VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG THẮNG LỢI CỦA
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Mặt Trời
Cách mạng thuộc địa có thể thắng
lợi trước
Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”
(1927), Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Cách mệnh thuộc địa không những không phụ
thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”. Để cách
mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi, tiếp thu sáng tạo kinh nghiệm của Cách
mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã chỉ rõ: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta
rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có
đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải
theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Người cũng nói rõ thêm, Đảng cách mạng sẽ
có nhiệm vụ “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức, vô sản giai cấp ở mọi nơi”.
Nhận định và nắm bắt thời cơ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn
mạnh: “Làm cách mạng phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào
mọi nơi, mọi chốn mới chiến thắng”. Vì việc nhận định đúng thời cơ và nắm bắt
thời cơ để giành độc lập dân tộc là vô cùng quan trọng. Ngày 22/6 năm 1940,
Pháp mất nước vào tay phát xít Đức. Nắm được tin này, tại Côn Minh (Trung
Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng Cộng
sản Đông Dương. Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận
lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời
cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.
Chuẩn bị cho việc giành độc lập
Năm 1941, sau khi về nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa dựa trên cơ sở lực lượng chính
trị được tổ chức và phát triển. Tiếp đó, thực hiện chỉ thị của Người, ngày 04
tháng 6 năm 1945, khu giải phóng Việt Bắc được thành lập bao gồm hai căn cứ lớn
trên địa bàn 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái
Nguyên và một số vùng thuộc ngoại vi tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên
Bái. Tân Trào được chọn là Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Với một triệu
người gồm nhiều dân tộc khác nhau, khu giải phóng đã thực sự là “hình ảnh nước
Việt Nam mới”, cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu
phương và bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm
1945.
Việt Minh hợp tác với phe Đồng minh
chống phát xít
Tháng 10 năm 1944, trong Thư gửi
đồng bào toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị
tiêu diệt. Các Ðồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho
dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp.
Ta phải làm nhanh”. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945), tuy
thời cơ đã xuất hiện, song Đảng vẫn chưa quyết định phát lệnh Tổng khởi nghĩa,
bởi do cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh, các tầng lớp đứng giữa chưa ngả hẳn về
cách mạng, đội tiên phong còn đang lúng túng về chuẩn bị khởi nghĩa. Trong Chỉ
thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12 tháng 3 năm 1945
của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, có một đoạn đề cập như sau: “Dù sao ta không
thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc
tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi
tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách
mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940
và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ
bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”. Trong Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người khẳng định:
“Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc
bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công
nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của
Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát
xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc
lập!”.
Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh
Ngay trong đêm 13 tháng 8 năm 1945,
nắm chắc quân đội Nhật sẽ đầu hàng Đồng minh vì Liên Xô đã tham gia tấn công
Nhật, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Về nhiệm vụ của Quân giải phóng Việt
Nam, Quân lệnh số 1 (ngày 13 tháng 8 năm 1945) ghi rõ: “Dưới mệnh lệnh của Uỷ
ban Khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và
trong trận của quân địch; đánh chẹn các đường rút lui của chúng, tước võ khí
của chúng! Đạp qua muôn trùng trở lực các bạn hãy kiên quyết tiến!”. Quân lệnh
số 1 còn kêu gọi nhân dân toàn quốc: “Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa,
đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo Quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông
ra mặt trận đánh đuổi quân thù”.
Tiếp đó, ngày 16 và 17 tháng 8 năm
1945 (khi Nhật Bản đã đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15 tháng 8 năm 1945), Quốc
dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng.
Trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa (ngày 18 tháng 8 năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã
đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều
dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập.
Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào
hãy dũng cảm tiến lên!”. Điều này là do Người đã học tập sâu sắc lời dạy của
V.I.Lênin: “Lịch sử sẽ không tha thứ cho những người cách mạng hôm nay có thể
chiến thắng (và nhất định sẽ thắng lợi hôm nay) mà lại để chậm trễ, vì nếu đợi
đến ngày mai thì không khéo sẽ mất nhiều, không khéo lại bị mất tất cả... Lịch
sử tất cả các cuộc cách mạng đã chứng minh điều đó. Và những người cách mạng sẽ
phạm một tội ác vô cùng lớn, nếu họ bỏ lỡ mất thời cơ”.
Trong Tuyên ngôn Độc lập (ngày 2
tháng 9 năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát diễn biến Cách mạng Tháng
Tám: “Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính
quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo
Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây
dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế
kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà”. Về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đó là thắng lợi của đường lối
giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp
chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của
đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị
của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo
thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước”. Giáo sư
William J.Duiker, nhà sử học nổi tiếng của Mỹ, thì bổ sung thêm với nhận định:
“Chỉ riêng các điều kiện khách quan thì không làm nên một cuộc cách mạng, và ở
đây công lao thuộc về những người Cộng sản. Họ đã có thể chớp lấy thời cơ được
mở ra vô cùng thuận lợi vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh... Chỉ có Đảng Cộng
sản Đông Dương sở hữu ý thức về sự kịp thời và thấu hiểu được sự tinh tế có
tính chiến lược của hoàn cảnh để vùng lên đúng lúc”./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét