PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Công Bằng
Mối
quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cần được giải quyết
hài hòa, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn của đất nước. Việc xử lý mối
quan hệ này không thể đơn giản mà phải có sự thấu đáo và khoa học trên các phương
diện sau:
Trên phương diện kinh tế, trước hết, muốn độc lập,
tự chủ, quốc gia phải có thực lực, cụ thể là có một nền kinh tế độc lập, tự
chủ. Đó là nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và đảm bảo độ an toàn
cần thiết; nền kinh tế phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ
cấu xuất nhập khẩu cân đối; cơ cấu mặt hàng đa dạng, phong phú với tỷ lệ các
mặt hàng công nghệ và có giá trị gia tăng lớn chiếm ưu thế; cơ cấu thị trường
quốc tế đối tác cũng đa dạng và tránh chỉ tập trung quá nhiều vào một vài mục
tiêu. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài, mặc dù là cần thiết và quan trọng nhưng
không để chiếm lĩnh vai trò chi phối nền kinh tế quốc gia cũng như không thể
được phép vào những ngành nhạy cảm có thể gây tổn hại đến quốc phòng, an ninh của
đất nước. Một nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá có thể
được hiểu là nền kinh tế có khả năng thích ứng cao với những biến động của tình
hình quốc tế và ít bị tổn thương trước những biến động đó; trong bất cứ tình
huống nào nó cũng có thể cho phép duy trì được các hoạt động bình thường của xã
hội và phục vụ đắc lực cho các mục tiêu an ninh, quốc phòng của đất
nước. Xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ trước hết là độc lập, tự chủ về
đường lối phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, cơ sở
vật chất - kỹ thuật đủ mạnh; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả và sức cạnh
tranh. Phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực và sản phẩm kinh tế chủ yếu có
vai trò quan trọng hàng đầu, có hiệu quả như công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu mới, luyện kim, hóa dầu, than, khoáng sản, cơ khí
chế tạo… Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, an toàn năng lượng, an toàn tài
chính - tiền tệ, an toàn môi trường; bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh,
hiệu quả, bền vững trong bất cứ tình huống nào, lúc thuận lợi cũng như lúc khó
khăn, gặp rủi ro.
Trên phương diện xã hội, yêu cầu của một quốc gia
độc lập, tự chủ hàm chứa năng lực thực hành thuần thục hai cách thức quản trị
xã hội: chính thức (tức là bằng pháp luật và các quy định thành văn) và phi
chính thức (bằng con đường tuyên truyền, vận động, giáo dục...). Sự phát
triển sâu rộng của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đang tạo
ra hàng loạt không gian quyền lực chung, có tính toàn cầu vượt ra ngoài tầm
kiểm soát của chính phủ quốc gia. Để xử lý, vượt qua các thách thức, chính phủ
nhiều nước trên thế giới đã chủ động cải cách. Tuy nội dung và mô hình cải cách
có khác nhau, nhưng nổi lên 3 nét chung sau đây trong xu thế cải cách chính phủ
hiện đại. Một là, phi tập trung hoá quyền lực nhà nước, mạnh dạn phân cấp, trao
quyền cho các cơ cấu địa phương. Đây không phải là quá trình từ bỏ quyền lực
trung ương, mà là biện pháp để củng cố bản thân quyền lực ấy một cách hợp lý,
hiệu quả hơn. Trung ương không thay địa phương trong quản lý xã hội ở phạm vi
cụ thể, mà phải giám sát việc quản lý do chính quyền địa phương tiến hành. Nhờ
quá trình phi tập trung hoá này, các quyết định trở nên gần gũi, sát hợp với
thực tế hơn và động viên được đông hơn các tổ chức, cá nhân vào công việc quản
lý xã hội. Hai là, phát huy đầy đủ vai trò của cơ chế thị trường trong phân bổ
các nguồn lực phát triển xã hội; kết hợp tốt chức năng điều tiết của chính phủ
với thị trường và xã hội. Ba là, phát huy rộng rãi dân chủ trong toàn xã hội,
không chỉ thể hiện sự phát triển của nền dân chủ chính trị, mà còn phải bảo đảm
mọi quyền lực là của nhân dân, dân chủ được thực thi trong nhân dân nhằm giúp
chính phủ thực hiện sự quản lý hiện thực đối với các mặt của đời sống xã hội.
Trên phương diện chính trị, quốc
phòng, an ninh và đối ngoại, độc lập, tự chủ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong quá
trình hội nhập quốc tế của nước ta. Độc lập tự chủ về chính trị có nghĩa là tự
mình xác định mục tiêu, con đường phát triển đất nước; tự mình hoạch định đường
lối, chủ trương, chiến lược phát triển; tự mình xác lập và duy trì thể chế
chính trị, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài, kiên quyết giữ
vững chủ quyền, lãnh thổ đất nước và trật tự, an toàn xã hội. Độc lập tự chủ về
chính trị được thể hiện cả trong đối nội và đối ngoại, cả kinh tế, văn hoá, xã
hội và quốc phòng, an ninh... Logic của tiến trình đổi mới là đổi mới kinh tế
phải được đồng bộ, hài hòa với đổi mới chính trị, cải cách hành chính, mở rộng
dân chủ, cải cách lập pháp, tư pháp. Yêu cầu đổi mới toàn diện như vậy đặt ra
đòi hỏi ngày càng cấp thiết đối với năng lực quản trị của Nhà nước và năng lực
cầm quyền của Đảng tại tất cả các cấp, các ngành, các địa phương. Đổi mới chính
trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế, tối ưu hoá hoạt động của hệ thống chính trị,
phân bổ quyền lực chính trị hợp lý, kiểm soát quyền lực một cách hiệu quả là
cách tốt nhất đáp ứng các yêu cầu và thách thức đặt ra. Độc lập, tự chủ về
đối ngoại là một vấn đề rất quan trọng. Độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế
và đối ngoại thể hiện trước hết ở tư duy, nhận thức độc lập, sáng tạo, xuất
phát từ lợi ích tối cao của đất nước - dân tộc, không giáo điều, rập khuôn, máy
móc trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, trong xác
định đối tác, đối tượng và tập hợp lực lượng quốc tế. Hệ thống các quan hệ đối
ngoại rộng lớn hiện nay của Việt Nam là kết quả của một quá trình thực hiện các
bước đột phá: từ phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hoá quan hệ với các nước
lớn, cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực..., đến thực hiện chính sách
đối ngoại rộng mở, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, là bạn với tất cả các nước,
tích cực, chủ động hội nhập quốc tế./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét