng định: "Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi". Những chân lý trên đây của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân lý sáng ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh cổ vũ các dân tộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại của nhân dân Việt Nam, là nhà hoạt động xuất sắc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, một chiến sĩ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX.
Chính Người đã làm sống lại những giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta trở thành tấm gương cổ vũ tinh thần đấu tranh của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Trong lòng nhân dân thế giới tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi. Bạn bè năm châu hết lòng kính trọng, khâm phục và ca ngợi Người, coi Người là lãnh tụ của thế giới, là nguồn cổ vũ đối với tất cả các chiến sĩ đấu tranh cho độc lập, tự do./.

 NGHỆ THUẬT CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐẤT ĐỐI KHÔNG TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG KHÔNG THÁNG 12 NĂM 1972

Hoằng Tháo

Cuối năm 1972 “Việt Nam hóa chiến tranh” bị phá sản; sau những thất bại liên tiếp buộc Mỹ phải đàm phán Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam với lộ trình ngày 20/10 ký tắt tại Hà Nội và ngày 26/10 ký kết chính thức tại Pari. Tuy nhiên, Mỹ đã trì hoãn ký kết, kéo dài thời gian, trên thực tế ngầm lên kế hoạch trả đũa bằng tập kích đường không chiến lược có một không hai, sử dụng máy bay ném bom chiến lược B52 mang mật danh “LainơblếchcơII”. Theo đó, ngày 18/12/1972 bắt đầu tàn phá Bắc Việt Nam, gây sức ép buộc Việt Nam phải hạ thấp một số điều khoản; trấn an chính quyền Sài Gòn và rút quân trên thế mạnh. Đây là những cố gắng quân sự cuối cùng của Mỹ và để thực hiện Mỹ huy động tối đa sức mạnh của không quân bao gồm gần 1/2 số máy bay B52 (193/400 chiếc, thực tế xuất kích 663 lần chiếc), gần 1/3 số máy bay chiến thuật (999/3.041 chiếc, thực tế xuất kích 3.920 lần chiếc), 1/4 số tàu sân bay (6/24 chiếc) và nhiều máy bay tiếp dầu, gây nhiễu điện tử, trinh sát, chỉ huy, dẫn đường, cấp cứu... lực lượng được huy động bằng tổng lực lượng không quân của 3 nước mạnh nhất châu Âu thời điểm đó là Anh, Đức, Pháp cộng lại.

Khi tiến hành cuộc tập kích, Mỹ tin rằng sẽ dạy cho Bắc Việt Nam một bài học và một số báo chí Mỹ đã vội tung tin, phác họa nên một bức tranh hãi hùng “Hà Nội sẽ là một khu vực chết, sẽ quay về thời kỳ đồ đá cũ”… nhưng kết quả thì 81 máy bay các loại bị bắn hạ, trong đó có 34 chiếc B52 - mức độ tổn thất quá nặng chưa từng có. Trong khi B52 từng được “quảng bá” là siêu pháo đài bay thượng đẳng bất khả chiến bại; là niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ; là sản phẩm hội tụ những thành tựu kỳ diệu nhất của nền công nghiệp hàng đầu thế giới; là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược; nó trút bom như mưa, tiếng bom xé nát không khí, gầm rít ghê rợn như dông bão. Một tốp 3 chiếc B52 có thể biến một khu vực rộng 2km2 thành bình địa; không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom B52; đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần vì họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm. Thắng lợi trong chiến dịch phòng không “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam là một minh chứng về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối vũ khí, phương tiện; thắng lợi của ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng kẻ thù xâm lược và hơn tất cả đó là thắng lợi của sự kế thừa và phát triển nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới với hình thức mới - chiến tranh nhân dân đất đối không.

Một là, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân đất đối không đã phát triển mạnh, huy động mọi lực lượng, phương tiện tạo thành lưới lửa phòng không dày đặc bắn máy bay Mỹ. Hà Nội và cả Bắc Việt Nam đã phát huy được sức mạnh phòng không của toàn dân tạo nên lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều nấc. Từ xa đến gần, trên mọi tầng cao, cả chính diện, bên sườn, phía sau máy bay Mỹ luôn bị hệ thống hỏa lực phòng không dày đặc được ví như “rồng lửa Thăng Long” vây chặt. Hà Nội linh thiêng và hào hoa trở thành “Thăng Long chiến địa”, là vùng chết của không quân Mỹ. Chính Cơnoen - Tham mưu trưởng Không quân Mỹ thời đó thừa nhận “Lực lượng phòng không của Bắc Việt là lực lượng đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà phi công Mỹ chưa bao giờ gặp phải”. Còn thiếu tá phi công John Gaudeous, sau mấy lần thoát chết đã thốt lên “Bay vào vùng châu thổ sông Hồng, chúng tôi đã gặp phải một lưới lửa nhiều tầng, trên tất cả mọi độ cao. Bay thấp thì bị đạn cao xạ bắn; bay cao thì lại bị tên lửa SAM2 và máy bay MIG truy đuổi”. Chẳng thế mà trong chiến dịch “Bão táp sa mạc” năm 1991, Mỹ cũng sử dụng B52 oanh tạc I rắc trong khi đó I rắc có hệ thống Rađa, tên lửa mạnh hơn Việt Nam vào thời điểm năm 1972 nhiều lần nhưng I rắc không bắn hạ được chiếc B52 nào còn Việt Nam có hẳn bảo tàng chiến thắng B52.

Hai là, nghệ thuật sử dụng lực lượng, bày binh bố trận, cơ động tác chiến theo cách đánh thống nhất của chiến tranh nhân dân đất đối không đã phát huy cao nhất khả năng chiến đấu của các lực lượng phương tiện. Việt Nam đã tổ chức bố trí đội hình chiến đấu, các trận địa phòng không, các khẩu đội một cách cơ động, linh hoạt, bất ngờ, từ mỏm núi, sườn đồi, ven làng, bìa rừng đến nóc nhà cao tầng.… hình thành thế trận phòng không nhân dân liên hoàn vững chắc, rộng khắp, nhiều tầng, đón đánh máy bay Mỹ từ mọi hướng. Bộ đội cao xạ, các đơn vị phòng không nhân dân và các tổ đội bộ binh đón lõng thì tập trung đánh máy bay bay thấp tránh sự phát hiện của Rađa khi bổ nhào cắt bom, máy bay chiến thuật... để bảo vệ những mục tiêu trọng yếu mặt đất. Các đơn vị tên lửa được ưu tiên tiêu diệt pháo đài bay B52. Bộ đội Rađa vượt qua mọi trở ngại, với phương châm hành động “vạch nhiễu tìm thù” chỉ thị cho tên lửa và MIC  xuất kích đã trở thành huyền thoại trong đánh Mỹ. Không quân với cách đánh du kích, dùng tốp nhỏ, chiếc lẻ quần lộn, xông thẳng vào đội hình máy bay tiêm kích bảo vệ B52, buộc chúng phải quay ra đối phó, làm cho đội hình bay rối loạn, cường độ nhiễu giảm, để lộ B52 tạo điều kiện cho tên lửa tiêu diệt.

Ba là, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân đất đối không đã phát triển đến đỉnh cao với cao trào toàn dân bắn máy bay, bắt giặc lái Mỹ, chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Để huy động sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong chiến tranh nhân dân đất đối không; bên cạnh việc tổ chức, bố trí đội hình chiến đấu thống nhất, liên hoàn Việt Nam còn làm tốt công tác sơ tán, phòng tránh; tổ chức tốt các đội bảo đảm, phục vụ chiến đấu rộng khắp. Nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng tránh, đánh trả trong cuộc đụng đầu lịch sử này luôn là nền tảng, là chỗ dựa vững chắc cho thế trận phòng không nhân dân đất đối không cũng như để các lực lượng chiến đấu thắng lợi. Với phương châm “mỗi khu phố là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ” nên ngay cả trong tiếng đạn bom rung trời, chuyển đất, trong khói lửa mịt mùng và đổ nát vẫn có những nam nữ thanh niên tiếp đạn cho trận địa, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ gây ra; vẫn có các mẹ già tiếp tế đến từng khẩu đội, thăm hỏi, động viên; vẫn có những y tá, dân phòng cứu thương, băng bó, chữa ngạt, chữa cháy. Đó là những nam nữ nghệ sĩ văn công, tay đàn, tay sáo xuống từng trận địa, mang lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ ngay bên mâm pháo nóng bỏng đạn bom. Là những du kích cầm đèn, cầm đuốc hai bên đường băng thay cho đèn điện hướng dẫn máy bay MIC cất hạ cánh trong đêm. Là những dân công không sợ hiểm nguy, xông lên trong bom đạn san lấp các hố bom, sửa chữa đường băng, ụ pháo, trận địa…cho tên lửa, đạn cao xạ vạch trời bay lên tìm diệt máy bay Mỹ. Là các nhà khoa học, cán bộ nhân viên kỹ thuật nhiều lần cải tiến khí tài Rađa và tên lửa SAM2 để chống nhiễu, chống tên lửa của Mỹ, góp phần không nhỏ nâng cao hiệu suất chiến đấu và hạn chế tổn thất. Là biết bao cán bộ, công nhân viên thầm lặng bám trận địa, bám máy, bám đài, bám bệnh viện, cửa hàng... để bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu về điện, nước, y tế, lương thực, thực phẩm, thông tin liên lạc cho cuộc chiến đấu. Chỉ cần thấy thấp thoáng những cánh dù bung ra, lập tức hàng chục, hàng trăm người từ các hầm trú ẩn vọt ra, có cả những thiếu niên, cụ già, phụ nữ... kẻ gậy, người dao, rầm rập kéo nhau đi như trẩy hội lùng bắt giặc lái Mỹ. Hà Nội và Bắc Việt Nam đã huy động được sự đoàn kết, đồng lòng, sức mạnh của quân và dân trong chiến đấu với kẻ thù. Tổ chức tốt hàng trăm đài quan sát từ xa đến gần, hệ thống thông báo báo động bằng còi, kẻng, loa khắp các bản làng, thôn xóm, nhà máy, công sở... ngụy trang, trồng cây xanh và đào công sự ven đường, dọc phố, xây dựng trận địa giả nghi binh, sơ tán gần 30 vạn dân Hà Nội ra khỏi khu vực đánh phá trọng điểm trong trật tự, an toàn. Đánh giá việc này, báo “Thế giới” của Pháp viết “Đối diện với quân đội Mỹ là cả một dân tộc kiên quyết như núi đá, một tinh thần dũng cảm vô song không hề biết sợ trước bất kể kẻ thù nào”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ MắcNamara cũng phải thừa nhận “Những cuộc ném bom hủy diệt của Mỹ đã không thể nào tiêu diệt được ý chí của cả một dân tộc”. Còn Giôrít Ivan, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của Hà Lan thì nhận xét “Đã từng chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, nhưng tôi chưa thấy ở nơi nào trên thế giới mà cả dân tộc kết thành một khối cùng đánh giặc như ở Việt Nam”. Đây chính là nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đất đối không, dám đánh, biết đánh, quyết đánh thắng, không chịu khuất phục trước B52./.

 

 

ÂM MƯU THỰC HIỆN “BẤT TUÂN DÂN SỰ” Ở VIỆT NAM

                                                                                                                    Nhân Trần

           Gần đây trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi như là “lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự” hoặc “bất tuân dân sự - con đường tự do cho Việt Nam”. Vậy bản chất thật sự của những lời kêu gọi này là như thế nào? Trên thực tế thì các thế lực phản động đã có những hành động như thế nào đối với âm mưu thực hiện phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam?

Xung quanh thuật ngữ “bất tuân dân sự” đã có nhiều bài viết và chỉ rõ  nguồn gốc, bản chất, nội hàm của nó. Đó là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số  đạo luật nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. Ngày nay, “bất tuân dân sự” đã được các thế lực phản động quốc tế sử dụng để chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ hoặc không cùng “quỹ đạo” với chúng, trong đó có Việt Nam. Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, ở Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”. Trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân dân sự”; thậm chí, chúng còn phổ biến kinh nghiệm, nguyên tắc, hình thức tham gia, mở các lớp huấn luyện, hướng dẫn, phổ biến kinh nghiệm “bất tuân dân sự” cho các thành viên để thực hiện hành động phá hoại. Đến nay, bất tuân dân sự từng bước trở thành phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình” gắn kết chặt chẽ giữa “bất tuân dân sự” với “xã hội dân sự”, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để chỉ đạo, điều hành “bất tuân dân sự”, với chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”. Triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo; các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta; sự ngộ nhận của người dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc… để tuyên truyền chống phá, lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng. Thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với bạo động để chống chính quyền, chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn. Như vậy, với âm mưu, thâm độc được che đậy dưới các chiêu bài, hình thức tinh vi, khó nhận biết, mập mờ giữa vấn đề dân chủ và các hành vi vi phạm pháp luật để tập hợp lực lượng, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân, đến sự ổn định và phát triển chung của đất nước. Do đó, mọi tổ chức, cá nhân và toàn thể nhân dân phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, hiểu rõ thực chất của cái gọi là “bất tuân dân sự” cũng như âm mưu thực hiện phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch; xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 

 

 

“BẤT TUÂN DÂN SỰ” HIỂM KỌA KHÔN LƯỜNG

                                                                                                                    Nhân Trần

 “Bất tuân dân sự” thực chất là chống đối chính phủ dân sự được nêu ra lần đầu tiên trong tập tiểu luận nhan đề “Dân sự bất hợp tác” của Henry David Thoreau - một phạm nhân phải ngồi tù ở bang Massachusetts (Mỹ) vì tội không đóng thuế. Thế nên, nội dung chủ đạo trong tập tiểu luận là quan điểm cực đoan, vô chính phủ và được khoác ngôn từ hoa mỹ là “bất tuân dân sự”. Mặc dù ở thời điểm mới xuất hiện, tiểu luận “Dân sự bất hợp tác” không gây được sự ảnh hưởng nào, song sang thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Henry David Thoreau được một số kẻ lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh. Theo thời gian, “bất tuân dân sự” đã bị các thế lực biến tướng, lợi dụng vào các mục đích khác nhau, đặc biệt là để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, các quốc gia, vùng lãnh thổ không phù hợp với lợi ích của họ.

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự”, nhưng thực chất đó là các hoạt động vi phạm cố ý đối với một số đạo luật nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền. Vì thế, bản chất đây là hành vi vi phạm pháp luật nếu chiểu theo pháp luật của bất kỳ quốc gia nào. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: thiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân, nhóm người phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

Nhìn vào thực tế những gì đã diễn ra ở các nước Đông Âu, Liên Xô (cũ), Trung Đông, Bắc Phi… thấy rất rõ “bất tuân dân sự” luôn có xu hướng leo thang thành bạo lực, bạo động, gây ra bất ổn xã hội, thậm chí khủng hoảng nghiêm trọng. Các hành vi của cái gọi là “bất tuân dân sự” nhằm chống đối, không phục tùng những điều luật, quy định đã được ban hành, thi hành và thừa nhận trên thực tế tại các quốc gia, vùng lãnh thổ chính là coi thường kỷ cương, pháp luật, đi ngược hoàn toàn với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh.

Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại luôn rất nặng nề, kéo dài, gây bất ổn, chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội, giữa người dân trong một quốc gia, vùng lãnh thổ. Thực tế, các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, kéo dài tại một số quốc gia đã minh chứng rõ điều này. Chính nước Pháp cũng phải “nếm chịu” những hậu quả nghiêm trọng từ cái gọi là “bất tuân dân sự” qua phong trào “áo vàng” diễn ra năm 2018.

“Bất tuân dân sự”, “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”… chỉ là cái vỏ bọc hào nhoáng, mỹ miều cho các hành vi vi phạm pháp luật như bạo lực, đốt phá, giết chóc, gây nguy hiểm cho cả cộng đồng, bất ổn cho xã hội và đất nước. “Bất tuân dân sự” chính vì thế luôn chứa đựng trong nó những hiểm họa khôn lường cho cuộc sống bình yên, cho sự ổn định của toàn xã hội./.

 THỦ ĐOẠN NGUY HIỂM “BẤT TUÂN DÂN SỰ” CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

                                                                                                                 Nhân Trần

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau - nhà tư tưởng người Mỹ với nhan đề “Dân sự bất hợp tác” vào tháng 5/1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước. Theo đó, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp “cách mạng hòa bình”. Thực chất đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ của một kẻ vốn là phạm nhân (Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào “Satyagraha” của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi năm 1914 và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh năm 1947; phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela... Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó, “bất tuân dân sự” từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; “Mùa xuân Ả Rập” ở các nước Trung Đông - Bắc Phi năm 2011... đều có dấu ấn của phong trào “bất tuân dân sự”. Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn “bất tuân dân sự”. Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng.

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự” nhưng thực chất “bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số  đạo luật  nhất định nhằm cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của nhà nước; là hình thức phản kháng bất bạo động, gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, luật pháp, thậm chí lật đổ chính quyền; bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. “Bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận. “Bất tuân dân sự” hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương “bất tuân dân sự”, hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay “châm ngòi” thành công. Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, “bất tuân dân sự” là bước khởi đầu của một cuộc “cách mạng mềm” nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp.

Ở Việt Nam, hoạt động “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời. Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự”, như “bất tuân cưỡng chế” khi giải phóng mặt bằng “bất tuân quy định” về thành lập hội, nhóm, tổ chức xã hội dân sự, “bất tuân để phản đối” như kích động tài xế phản đối trả phí BOT giao thông, từ chối đóng các loại quỹ phúc lợi xã hội, tẩy chay hàng hóa nước ngoài... “Bất tuân dân sự” được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động như Việt Tân, Voice… công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ thêm mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền; thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa “bất tuân dân sự” với “xã hội dân sự”, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để chỉ đạo, điều hành “bất tuân dân sự”. Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng “ngọn cờ”; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn.

Để đấu tranh làm thất bại “bất tuân dân sự”, cần tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật” cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động “bất tuân dân sự”. Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng “bất tuân dân sự” để chống phá Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường. Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài… Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng “bất tuân dân sự” trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo./.

 

 

NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

                                                                                         Hoằng Tháo

Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang diễn ra trong nội bộ một số cơ quan Đảng, Nhà nước hiện nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, muốn phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả chúng ta phải tập trung ngăn chặn đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị (TTCT). Để xây dựng các giải pháp ngăn chặn đẩy lùi tình trạng suy thoái về TTCT trong cán bộ, đảng viên có hiệu quả, cần tiếp tục nhận diện và làm rõ các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Sự suy thoái về TTCT trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay được biểu hiện ở những mức độ khác nhau:

          Thứ nhất, là sự thờ ơ về chính trị, bàng quan, vô cảm trước vận mệnh của Đảng và dân tộc. Những cán bộ, đảng viên này chỉ lo vun vén cho lợi ích cá nhân, né tránh trách nhiệm, không dám đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái; không chịu học tập nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bề ngoài vẫn nói về CNXH nhưng bên trong thì không tin; trước những khó khăn của đất nước thường dao động, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, luôn tỏ thái độ chê bai người khác, không thấy trách nhiệm của mình, cho mình “vô can” trước những yếu kém, của cơ quan tổ chức nơi mình công tác. Khi bị đối tượng xấu tác động thường không đủ sức “đề kháng”, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động chống lại Đảng, chế độ. Đây là biểu hiện suy thoái về TTCT biểu hiện ở mức độ thấp. Tuy nhiên, số cán bộ, đảng viên loại này lại chiếm số đông.

             Thứ hai, là một số cán bộ, đảng viên biến chất về chính trị, công khai phê phán bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, ca ngợi CNTB. Số cán bộ, đảng viên này thường lợi dụng các diễn đàn, các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học, các phương tiện truyền thông, internet, lợi dụng việc góp ý với Đảng, phản biện xã hội để bày tỏ quan điểm sai trái của mình. Đáng chú ý, những biểu hiện suy thoái này không chỉ ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đương chức mà còn diễn ra ở những cán bộ, đảng viên trước đây đã có quá trình đi theo Đảng, có cống hiến cho cách mạng nay đã nghỉ hưu nhưng do bất mãn cá nhân, thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thông tin nên ngộ nhận, phụ họa theo các quan điểm sai trái; có người viết hồi ký cho rằng trước đây bản thân mắc sai lầm trong thực hiện nhiệm vụ nay “sám hối”, “phản tỉnh”. Đây là loại rất nguy hiểm, vì họ là người có trình độ, có vị thế xã hội và quá trình cống hiến cho cách mạng nên tư tưởng, hành động của họ tác động rất lớn đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

          Thứ ba, là những cán bộ đảng viên biến chất về chính trị có các hoạt động móc nối với các thế lực thù địch, bọn phản động người Việt lưu vong để chống lại Đảng, dân tộc và chế độ XHCN ở nước ta. Số này ngoài việc công khai biểu hiện quan điểm chống lại Đảng, Nhà nước, còn viết bài, cung cấp tài liệu về tình hình trong nước để các thế lực thù địch chống Việt Nam. Một số đối tượng đã móc nối hoặc tham gia các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài.

             Sự suy thoái về TTCT trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan giữ vai trò quyết định. Trong chiến lược “DBHB” chống Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là một mũi tấn công trọng điểm mang tính đột phá, là “cây cầu dẫn vào trận địa” để “làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng XHCN” (*).Để thực hiện âm mưu thâm độc này, các thế lực thù địch đã tập trung phê phán, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những luận điệu mới: từ chỗ bóp méo, xuyên tạc, đến công kích, quy kết học thuyết này “sai lầm từ gốc rễ”, gán cho CNXH những tội ác độc tài, diệt chủng; khoét sâu vào những khoảng trống về lý luận xây dựng CNXH như các vấn đề “đấu tranh giai cấp”, “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”…

             Để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái TTCT, trước hết chúng ta cần tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, trên cơ sở đó xây dựng luận cứ khoa học vững chắc cho con đường đi lên CNXH ở nước ta và các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và tình hình chính trị thế giới đang đặt ra hàng loạt vấn đề phức tạp, bức xúc tác động đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đòi hỏi công tác lý luận phải làm rõ. Nếu làm tốt công tác lý luận sẽ tạo được thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động. Để làm được điều này, công tác lý luận cần tập trung vào những vấn đề sau đây: Tiếp tục khẳng định tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời cần làm rõ những vấn đề cần nhận thức lại, những vấn đề cần bổ sung, phát triển để vận dụng vào thực tiễn nước ta; Nghiên cứu sâu sắc, nghiêm túc bài học kinh nghiêm từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông âu, những vấn đề mới của thời đại để dự báo xu hướng phát triển của cách mạng thế giới và xây dựng luận cứ khoa học phục vụ chiến lược phát triển KT -XH của đất nước; Khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ trong công tác lý luận và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, coi thường lý luận; kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng chính trị phản động, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam; Coi trọng, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng để bồi đắp lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội...

           Các cấp ủy cần tập trung làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là lớp trẻ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở nước ta. Tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các trường chính trị, các trường đại học, cao đẳng và THCN; từng đối tượng phải có chương trình dạy lý luận chính trị cho phù hợp; khắc phục tư tưởng ngại học lý luận, học lướt, học cho qua và sự lạc hậu về chương trình, nội dung phương pháp dạy và học. Đẩy mạnh chương trình đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn khoa học Mác – Lê -nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ chế độ XHCN; xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ, thực sự trong sạch, vững mạnh. Mỗi tổ chức Đảng, từng đảng viên phải nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm. Công tác quy hoạch, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ phải khoa học, dân chủ, công tâm, đúng năng lực, sở trường cán bộ. Khắc phục tình trạng cục bộ địa phương, chủ quan, phiến diện và các biểu hiện “chạy chức”, “chạy quyền” trong công tác cán bộ. Trong công tác đào tạo cán bộ công chức phải coi trọng cả trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức và tinh thần phục vụ nhân dân. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng phải được tăng cường, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật Đảng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực TT -VH.

 

 ĐỂ CÓ THỂ TỰ MIỄN DỊCH TRƯỚC NGUY CƠ  “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

                                                                                       Trung Lập      

Khái niệm “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải bây giờ mới xuất hiện. Nó đã có từ lâu và là một nội dung trọng yếu trong hệ thống chiến lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm làm tan rã các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà không cần đến bom đạn. Chiến lược đó chúng gọi là “thủ đoạn hòa bình để giành thắng lợi”, là “cách mạng hòa bình”, là “chuyển hóa hòa bình”, là “biến đổi hòa bình”. Và, gần đây lại xuất hiện thêm một số khái niệm mới như: “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Song, dù được gọi bởi bất cứ cái tên gì thì nội hàm của các khái niệm đó vẫn không thay đổi. Đó là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa dưới hình thức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc hùng hồn tuyên bố “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội đã điểm”. Họ cho rằng Liên Xô hùng mạnh như thế, là nước đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa còn sụp đổ thì các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam… làm sao có thể tự trụ nổi. Nhưng họ đã nhầm to. Chỉ nói riêng về Việt Nam thôi thì Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn, chủ nghĩa xã hội vẫn còn, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo đã thành công rực rỡ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, lòng tin của nhân dân đối với Đảng Cộng sản ngày càng được củng cố vững chắc. Đảng luôn vì dân. Dân luôn tin Đảng. Trong nội bộ, người dân Việt Nam gọi Đảng Cộng sản là “Đảng chúng ta”; còn đối với nước ngoài thì gọi “Đảng chúng tôi”. Nói như vậy để có thể khẳng định rằng, sự tấn công của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam về cơ bản là thất bại. Song, từ đó nói rằng hệ tư tưởng tư sản chưa thâm nhập được vào Việt Nam; hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chưa hề sứt mẻ, chưa hề bị rạn nứt một tí nào là hoàn toàn chủ quan và không đúng với thực tế. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, trong hàng ngũ của chúng ta đã có một số người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa xã hội. Để tiện cho việc phân tích và phê phán, ta có thể tóm lược luận điệu của những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thành một số vấn đề cơ bản sau đây:

          - Một là, phủ định thành quả của cách mạng Việt Nam. Họ cho rằng chúng ta giành được thống nhất đất nước với một cái giá đắt (mấy chục năm chiến tranh liên miên, gần chục triệu người chết, lịch sử bị kéo dài hàng nửa thế kỷ). Họ còn cho rằng việc tiến hành chiến tranh để thống nhất đất nước chẳng qua chỉ là sự “hiếu thắng” của Đảng Cộng sản, không phù hợp với lòng dân và không phù hợp với thực tiễn khách quan. Nước Đức cũng thống nhất đất nước nhưng không hề đổ xương, máu, chỉ đổ mỗi bức tường ngăn cách Đông – Tây Béc-lin. Theo họ, người dân không cần biết mình đang sống trong chế độ nào, trong thể chế chính trị gì, miễn là đời sống vật chất và tinh thần của họ được bảo đảm và từng bước được nâng cao. Mèo trắng hay mèo đen đối với họ đều tốt, miễn là bắt được chuột.

          - Hai là, phân định học thuyết Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng nó đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn mới của thời đại mới. Để chứng minh cho luận điểm của mình là đúng, họ thường dẫn ra câu nói của Mác, Ăng-ghen là: “Học thuyết của chúng tôi không nhất thành bất biến”. Rồi họ bình luận chủ quan và cắt xén rằng các ông ấy nói như vậy có nghĩa là muốn học thuyết của mình phải luôn luôn được sửa đổi và nếu không phù hợp với tình hình mới thì phải hủy bỏ. Cuối cùng họ kết luận: Nếu Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh còn sống thì rất có thể các ông ấy sẽ phủ định học thuyết và tư tưởng của mình.

          - Ba là, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đòi đa nguyên, đa đảng. Họ cho rằng Đảng Cộng sản áp đặt sự lãnh đạo của mình đối với xã hội là phản dân chủ, đi ngược lại với tiến bộ xã hội. Rồi họ khẳng định: không có đảng đối lập, không có lực lượng đối trọng thì tất yếu Đảng Cộng sản sẽ rơi vào tình trạng quân phiệt, mất dân chủ. Họ còn rêu rao: Đảng Cộng sản lúc nào cũng nói rằng mình là thành viên của hệ thống chính trị (HTCT), không đứng trên HTCT, không đứng ngoài HTCT nhưng lại phải đảm nhận vai trò lãnh đạo HTCT. Nói như thế là hết sức mâu thuẫn, bởi vì cùng là thành viên thì phải bình đẳng với tất cả các thành viên khác của HTCT, hoạt động của Đảng trong HTCT phải dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, đồng thuận. Đã lãnh đạo thì phải có người bị lãnh đạo. Như thế thì còn gì là dân chủ? Trái lại, cái đích cuối cùng của họ là đòi đa nguyên, đa đảng.

          - Bốn là, đòi phi chính trị hóa nền kinh tế thị trường. Theo họ, kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu đời. Nó có những nguyên tắc, những quy chuẩn chung mà bất cứ quốc gia nào thực hiện cũng phải tuân theo. Kinh tế thị trường hoàn toàn không mang tính chính trị. Đã chấp nhận kinh tế thị trường lại gắn thêm cho nó cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tự cô lập mình, là tự tách mình ra khỏi “sân chơi chung”. Cuối cùng, họ đề nghị chỉ cần nói “phát triển nền kinh tế thị trường” là đủ, bỏ ngay cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

          - Năm là, gần đây rộ lên một số ý kiến đòi phải “sửa lỗi hệ thống”. Những ý kiến này cho rằng cách mạng Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới vì thế phải đổi mới toàn diện, triệt để cả về kinh tế và chính trị ở mức độ cao hơn, tức là phải “sửa lỗi hệ thống”. Theo họ “lỗi hệ thống là lỗi xuất phát từ gốc của hệ thống, phải sửa từ gốc của hệ thống, chứ không thể chỉ sửa cành, ngọn, ngang tắt của hệ thống”. Nói toạc ra là những ý kiến này khẳng định chúng ta đã sai từ gốc, từ bản chất, từ cơ cấu, từ hệ tư tưởng,… vì thế phải sửa ngay.

Không thể xem thường những biểu hiện của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nêu trên, bởi vì quy mô của nó không nhỏ, diễn biến của nó khá phức tạp và tầm ảnh hưởng, lây lan của nó khá rộng. Muốn phòng, chống nó một cách triệt để phải có phương thuốc đặc trị. Phương thuốc đặc trị ở đây chính là tính khoa học, tính đúng đắn của học thuyết Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng ta. Khi đã am hiểu đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc những nguyên lý Mác-xít Lê-nin-nít, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng thì mỗi cán bộ, đảng viên sẽ có khả năng miễn dịch trước nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”./.

 NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI NGUY CƠ”TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ”

ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG TA THỰC SỰ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH

          Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” (DBHB) chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “nội công, ngoại kích”, trong đánh ra, ngoài đánh vào, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi Đảng ta đang tiến hành các bước triển khai thực hiện xây dựng chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XII) thì các thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” càng được chúng thực hiện ráo riết hơn. Như chúng ta đã biết: “DBHB” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không tách rời; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thủ đoạn và cũng là mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch đang tiến hành đối với cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề có ý nghĩa quyết định để làm thất bại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra, là những biểu hiện cụ thể của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong nội bộ của Đảng. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, không những đã tập trung phân tích làm rõ nguyên nhân của tình trạng đó, mà còn xác định mục tiêu, phương châm, giải pháp để khắc phục. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ những biểu hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, thể hiện ở chỗ: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN; dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức sai, quan điểm lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng... Để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh (QP-AN) và đối ngoại.
          Trước hết, trên lĩnh vực chính trị-tư tưởng: việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng. Cần kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước XHCN; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập. Phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động phá hoại, không để các thế lực thù địch tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình trong xã hội đối với các cơ quan công quyền. Triển khai có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc trong một bộ phận cán bộ, đảng viên...

Hai là, về lĩnh vực kinh tế: cần tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tăng cường xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững; có khả năng cạnh tranh cao để chủ động hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế; có khả năng đứng vững, vượt qua được những biến động bất thường, khủng hoảng của nền kinh tế thế giới. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa, thực hiện công bằng xã hội và tăng cường QP-AN. Cần tiếp tục đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt là bảo vệ đường lối phát triển kinh tế-xã hội của Đảng. Kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong lĩnh vực này, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa cá nhân” chi phối.

Ba là, về văn hóa - xã hội: cần quyết tâm bảo vệ đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội của Đảng, chủ trương và chính sách văn hóa - xã hội của Nhà nước; bảo vệ, xây dựng và phát triển hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức XHCN Việt Nam, tinh hoa truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc. Chống lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây. Bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách đổi mới giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước; chống lợi dụng giao lưu về giáo dục - đào tạo để chuyển hóa tư tưởng, ý thức của một số trí thức, sinh viên, học sinh, thế hệ trẻ mang văn hoá đồi truỵ, độc hại vào Việt Nam. Chống lợi dụng mở cửa để thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp theo mô hình xã hội phương Tây. Giải quyết đúng đắn, kịp thời những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận giữa các tầng lớp xã hội, các vùng, miền. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 8 (khoá XII) vừa qua. Thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công với nước, chính sách dân tộc, tôn giáo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng chiến lược, các địa bàn trọng yếu. Mở rộng dân chủ trong xã hội để tạo sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc, tôn giáo; chống chia rẽ, ly khai. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội, cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời trên cơ sở pháp luật, hài hòa với truyền thống, đạo lý dân tộc.
          Bốn là, về vấn đề QP-AN và đối ngoại: cần tập trung bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách QP-AN của Đảng và Nhà nước; xây dựng lực lượng, tiềm lực, thế trận QP-AN vững mạnh. Giữ vững bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Xây dựng Quân đội và Công an vừa là lực lượng chính trị, vừa là lực lượng quân sự, an ninh tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Bảo vệ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân với Quân đội và Công an. Chống “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an; chống chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chống địch cài cắm. Bảo vệ đường lối, chủ trương chiến lược, chính sách đối ngoại QP-AN của Đảng và Nhà nước; phát triển các quan hệ đối ngoại song phương và đa phương phù hợp với lợi ích của đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng và khu vực, với các tổ chức quốc tế; tăng cường ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giải quyết đúng đắn mối quan hệ đối ngoại và đối nội, không để nước ngoài tạo cớ can thiệp. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Giải quyết đúng đắn, xử lý mềm dẻo những bất đồng, tranh chấp với các nước láng giềng, trong khu vực và quốc tế, kịp thời xử trí các tình huống không để nước ngoài tạo cớ can thiệp; đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ quan ngoại giao nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Để chống lại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động cần giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc là cơ sở để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài. Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu hóa, nếu nội bộ Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị vững mạnh. Theo đó, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Hệ thống chính trị, nhất là Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ phải được thường xuyên chăm lo xây dựng thực sự vững mạnh. Cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí phải được tăng cường, kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.


Thứ Ba, 17 tháng 9, 2024

 

Không thể xuyên tạc vai trò lãnh đạo

của Đảng đối với Nhà nước và xã hội

MT

Mới đây, Nguyên Anh đã đăng tải bài viết “Hành trang dân chủ” trên trang Quyenduocbiet.com, nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đặc biệt xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trọng điểm, được các thế lực thù địch tiến hành ráo riết, quyết liệt trong thời gian qua..

Những kẻ phản động với dã tâm quyết chống phá đến cùng đối với Đảng, Nhà nước ta, Nguyên Anh đã cố tình “lảng tránh” sự thật lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam; xuyên tạc một đảng duy nhất cầm quyền đồng nhất với “toàn trị”, “mất dân chủ”, “độc tôn và độc tài” để cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng, phủ nhận thực tế dân chủ trong Đảng và cơ chế phát huy sức mạnh dân chủ toàn xã hội của Đảng; vu khống, đặt điều cho rằng, Đảng ta “đứng trên cả hiến pháp và pháp luật”, “dùng pháp luật để cai trị người dân và phục vụ cho ý đồ chính trị của mình”

Trước tiên, cần khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội với vai trò, vị trí là một đảng duy nhất cầm quyền, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình. Là đảng duy nhất cầm quyền, nhưng Đảng không cho phép bất cứ ai đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, mọi tổ chức đảng và đảng viên luôn phải hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Mọi đảng viên vi phạm pháp luật đều bị đưa ra xét xử nghiêm minh, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” thời gian qua càng cho thấy Đảng ta luôn đặt mình trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Vì thế, không thể có chuyện Đảng ta “đứng trên cả hiến pháp và pháp luật” như lời Nguyên Anh đã xuyên tạc, “gắp lửa bỏ tay người”.

Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở đường lối nhất quán về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân; thực hiện dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Cùng với nguyên tắc Đảng lãnh đạo, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản khác, như tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là những luận chứng bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc của Nguyên Anh cho rằng, “các cơ quan, chức danh (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) được đặt ra chỉ để mị dân,… chỉ là ba con rối do Đảng giật dây chỉ đạo”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội được khẳng định ở sự tiêu biểu về trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng. Trí tuệ và năng lực lãnh đạo đó thể hiện ở việc hoạch định đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng suốt, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Phương pháp lãnh đạo dân chủ được Đảng đề cao, từ phát huy dân chủ trong Đảng đến mở rộng dân chủ xã hội. Bất luận trong mọi tình thế, Đảng luôn bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, tiếp thu ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân để hoàn thiện đường lối và phương pháp lãnh đạo của mình. Là đảng duy nhất cầm quyền, nhưng Đảng luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến phản biện của nhân dân, không định kiến với ý kiến khác khi đóng góp mang tính xây dựng, có trách nhiệm, vì lợi ích quốc gia – dân tộc, chứ không rơi vào tình trạng “mất dân chủ”, “độc tôn và độc tài” như Nguyên Anh đã trắng trợn xuyên tạc, đơm đặt. Điều này thể hiện rõ khi xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách lớn, nhất là mỗi dịp chuẩn bị Đại hội Đảng thì việc thảo luận, góp ý xây dựng văn kiện Đảng luôn trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, các ý kiến góp ý được tổng hợp, chắt lọc, tiếp thu tối đa, làm cho nghị quyết của Đảng thật sự là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, phát huy cao độ vai trò nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, tạo ra “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” là những bằng chứng xác thực bác bỏ mọi luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội./.

 

 

PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA

ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Công Bằng 

Mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cần được giải quyết hài hòa, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn của đất nước. Việc xử lý mối quan hệ này không thể đơn giản mà phải có sự thấu đáo và khoa học trên các phương diện sau:

Trên phương diện kinh tế, trước hết, muốn độc lập, tự chủ, quốc gia phải có thực lực, cụ thể là có một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đó là nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an toàn cần thiết; nền kinh tế phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ cấu xuất nhập khẩu cân đối; cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong phú với tỷ lệ các mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế; cơ cấu thị trường quốc tế đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục tiêu. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài, mặc dù là cần thiết và quan trọng nhưng không để chiếm lĩnh vai trò chi phối nền kinh tế quốc gia cũng như không thể được phép vào những ngành nhạy cảm có thể gây tổn hại đến quốc phòng, an ninh của đất nước. Một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể được hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình hình quốc tế và ít bị tổn thương trước những biến động đó; trong bất cứ tình huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động bình thường của xã hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu an ninh, quốc phòng của đất nước. Xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ trước hết là độc lập, tự chủ về đường lối phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực và sản phẩm kinh tế chủ yếu có vai trò quan trọng hàng đầu, có hiệu quả như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, luyện kim, hóa dầu, than, khoáng sản, cơ khí chế tạo… Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, an toàn năng lượng, an toàn tài chính - tiền tệ, an toàn môi trường; bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững trong bất cứ tình huống nào, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, gặp rủi ro.

Trên phương diện xã hội, yêu cầu của một quốc gia độc lập, tự chủ hàm chứa năng lực thực hành thuần thục hai cách thức quản trị xã hội: chính thức (tức là bằng pháp luật và các quy định thành văn) và phi chính thức (bằng con đường tuyên truyền, vận động, giáo dục...). Sự phát triển sâu rộng của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đang tạo ra hàng loạt không gian quyền lực chung, có tính toàn cầu vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính phủ quốc gia. Để xử lý, vượt qua các thách thức, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã chủ động cải cách. Tuy nội dung và mô hình cải cách có khác nhau, nhưng nổi lên 3 nét chung sau đây trong xu thế cải cách chính phủ hiện đại. Một là, phi tập trung hoá quyền lực nhà nước, mạnh dạn phân cấp, trao quyền cho các cơ cấu địa phương. Đây không phải là quá trình từ bỏ quyền lực trung ương, mà là biện pháp để củng cố bản thân quyền lực ấy một cách hợp lý, hiệu quả hơn. Trung ương không thay địa phương trong quản lý xã hội ở phạm vi cụ thể, mà phải giám sát việc quản lý do chính quyền địa phương tiến hành. Nhờ quá trình phi tập trung hoá này, các quyết định trở nên gần gũi, sát hợp với thực tế hơn và động viên được đông hơn các tổ chức, cá nhân vào công việc quản lý xã hội. Hai là, phát huy đầy đủ vai trò của cơ chế thị trường trong phân bổ các nguồn lực phát triển xã hội; kết hợp tốt chức năng điều tiết của chính phủ với thị trường và xã hội. Ba là, phát huy rộng rãi dân chủ trong toàn xã hội, không chỉ thể hiện sự phát triển của nền dân chủ chính trị, mà còn phải bảo đảm mọi quyền lực là của nhân dân, dân chủ được thực thi trong nhân dân nhằm giúp chính phủ thực hiện sự quản lý hiện thực đối với các mặt của đời sống xã hội.

Trên phương diện chính trị, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, độc lập, tự chủ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Độc lập tự chủ về chính trị có nghĩa là tự mình xác định mục tiêu, con đường phát triển đất nước; tự mình hoạch định đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển; tự mình xác lập và duy trì thể chế chính trị, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài, kiên quyết giữ vững chủ quyền, lãnh thổ đất nước và trật tự, an toàn xã hội. Độc lập tự chủ về chính trị được thể hiện cả trong đối nội và đối ngoại, cả kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh... Logic của tiến trình đổi mới là đổi mới kinh tế phải được đồng bộ, hài hòa với đổi mới chính trị, cải cách hành chính, mở rộng dân chủ, cải cách lập pháp, tư pháp. Yêu cầu đổi mới toàn diện như vậy đặt ra đòi hỏi ngày càng cấp thiết đối với năng lực quản trị của Nhà nước và năng lực cầm quyền của Đảng tại tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Đổi mới chính trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế, tối ưu hoá hoạt động của hệ thống chính trị, phân bổ quyền lực chính trị hợp lý, kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả là cách tốt nhất đáp ứng các yêu cầu và thách thức đặt ra. Độc lập, tự chủ về đối ngoại là một vấn đề rất quan trọng. Độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế và đối ngoại thể hiện trước hết ở tư duy, nhận thức độc lập, sáng tạo, xuất phát từ lợi ích tối cao của đất nước - dân tộc, không giáo điều, rập khuôn, máy móc trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, trong xác định đối tác, đối tượng và tập hợp lực lượng quốc tế. Hệ thống các quan hệ đối ngoại rộng lớn hiện nay của Việt Nam là kết quả của một quá trình thực hiện các bước đột phá: từ phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hoá quan hệ với các nước lớn, cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực..., đến thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, là bạn với tất cả các nước, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế./.