NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO NẮM VÀ CHỚP THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Hoa Súng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với nghệ thuật nắm và chớp thời cơ chiến lược
“ngàn năm có một”, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa “long
trời, lở đất” giành chính quyền trong cả nước. Việc dự báo, nhận định đúng thời
cơ, nghệ thuật chớp thời cơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng là vô
cùng quan trọng, yếu tố quyết định đến sự thành công của Cách mạng Tháng Tám
năm 1945.
Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã cảnh báo:
Tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới... Đúng như dự
đoán, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngay sau khi xảy ra chiến tranh
thế giới thứ hai, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939), Hội nghị Trung ương
lần thứ 7 của Đảng (11/1940) đã phân tích tình hình trong và ngoài nước, các
mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trước mắt, quyết định điều chỉnh về đường lối và
phương pháp cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tập trung mũi nhọn
vào chống bọn đế quốc và tay sai. Với Bác, việc phân tích tình hình, lựa chọn
tình thế, nắm chắc thời cơ đã được thể hiện rõ ngay từ khi Bác còn nằm trong
nhà tù của Quốc dân Đảng. Trong bài thơ “Học đánh cờ”, Bác viết: “Phải nhìn cho
rộng suy cho kỹ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công/ Lạc nước hai xe đành bỏ
phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”.
Tháng 6/1940, được tin Pháp đầu hàng Đức, Nguyễn Ái
Quốc triệu tập một cuộc họp cơ quan của Đảng ở nước ngoài để phân tích tình hình
và chuẩn bị kế hoạch hành động. Người đã phân tích và dự báo: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận
lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời
cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Sau cuộc họp này, Nguyễn Ái
Quốc đã chỉ thị cho các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ
Nguyên Giáp tìm cách về nước. Cuối tháng 9/940, Người đã đưa ra một nhận định
cực kỳ quan trọng: “Đồng minh sẽ thắng.
Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc
lập”.
Ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí
Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba lên đường về nước. Đến ngày 08/02/1941, Người đã
đặt chân tới cột mốc 108 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, trở về nước sau
30 năm bôn ba, hoạt động ở nước ngoài.
Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì
Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 để phân tích tình hình thế giới đang bị
tác động sâu sắc bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hội nghị đã xác định
nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của các mạng Đông Dương,
không biết chớp thời cơ thì vạn năm cũng không đòi lại được. “Trong lúc này, nếu không giải quyết được
vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc
thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi
của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được”.
Để tập hợp, quy tụ các lực lượng, cá nhân yêu nước
trên toàn quốc, theo chủ trương của Hồ Chí Minh, ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt
Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh ra đời với Tuyên ngôn: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các
giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không
phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và
sinh tồn…”. Chương trình Việt Minh nêu rõ: “Liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các
dân tộc bị áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phát xít
Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam… lập chính phủ nhân dân của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Quốc dân Đại hội cử lên, lấy cờ đỏ, sao vàng năm
cánh làm quốc kỳ…”.
Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Hồ
Chí Minh, công tác xây dựng lực lượng cách mạng, phát động phong trào đánh
Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền đã diễn ra sôi nổi trong
toàn quốc. Phong trào xây dựng các đoàn thể cứu quốc, như Hội Nông dân cứu
quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc…
diễn ra sôi nổi từ cuối năm 1941 ở cả nông thôn và thành thị. Việc xây dựng các
căn cứ địa cũng được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp
của Người, khu căn cứ địa Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang,
Thái Nguyên đã phát triển mạnh mẽ và trở thành khu giải phóng Việt Bắc. Hồ Chí
Minh cũng chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân vào ngày 22/12/1944. Đến giữa năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng, lực lượng cách mạng trên toàn quốc đã phát triển
vượt bậc, sẵn sàng cho thời cơ đến.
Tình hình chiến sự đã diễn ra đúng như dự đoán. 21 giờ
30 phút ngày 09/3/1945, Nhật đồng loạt tấn công Pháp trên toàn Đông Dương. Ngày
10-3, quân Pháp đầu hàng Nhật. Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng mở rộng đã họp ở Đình Bảng. Hội nghị đã đưa ra Chỉ
thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản Chỉ thị nêu rõ:
“Ngay bây giờ phát động chiến tranh du kích, chiếm căn cứ, duy trì và mở rộng
chiến tranh du kích phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò
chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật bản ra khỏi nước, chuẩn bị
hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực”.
Tháng 5/1945, sau khi phát xít Ý, Đức bị đánh bại ở
châu Âu, ngày 09/8/1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. 12
giờ ngày 15/8/1945, Nhật hoàng chấp nhận bản Tuyên bố chung của các cường quốc
– đầu hàng Đồng minh. Quân đội Nhật đang đóng ở Việt Nam hoang mang, rệu rã;
Chính phủ thân Nhật bị lung lay cực điểm.
Ngày 13/8/1945, Kỳ bộ Việt Minh Bắc kỳ đã ra thông báo
khẩn: “Thời kỳ tiền khởi nghĩa đã hết,
chúng ta đứng trong tình thế trực tiếp khởi nghĩa”. Hồ Chí Minh nhận rõ
thời cơ tổng khởi nghĩa đã chính thức xuất hiện và thời cơ này chỉ tồn tại
trong khoảng hai mươi ngày, từ ngày 15-8. Người khẩn trương chỉ đạo Hội
nghị đại biểu toàn quốc của Đảng, Hội nghị khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”, cách
mạng Việt Nam lúc này đang trong “tình thế vô cùng khẩn cấp”. Đại hội quốc
dân (ngày 16 và 17/8) tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và
Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam - Chính phủ lâm thời sau khi cách mạng thắng
lợi.
Ngày 17/8/1945, trước đình Tân Trào, thay
mặt Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ:
“Chúng tôi là những người được quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban giải phóng dân
tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ
quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu
chống quân thù, giành độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối
cùng, quyết không lùi bước…”.
Ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu
gọi đồng bào cả nước: “Hỡi đồng bào yêu
quí! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến! Toàn quốc đồng bào hãy đứng
dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế
giới đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.
Tiến lên! Tiến lên! Dười lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”.
Đáp lời kêu gọi của Người và Trung ương
Đảng, chỉ trong vòng 15 ngày (từ ngày 14 đến ngày 28/8), toàn thể nhân dân Việt
Nam trên khắp mọi miền đất nước, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến
đồng bằng, hải đảo… đều nhất loạt đứng lên tổ chức khởi nghĩa, lập ra chính
quyền nhân dân. Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn đã khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ
của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát
xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét