Thứ Ba, 13 tháng 8, 2024

 TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG LÀ NHÀ LÃNH ĐẠO

KIỆT XUẤT CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Nhân Trần

        Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, được coi là vị anh hùng chống “giặc nội xâm” vĩ đại trong lịch sử Việt Nam và cả trong thế giới đương đại. Sinh thời, theo cảm nhận của người dân trong nước và bạn bè quốc tế, đồng chí là một người luôn giản dị, khiêm nhường, được nhân dân kính trọng và tin cậy.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lý luận xuất sắc của Đảng ta

        Nhìn lại di sản bao gồm nhiều nghiên cứu về lý luận mang tính bao trùm thể hiện thực tiễn phong phú, tư duy sắc bén và sự am hiểu sâu sắc của người đứng đầu Đảng ta, có thể khẳng định Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà một nhà lý luận xuất sắc của Đảng. Cống hiến lớn lao của Đồng chí trong công tác lý luận đó là việc xây dựng một hệ thống quan điểm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về đường lối “ngoại giao cây tre”, về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thời kỳ hội nhập quốc tế… Đồng chí đã quan tâm chỉ đạo tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản và cấp bách, từ đó đề ra những giải pháp, chiến sách lược phù hợp. Chỉ tính riêng trong quãng hơn 13 năm làm Tổng Bí thư, Đồng chí có nhiều bài nói, bài viết, nhiều tác phẩm về các vấn đề lý luận và thực tiễn trên các phương diện của đời sống xã hội. Đồng chí cũng đã trực tiếp tham gia vào việc soạn thảo nhiều văn kiện của Đảng, góp phần quan trọng vào việc định hướng đường lối phát triển bền vững đất nước trong thời kỳ mới. Trong số khoảng trên dưới 20 cuốn sách đã được xuất bản không thể không đề cập tới các cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”… Các tác phẩm của Đồng chí đã tác động lớn đến nhận thức chính trị tư tưởng trong Đảng và xã hội, giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức đúng đắn lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên cả phương diện khách quan và chủ quan, nhất là về xây dựng Đảng và triển khai tổ chức các nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ. Từ đó, củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vào đường lối, sự lãnh đạo của Đảng.

Một trong những ấn phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đó là cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Trong tác phẩm, bốn câu hỏi lớn được Tổng Bí thư đặt ra và tập trung lý giải đó là: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Bằng cách tiếp cận thực tế, với những luận giải của Tổng Bí thư đã góp phần định hình trên những nét cơ bản về mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời giúp cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu, vững tin vào con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đến nay, cuốn sách đã được xuất bản bằng bảy ngôn ngữ, giúp bạn bè quốc tế, bạn đọc trong và ngoài nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu thêm về đất nước, con người, văn hóa, sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam.

         Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người khởi xướng và truyền cảm hứng cho chiến dịch chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta

        Dấu ấn đặc biệt mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để lại trong thời kỳ đổi mới đất nước đó là chiến dịch chống tham nhũng, tiêu cực “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” mà Đồng chí gọi là chiến dịch “đốt lò”. Một chiến dịch mang quyết tâm lớn của cá nhân Đồng chí và của cả hệ thống chính trị mà Tổng Bí thư là người khởi xướng, truyền cảm hứng, khẳng định bản lĩnh và ý chí xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Trong thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục diễn ra kiên quyết, không ngừng, không nghỉ. Chỉ tính riêng trong năm 2023, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã theo dõi, chỉ đạo 68 vụ án, 45 vụ việc; các cơ quan chức năng khởi tố 12 vụ án với 45 bị can, khởi tố bổ sung 238 bị can trong 23 vụ án, kết luận điều tra và kết luận điều tra bổ sung 20 vụ án với 369 bị can,... Trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng, có hơn 90 cán bộ diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật, trong đó có 17 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 23 tướng lĩnh (tăng gần hai lần so nửa đầu nhiệm kỳ khóa XII); các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 1.304 vụ với 3.523 bị can về các tội tham nhũng (tăng hơn hai lần về số vụ án và hơn ba lần về số bị can so nửa đầu nhiệm kỳ của khóa trước). Tổng Bí thư từng nhấn mạnh: “Chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua. Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng. Nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm, làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới”.

        Không chỉ kiên trì, quyết liệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn khẳng định quan điểm nhất quán của Trung ương trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là phải làm một cách nhân văn, bài bản và thuyết phục. Hầu hết các đối tượng bị xử lý đều đã nhận thức rõ sai phạm của mình và tâm phục, khẩu phục, tỏ rõ sự ăn năn, hối lỗi. Nhiều cán bộ, đảng viên đã tự giác chấn chỉnh lại mình, tránh xa các hành vi vi phạm pháp luật. Sự quyết tâm, cách làm bài bản, thận trọng và nhất là hiệu quả của chiến dịch chống tham nhũng, tiêu cực đã tạo dựng được niềm tin lớn trong Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh đó, chiến dịch chống tham nhũng, tiêu cực do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo đã thu hút sự chú ý và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Theo kết quả Khảo sát ngân sách mở toàn cầu năm 2021 (OBS 2021) được Tổ chức Hợp tác ngân sách quốc tế (IBP) công bố, chỉ số công khai, minh bạch ngân sách của Việt Nam tăng 9 bậc so với 2019, xếp hạng thứ 68 trên 120 quốc gia, vùng lãnh thổ. Nhiều tổ chức uy tín, chuyên gia và báo chí quốc tế như tờ Asia Times, Channel News Asia, The Star hay Nation Thailand đã ghi nhận và đánh giá tích cực, xem đây là những nỗ lực quan trọng nhất trong việc chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. Có thể thấy rất rõ rằng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người lãnh đạo mẫu mực trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lối sống rất đỗi giản dị, liêm khiết, suy nghĩ sâu sắc và sự tận hiến cho Đảng, cho đất nước của Đồng chí đã trở thành tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân noi theo. Đồng chí thường xuyên đi thực tế tại các địa phương để nắm bắt thực tiễn và hiểu rõ hơn về cuộc sống, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân. Tất cả những điều đó góp phần xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân vào Đảng vào người lãnh đạo cao nhất của đất nước từ đó xây dựng một Đảng trong sạch, vững mạnh, hết lòng phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

         Tóm lại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một nhân cách lớn, có tư duy khoa học biện chứng, trí tuệ mẫn tiệp, đầy bản lĩnh. Đồng chí luôn nói đi đôi với làm, lý luận uyên bác cộng với hoạt động thực tiễn phong phú, sống động và là một con người suốt đời vì nước, vì dân. Tất cả những phẩm chất trên đã tạo nên hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một người lãnh đạo có tầm ảnh hưởng nhất thời kỳ đổi mới ở Việt Nam. Do có nhiều công lao to lớn và đặc biệt xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế như: “Huân chương Vàng quốc gia” của Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, “Huân chương Hữu nghị” của Đảng và Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, “Giải thưởng Lênin” giải thưởng cao quý nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên bang Nga; “Huân chương José Marti” của Đảng, Nhà nước Cộng hoà Cuba và nhiều danh hiệu cao quý khác./.

                                      TRÒ “THỌC GẬY BÁNH XE” CỦA RFA

MT

Ngay sau khi của Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Quy định 144-QĐ/TƯ về “chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, nhằm đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn đối với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay, góp phần loại bỏ những vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tiễn nhưng chưa có quy định để điều chỉnh. Đặc biệt Quy định 144-QĐ/TƯ còn là tiêu chuẩn, thước đo, góp phần nâng cao hiệu quả công tác nhận xét, đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên; là cơ sở để cấp ủy đảng các cấp xem xét, đánh giá, lựa chọn cán bộ, đảng viên đưa vào quy hoạch, giới thiệu bầu cấp ủy khóa mới.

Thực hiện âm mưu chống phá công tác cán bộ, công tác nhân sự của Đảng ta, mới đây đài RFA đã đăng tải bài viết “Văn hóa từ chức và cán bộ lãnh đạo bị kỷ luật trong quan trường” trên mạng xã hội “Rfatiengviet”. Bài viết đã viện dẫn những lời lẽ của một số đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam hòng xuyên tạc, hạ thấp ý nghĩa của Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, từ đó hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ta đều biết, nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nêu trong Quy định số 144 – QĐ/TƯ được gói gọn trong năm điều, là: yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với Tổ quốc; bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Ðây là những phẩm chất cơ bản nhất, nếu thiếu một phẩm chất nào đó thì không thể làm cán bộ, làm “công bộc” của dân. Bởi: đạo đức cách mạng là một trong những giá trị cốt lõi của người cán bộ, đảng viên; là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị, vị thế, uy tín của người cán bộ, đảng viên trong xử lý các mối quan hệ xã hội và trong công việc. Bên cạnh yếu tố trí tuệ, tài năng, chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ, đảng viên làm việc có mục đích, luôn kiên định và giữ vững mục tiêu, lý tưởng, thấy rõ bổn phận và trách nhiệm, điều chỉnh hành vi ứng xử, trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ hãi, không lùi bước.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm bồi dưỡng giáo dục và rèn luyện đạo đức, tư cách cho cán bộ, đảng viên, xem đức - tài là hai mặt song hành, trong đó đức là gốc. Ðây là nhiệm vụ vừa lâu dài, vừa cấp bách để xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự là “công bộc” của dân, tránh xa mọi cám dỗ đời thường đang có nguy cơ làm xấu đi hình ảnh cán bộ ở các cấp. Đồng thời việc tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng là một quá trình theo suốt cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thiếu sự tu dưỡng thường xuyên thì cán bộ lãnh đạo dù ở cấp nào, có quá trình cống hiến nhiều hay ít đều đánh mất uy tín, không thể đáp ứng trọng trách được tổ chức giao phó.

Việc ban hành Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, là tiêu chuẩn, thước đo để tổ chức đảng có cơ chế xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, góp phần đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quy định 144-QĐ/TƯ đã hệ thống toàn diện phẩm chất của cán bộ, đảng viên được thực tiễn cách mạng khẳng định từ trước đây và phù hợp với giai đoạn mới. Bổ sung những nội dung mới, tiêu chí mới, như bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo và hội nhập. Qua đó cho thấy, đây là quy định rất cụ thể, nghiêm khắc. Một khi thiếu 1 trong 5 chuẩn mực đó thì không thể là cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cơ sở để từng cán bộ, đảng viên thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Như vậy, Quy định 144-QĐ/TƯ không đơn thuần là sự cập nhật quan điểm chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, mà còn là sự phát triển, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm của Đảng về công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Những luận điệu của RFA đưa ra là trò “thọc gậy bánh xe”, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta; thể hiện rõ sự chống phá cách mạng nước ta, cần phải vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, ĐẢ KÍCH, BÔI NHỌ

CỐ TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

THN

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần là một mất mát vô cùng to lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Trong khi nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài và nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới dành sự tôn kính, tiếc thương về sự ra đi của người đứng đầu Đảng ta thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.

Trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lại có những bài viết, hình ảnh, video phản cảm nhằm xuyên tạc, phủ nhận những cống hiến, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong số các tổ chức thường xuyên tung tin sai trái, xuyên tạc là tổ chức phản động, khủng bố Việt Tân. Tổ chức này đã đưa ra những lời lẽ lố bịch rằng “Đảng trưởng của một Đảng độc tài, dù có công cũng chỉ là có công với Đảng của họ, còn đối với đất nước chỉ có tội…”. Chúng còn vu cáo rằng “Triều đại của ông Trọng đã phơi bày tình trạng đấu đá nội bộ gay gắt, không quan tâm đến đời sống người dân”; đưa ra luận điệu lố bịch xuyên tạc Tổng Bí thư “là người cuồng tín chủ nghĩa Mác, Lênin”, “kìm kẹp sự phát triển của đất nước”…Trên một số trang mạng cá nhân của các đối tượng chống đối đã đưa ra những bình luận hùa theo, phủ nhận thành quả công cuộc phòng, chống tham nhũng dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư, nói rằng “công cuộc đốt lò thất bại hoàn toàn”, “còn lại điều gì từ công cuộc củi, lửa”, “cụ Tổng đi, lò lửa tắt, nhiều kẻ theo đóm ăn tàn”…

Bên cạnh đó, ngày 21/7/2024, Việt Tân còn tổ chức ra cái gọi là “Diễn đàn ước mơ canh tân” dưới dạng hội luận với chủ đề “Ông Nguyễn Phú Trọng qua đời, tình hình Việt Nam sẽ chuyển biến ra sao”? Hội luận dưới sự chủ trì của Lý Thái Hùng và khách mời là các đối tượng bất mãn, thù địch với Việt Nam như thành viên cái gọi là “Hội anh em dân chủ” Nguyễn Văn Đài. Họ còn xảo biện rằng “công cuộc đốt lò sẽ lụi tàn” khi “người đốt lò vĩ đại đã nằm xuống”, “tất cả chỉ còn công cốc”… Ngoài ra, đối tượng Lê Quốc Quân cũng đăng tải bài viết “Di sản Nguyễn Phú Trọng” với nội dung xuyên tạc, hạ bệ những thành tựu mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đạt được trong nhiều năm qua, nhất là công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những thành tựu trong lĩnh vực ngoại giao…

Thực tế cho thấy, trước sự mất mát của một nhà lãnh đạo được nhân dân quý trọng, một nhân cách lớn, sự tiếc thương về người bạn chí nghĩa, chí tình được lãnh đạo các nước, các tổ chức quốc tế đánh giá cao thì các thế lực thù địch, phản động càng thể hiện bộ mặt đớn hèn, đáng xấu hổ, phản văn hóa. Mục đích của các đối tượng nhằm bôi xấu, kích động chia rẽ trong nội bộ, gây nên sự phân tâm trong các tầng lớp nhân dân về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Từ đó, tạo ra sự lo lắng về vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phá hoại khối đoàn kết trong Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Những đóng góp to lớn của Tổng Bí thư, có thành quả công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực tế đã chứng minh trong công cuộc“đốt lò” do Tổng Bí thư khởi xướng và chỉ đạo với nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt” đã góp phần quan trọng làm cho Đảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Trong Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Chúng ta thành kính, tôn vinh và biết ơn sâu sắc công lao, cống hiến vô cùng to lớn của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Ghi nhận những công lao, cống hiến đặc biệt xuất sắc của đồng chí, Đảng, Nhà nước đã trân trọng trao tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý nhất; nhưng hơn hết, đồng chí mãi mãi thuộc về Tổ quốc và nhân dân… Vĩnh biệt đồng chí, nhà lãnh đạo kết tinh phẩm giá, nhân cách của Đảng, hiện thân của hòa bình, thống nhất và tiến bộ; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nguyện một lòng thực hiện ước nguyện của đồng chí, khắc cốt ghi tâm lời căn dặn “Nếu là người, hãy là người Cộng sản”, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và các thế hệ đi trước, trong đó có đồng chí đã lựa chọn”…Sự ra đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng để lại niềm tiếc thương sâu sắc trng chính khách, bạn bè quốc tế. Lãnh đạo các quốc gia, tổ chức quốc tế, các đảng chính trị trên thế giới đã gửi thư, điện, lời chia buồn với Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam.

Với những luận điệu xuyên tạc, phản cảm, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đưa ra đã phải nhận về sự phản đối, tẩy chay của cộng đồng mạng. Đối với nhiều người, mọi hành động bôi nhọ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không thể làm hoen ố hình ảnh người Cộng sản chân chính vừa mất mà qua đó cho thấy bộ mặt xấu xa, hành vi ti tiện của những kẻ xảo trá, luôn nhân danh “đấu tranh vì dân chủ, công bằng xã hội”./.

  

 TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP,

TỰ CHỦ, KHÔNG CHỌN BÊN CỦA VIỆT NAM

Nhân Trần

Trong thời kỳ mới, Việt Nam nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị khóa XIII, Về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục khẳng định: Thực hiện trường phái ngoại giao cây tre, “dĩ bất biến, ứng vạn biến; kiên định về nguyên tắc, mục tiêu chiến lược; linh hoạt về sách lược; tích cực, chủ động ngăn ngừa chiến tranh góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trên các diễn đàn, hội nghị quốc tế, Việt Nam luôn khẳng định quan điểm chọn chính nghĩa, lẽ phải, không chọn bên, chọn phe trong quan hệ quốc tế. Giữa độc lập và phụ thuộc, Việt Nam chọn độc lập; giữa thương lượng và đối đầu, Việt Nam chọn thương lượng; giữa đối thoại và xung đột, Việt Nam chọn đối thoại; giữa hoà bình và chiến tranh, Việt Nam chọn hoà bình; giữa hợp tác và cạnh tranh, Việt Nam chọn hợp tác, còn cạnh tranh phải lành mạnh, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhau. Đường lối, chính sách đó xuất phát từ:

Thứ nhất, trong lịch sử dân tộc ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc: “Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta luôn chú trọng bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của ngoại giao Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hoà hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa”[1]. Đồng thời, luôn nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quan hệ đối ngoại của mình. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cương vị là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đặt nền móng và trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt nền ngoại giao cách mạng ngày càng phát triển. Người đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, của mặt trận ngoại giao, Người chỉ rõ: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”[2]; “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”[3]; “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”[4]. Cùng với luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn; luôn “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”, “hóa giải tương khắc, kiến tạo tương đồng”, “thêm bạn, bớt thù” vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, dùng ngoại giao để đẩy lùi chiến tranh, xung đột; tự lực, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Hai là, đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là nhất quán, đúng đắn. Tiếp nối những thắng lợi của mặt trận ngoại giao trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là từ đổi mới đến nay, chính đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã trở thành mặt trận tiên phong trong phá thế bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ quốc tế, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc cũng như chính sách đối ngoại, chính sách quốc phòng của thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”[5]. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII), về Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đại hội XIII Đảng ta xác định rõ vị trí, vai trò “tiên phong” của đối ngoại trong “tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”[6]. Tiếp tục khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[7]. Đồng thời, nhấn mạnh quyết tâm: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”[8]. Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII, Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động, tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”[9].

Ba là, thành tựu hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới chứng minh quan điểm của Việt Nam là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không chọn bên, sau gần 40 năm đổi mới, đối ngoại đã thực sự là mũi nhọn tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó 3 nước quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện (Cuba, Lào, Campuchia); 7 nước quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia); 12 nước quan hệ đối tác chiến lược; 12 nước quan hệ đối tác toàn diện. Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển, bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được 72 quốc gia công nhận...

Đối với lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, đến nay, Việt Nam đã mở rộng và thiết lập quan hệ hợp tác với trên 100 quốc gia, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn. Việt Nam đã cử 33 cơ quan Tùy viên quốc phòng trực tiếp và kiêm nhiệm tại 41 nước và Liên hợp quốc; ký kết 426 văn bản hợp tác quốc phòng với các đối tác; có 52 quốc gia đặt cơ quan tùy viên quốc phòng, tùy viên quân sự tại Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Lào, Bộ Quốc phòng Campuchia đã phối hợp tổ chức thành công “Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia cấp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lần thứ nhất”, qua đó thúc đẩy hơn nữa tin cậy chính trị, quan hệ hợp tác giữa Quân đội ba nước nói chung, giữa lực lượng bảo vệ biên giới ba nước nói riêng; góp phần thúc đẩy giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân khu vực biên giới giữa ba nước, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển[10].

Rõ ràng, cả lịch sử và hiện tại, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, trong một thế giới luôn biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, trước sức ép chọn bên ngày càng gay gắt; đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và quan điểm nhất quán “chọn chính nghĩa, lẽ phải, không chọn bên, chọn phe”, ngoại giao Việt Nam đã trở thành lực lượng “tiên phong” kiến tạo và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là minh chứng khách quan, thuyết phục nhất khẳng định đường lối, chính sách đối ngoại của chúng ta là đúng đắn, sáng tạo; đồng thời là luận cứ đanh thép để đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch./.



[1] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb CTQGST, Hà Nội, tr.180-181.

[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 7, tr.445.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 7, tr.112.

[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 4, tr.147.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb CTQGST, Hà Nội, tr.119-120.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.162.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.49-50.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.156-157.

[9] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2023), Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII, Báo QĐND, ngày 09-10-2023, tr.2.

[10] Hoàng Xuân Chiến (2024), “Những trọng tâm hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng năm 2024, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Hà Nội, tháng 3-2024, tr.2.

 KIỀU BÀO TẠI MỸ TIN TƯỞNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH

LMH

Hiện nay, cộng đồng người gốc Việt tại Mỹ có hơn 2,2 triệu người, là cộng đồng người Việt ở nước ngoài đông nhất trên toàn thế giới. Mặc dù sinh sống và làm ăn xa Tổ quốc nhưng họ luôn hướng về quê hương, đất tổ. Nhân dịp đồng chí Tô Lâm được bầu giữ chức Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kiều bào Việt tại Mỹ tin tưởng rằng Tổng Bí thư Tô Lâm, với phong cách lãnh đạo mạnh mẽ, từ sự tin tưởng giao phó trọng trách của Đảng, đã và sẽ giành được sự tín nhiệm rộng rãi của người dân không chỉ ở trong nước và cả ở ngoài nước.

Trong các cuộc trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Washington, một số bà con kiều bào tại Mỹ đã bày tỏ tin tưởng đất nước Việt Nam sẽ tiếp tục ổn định và phát triển.

Ông Trần Đình Chín, một Việt kiều 85 tuổi, chia sẻ việc Chủ tịch nước Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư là quyết định đúng đắn, kịp thời, thể hiện Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự chuẩn bị, đề cao sự ổn định và tính kế thừa trong việc sắp xếp, bổ nhiệm các vị trí lãnh đạo cấp cao.

Ông nhắc lại Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là người đồng hành, sát cánh thực thi và triển khai các quyết định quan trọng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những năm gần đây. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng khẳng định quyết tâm “tăng tốc thực hiện các chỉ tiêu Đại hội Đảng XIII đề ra, để về đích sớm, là ưu tiên quan trọng." Theo ông, điều này đang rất cấp thiết trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị khu vực và thế giới biến động liên tục.

Ông Trần Đình Chín tin tưởng rằng Tổng Bí thư Tô Lâm, với phong cách lãnh đạo mạnh mẽ, từ sự tin tưởng giao phó trọng trách của Đảng, đã và sẽ giành được sự tín nhiệm rộng rãi của người dân.

Ông Trần Đình Chín nêu rõ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngay ngày đầu nhậm chức đã khẳng định lại quan điểm và thực hành “dân là gốc;" “nhân dân là chủ thể, trung tâm của công cuộc đổi mới."

Đây chính là chủ trương nhất quán của Đảng và tâm huyết bao năm qua của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Và đây cũng chính là động lực để toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đồng hành, ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, xây dựng đại đoàn kết dân tộc, kiện toàn bộ máy trong sạch hơn, hiệu quả hơn thông qua công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực và lãng phí.

Ông Trần Đình Chín cho rằng sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, khi tình hình nhiều nước trên thế giới lâm vào giai đoạn khó khăn, thậm chí khủng hoảng… là minh chứng rõ nét nhất cho sự kiên cường, ổn định và tiềm năng của Việt Nam.

Ông kỳ vọng thời gian tới, tất cả bộ máy chính trị và giới tri thức sẽ dồn hết tâm sức, trí tuệ để đưa ra các quyết sách tối ưu cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững và xây dựng tương lai thịnh vượng cho dân tộc.

Ông Trần Đình Chín tin tưởng rằng hơn 100 triệu dân Việt Nam trong và ngoài nước giờ đây rất tự hào khi Việt Nam đã có một chính sách đối ngoại hết sức thành công, vai trò, vị thế ngày càng được củng cố trên trường quốc tế và môi trường thương mại, đầu tư, phát triển khoa học-công nghệ thuận lợi hơn hết.

Ông Trần Đình Chín nhấn mạnh: "Chúng tôi hoàn tin tưởng rằng quan hệ với đối tác, bạn bè trên thế giới cũng như quan hệ Việt Nam-Mỹ nói riêng tới đây sẽ tiếp tục có nhiều tiến triển và gắn kết lợi ích. Doanh nghiệp và cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ luôn hướng về quê hương đất nước và mong muốn chung tay đóng góp những gì tốt nhất cho nước nhà."

Con trai ông Trần Đình Chín, doanh nhân người Mỹ gốc Việt Trần Đình Thành cũng đồng ý với những suy nghĩ của cha mình. Anh Trần Đình Thành nói thêm, từ khi là Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam, Đại tướng Tô Lâm đã nhiều lần sang công tác tại Mỹ, ông là người có đóng góp quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Mỹ trong những năm qua./.

 TRÒ “THỌC GẬY BÁNH XE” CỦA RFA

MT

Ngay sau khi của Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Quy định 144-QĐ/TƯ về “chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, nhằm đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn đối với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay, góp phần loại bỏ những vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tiễn nhưng chưa có quy định để điều chỉnh. Đặc biệt Quy định 144-QĐ/TƯ còn là tiêu chuẩn, thước đo, góp phần nâng cao hiệu quả công tác nhận xét, đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên; là cơ sở để cấp ủy đảng các cấp xem xét, đánh giá, lựa chọn cán bộ, đảng viên đưa vào quy hoạch, giới thiệu bầu cấp ủy khóa mới.

Thực hiện âm mưu chống phá công tác cán bộ, công tác nhân sự của Đảng ta, mới đây đài RFA đã đăng tải bài viết “Văn hóa từ chức và cán bộ lãnh đạo bị kỷ luật trong quan trường” trên mạng xã hội “Rfatiengviet”. Bài viết đã viện dẫn những lời lẽ của một số đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam hòng xuyên tạc, hạ thấp ý nghĩa của Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, từ đó hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.

Chúng ta đều biết, nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nêu trong Quy định số 144 – QĐ/TƯ được gói gọn trong năm điều, là: yêu nước, tôn trọng nhân dân, tuyệt đối trung thành với Ðảng, với Tổ quốc; bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời. Ðây là những phẩm chất cơ bản nhất, nếu thiếu một phẩm chất nào đó thì không thể làm cán bộ, làm “công bộc” của dân. Bởi: đạo đức cách mạng là một trong những giá trị cốt lõi của người cán bộ, đảng viên; là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị, vị thế, uy tín của người cán bộ, đảng viên trong xử lý các mối quan hệ xã hội và trong công việc. Bên cạnh yếu tố trí tuệ, tài năng, chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ, đảng viên làm việc có mục đích, luôn kiên định và giữ vững mục tiêu, lý tưởng, thấy rõ bổn phận và trách nhiệm, điều chỉnh hành vi ứng xử, trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ hãi, không lùi bước.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm bồi dưỡng giáo dục và rèn luyện đạo đức, tư cách cho cán bộ, đảng viên, xem đức - tài là hai mặt song hành, trong đó đức là gốc. Ðây là nhiệm vụ vừa lâu dài, vừa cấp bách để xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự là “công bộc” của dân, tránh xa mọi cám dỗ đời thường đang có nguy cơ làm xấu đi hình ảnh cán bộ ở các cấp. Đồng thời việc tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng là một quá trình theo suốt cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thiếu sự tu dưỡng thường xuyên thì cán bộ lãnh đạo dù ở cấp nào, có quá trình cống hiến nhiều hay ít đều đánh mất uy tín, không thể đáp ứng trọng trách được tổ chức giao phó.

Việc ban hành Quy định 144-QĐ/TƯ “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, là tiêu chuẩn, thước đo để tổ chức đảng có cơ chế xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, góp phần đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Ðảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quy định 144-QĐ/TƯ đã hệ thống toàn diện phẩm chất của cán bộ, đảng viên được thực tiễn cách mạng khẳng định từ trước đây và phù hợp với giai đoạn mới. Bổ sung những nội dung mới, tiêu chí mới, như bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo và hội nhập. Qua đó cho thấy, đây là quy định rất cụ thể, nghiêm khắc. Một khi thiếu 1 trong 5 chuẩn mực đó thì không thể là cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cơ sở để từng cán bộ, đảng viên thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Như vậy, Quy định 144-QĐ/TƯ không đơn thuần là sự cập nhật quan điểm chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, mà còn là sự phát triển, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm của Đảng về công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Những luận điệu của RFA đưa ra là trò “thọc gậy bánh xe”, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta; thể hiện rõ sự chống phá cách mạng nước ta, cần phải vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

 VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

 1. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh và chủ trương đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân tộc

Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị họp tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 - 19/5/1941. Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Mặt trận Việt Minh chính thức thành lập ngày 19/5/1941 thay cho Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8, ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Tuyên ngôn của Việt Minh giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chủ trương: “liên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn”1.

Chủ trương cứu nước, Mặt trận Việt Minh cũng khẳng định, “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập”2.

Với tinh thần coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp các cá nhân, đoàn thể thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp; cũng như sẵn sàng bắt tay với các dân tộc bị áp bức châu Á để thành lập mặt trận liên minh chống đế quốc phát xít. Mặt trận Việt Minh đã đề ra Chương trình cứu nước gồm 44 điểm bao gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, các tầng lớp nhân dân. Các chính sách này nhằm thực hiện hai mục tiêu: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; Làm cho dân Việt Nam sung sướng, tự do3.

Chương trình cứu nước của Mặt trận Việt Minh là sự cụ thể hóa tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những chính sách này vừa đảm bảo quyền lợi nhất định của những giai cấp cơ bản, vừa chiếu cố tới quyền lợi của các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội, trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chung của tất cả các thành viên tham gia phong trào giải phóng dân tộc nên đã đoàn kết tập hợp được mọi lực lượng có lợi cho cách mạng.

Nhờ có chủ trương, chính sách rõ ràng, đúng đắn, Mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi. Mặt trận Việt Minh thông qua hoạt động cách mạng của mình, giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và đoàn kết thống nhất toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông. Đây là sự sáng tạo tuyệt vời về xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Mặt trận Việt Minh góp phần xây dựng và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám

Với chủ trương, chính sách đúng đắn, từ cuối năm 1941, Mặt trận Việt Minh đã thu hút được ngày càng đông đảo các tầng lớp, giai cấp có tinh thần yêu nước và chống đế quốc thực dân vào các hội cứu quốc như: Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc... Các hội cứu quốc đều là thành viên của Mặt trận Việt Minh, được thành lập ở nhiều tỉnh ở miền Bắc, một số tỉnh miền Trung và các thành phố lớn, như: Hà Nội, Hải Phòng.

Mặt trận Việt Minh có cơ sở rộng rãi trong cả nước, trung tâm là Cao Bằng. Cuối năm 1941, tại Cao Bằng xuất hiện một số xã, tổng hoàn toàn tham gia Việt Minh. Đến năm 1942, Cao Bằng có 3 trên tổng số 9 châu hoàn toàn Việt Minh, xã nào cũng có Ủy ban Việt Minh. Bên cạnh Cao Bằng là trung tâm của phong trào cứu quốc cả nước, Mặt trận Việt Minh cũng được phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên,… Sang năm 1943, Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng lập ra 19 ban xung phong “Nam tiến” để liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai và phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi.

Từ thực tiễn phong trào Việt Minh trong hai năm (1941 - 1942) có những bước phát triển đáng kể và những biến đổi của tình hình thế giới, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp từ ngày 25 - 28/2/1943 ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên) để bàn về việc mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận Việt Minh, liên minh với các đảng phái, nhóm yêu nước cả trong và ngoài nước. Thực hiện chủ trương đó, năm 1943, Hội Văn hoá Cứu quốc - một thành viên của Mặt trận Việt Minh đã được thành lập. Tháng 6/1944, Đảng ta đã giúp những trí thức tiến bộ, yêu nước thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam, thu hút họ vào Mặt trận Việt Minh.

Trong hai năm (1943 - 1944), các đoàn thể của Mặt trận Việt Minh được thành lập và phát triển nhanh chóng ở khắp các tỉnh, thành phố, trong các nhà máy, trường học. Tại Hà Nội, tổ chức Việt Minh đã được phát triển mạnh trong các nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy sửa chữa ô tô AVIA, STAI, ở các trường trung học Bưởi, Gia Lâm, trường Kỹ nghệ thực hành,... Tại Sài Gòn, Gia Định và một số thành phố khác ở miền Nam, tổ chức Việt Minh đã được thành lập với nhiều tổ chức thành viên như công hội, thanh niên, phụ nữ,... Đặc biệt tại Việt Bắc, trên cơ sở các “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”, các căn cứ địa cách mạng đã được thành lập ở khắp các tỉnh.

Bước sang đầu năm 1944, tình hình nước ta và thế giới chuyển biến có lợi cho cách mạng. Cuộc chiến tranh chống phát xít bước vào giai đoạn kết thúc. Trước sự phát triển của Mặt trận Việt Minh và trước yêu cầu của cách mạng, các đội Cứu quốc quân được thành lập. Các đội Cứu quốc quân đã tích cực vận động quần chúng tham gia các hoạt động của Mặt trận, mở rộng căn cứ cách mạng, phát triển vũ trang tuyên truyền.

Đầu tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân “sắm vũ khí đuổi thù chung”. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi sục trong khu căn cứ. Để chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập và lập được chiến công ngay từ những trận đầu ra quân ở Phai Khắt, Nà Ngần.

Như vậy, Mặt trận Việt Minh ra đời với chủ trương đoàn kết tập hợp mọi lực lượng vào Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị lực lượng chính trị và vũ trang cho cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu độc lập dân tộc là trên hết, Mặt trận Việt Minh đã trở thành trung tâm tập hợp mọi tầng lớp ở mọi miền Tổ quốc hăng hái tham gia các tổ chức “cứu quốc”, chuẩn bị sẵn sàng để chuyển cách mạng Việt Nam sang thời kỳ cao trào, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

3. Phát động toàn dân nổi dậy kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ngày 9/3/1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp. Quân Pháp ở Đông Dương chống cự yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng. Phát xít Nhật độc chiếm Đông Dương, “trao trả độc lập” cho Bảo Đại và dựng lên Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Trước tình hình đó, ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị đã xác định: Đế quốc phát xít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương. Tại hội nghị, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Để tích cực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, các cơ sở Mặt trận Việt Minh được chú trọng mở rộng nhằm tranh thủ mọi lực lượng yêu nước, thực hiện chính sách đoàn kết, phân hoá hàng ngũ kẻ thù. Ngày 12/4/1945, Mặt trận Việt Minh đã ra lời kêu gọi Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị quan chức ái quốc Việt Nam và Mấy lời tâm huyết ngỏ cùng các vị huynh thứ ái quốc.

Cùng với việc củng cố, mở rộng Mặt trận, đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, Đảng và Mặt trận Việt Minh còn kịp thời đề ra khẩu hiệu đấu tranh đúng đắn, phù hợp: “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Chủ trương này đã đáp ứng đúng nguyện vọng bức thiết của nhân dân và qua phong trào này quần chúng nhân dân đã nhận rõ rằng muốn giành quyền sống cho mình phải đoàn kết dưới ngọn cờ của Việt Minh đấu tranh đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng. Khẩu hiệu này có ý nghĩa to lớn đã “thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền”4.

Với chính sách mở rộng và phát triển tổ chức Việt Minh, từ tháng 5/1945, trong phong trào thanh niên, sinh viên ở Nam Bộ đã ra đời tổ chức “Thanh niên Tiền phong”. Tổ chức này được thành lập từ Sài Gòn, sau đó lan rộng ra hầu khắp các tỉnh Nam Bộ. Tính chung ở Nam Bộ đến tháng 8/1945, tổ chức đã có trên 1 triệu đoàn viên, riêng ở thành phố Sài Gòn số đoàn viên có tới 20 vạn. Ở nhiều tỉnh trên khắp đất nước, tổ chức Việt Minh đã có cơ sở trong các công sở, các đội bảo an binh và chính các cơ sở này đã góp một phần không nhỏ vào việc giành chính quyền ở các cấp trong ngày tổng khởi nghĩa.

Chính sách đại đoàn kết dân tộc “kháng Nhật cứu nước” của Mặt trận Việt Minh đã thu hút ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và tác động mạnh mẽ góp phần dẫn tới sự phân hoá trong các tổ chức chính trị, đảng phái ở nước ta lúc bấy giờ. Nội các Trần Trọng Kim đã bị phân hoá trước thắng lợi của cao trào cách mạng. Trước sức mạnh của quần chúng nhân dân, một số thành viên của nội các này đã ngả theo cách mạng, trong đó có một số trí thức có tên tuổi.

Ngày 11/8/1945, Chính phủ Nhật chấp nhận đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ngày 16/8/1945, Mặt trận Việt Minh tổ chức Đại hội Quốc dân Tân Trào đã quyết định tổng khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân toàn quốc đứng lên giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra nhanh chóng, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, chính quyền thống trị của đế quốc gần 100 năm và chế độ quân chủ tồn tại nghìn năm ở nước ta về cơ bản bị sụp đổ hoàn toàn.

4. Nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Đây là thắng lợi của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh với những chủ trương, chính sách mềm dẻo, đúng đắn. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp, phát động được đông đảo quần chúng từ nông thôn đến thành thị, từ chiến khu về đồng bằng đồng lòng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Chính khí thế khởi nghĩa cùng tinh thần đoàn kết dân tộc đã góp phần thu phục được một bộ phận không nhỏ những người làm việc cho bộ máy đế quốc thực dân ngả theo cách mạng như một số lý trưởng, chánh tổng, tri phủ, tri huyện, một số binh lính bảo an, công chức, cảnh sát… Ở khắp các địa phương trên cả nước, những lực lượng này đã chủ động liên hệ với Việt Minh, ủng hộ cách mạng, kể cả một số người đứng đầu những tôn giáo, đảng phái như Cao Đài, Hòa Hảo ở Long Xuyên, Sa Đéc. Ở Ninh Bình có nơi đội bảo an của địch đã được thu phục thành đội tự vệ của ta. Thực tế đó càng khẳng định chính sách đại đoàn kết dân tộc mà Đảng và Mặt trận Việt Minh đề ra và thực hiện là đúng đắn, đã huy động được sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên cả nước khi điều kiện đã chín muồi.

Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi oanh liệt và nhanh chóng do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu do có chính sách đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập và lãnh đạo. Mặt trận Việt Minh được thành lập từ năm 1941 đã giương cao ngọn cờ dân tộc, xác định đúng kẻ thù, có những chủ trương, chính sách đúng đắn, những khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng yêu cầu cách mạng, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi bức thiết của mọi tầng lớp nhân dân, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ, trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh toàn dân, là động lực cơ bản của Cách mạng Tháng Tám. Thành công của Mặt trận Việt Minh không chỉ tạo dấu ấn lịch sử trong thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, mà còn để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác xây dựng Mặt trận, tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc trong các giai đoạn cách mạng sau này./.