TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP,
TỰ CHỦ, KHÔNG CHỌN BÊN CỦA VIỆT NAM
Nhân Trần
Trong thời kỳ mới, Việt Nam nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển, đa
phương hóa, đa dạng hóa trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy và là thành
viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Nghị quyết số 34-NQ/TW, ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị khóa XIII, Về một số định hướng,
chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục khẳng định: Thực hiện
trường phái ngoại giao cây tre, “dĩ bất biến, ứng vạn biến; kiên định về nguyên
tắc, mục tiêu chiến lược; linh hoạt về sách lược; tích cực, chủ động ngăn ngừa
chiến tranh góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Trên các diễn đàn, hội nghị quốc tế,
Việt Nam luôn khẳng định quan điểm chọn chính nghĩa, lẽ phải, không chọn bên,
chọn phe trong quan hệ quốc tế. Giữa độc lập và phụ thuộc, Việt Nam chọn độc
lập; giữa thương lượng và đối đầu, Việt Nam chọn thương lượng; giữa đối thoại
và xung đột, Việt Nam chọn đối thoại; giữa hoà bình và chiến tranh, Việt Nam
chọn hoà bình; giữa hợp tác và cạnh tranh, Việt Nam chọn hợp tác, còn cạnh
tranh phải lành mạnh, bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của nhau. Đường lối, chính sách đó xuất phát từ:
Thứ nhất, trong lịch sử dân tộc ta luôn nêu cao tinh thần
độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân
tộc: “Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất
nước, ông cha ta luôn chú trọng bang giao hòa hiếu với các quốc gia láng giềng,
tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của ngoại giao
Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hoà hiếu, trọng lẽ phải, công lý và
chính nghĩa”[1].
Đồng thời, luôn nêu cao ý chí độc lập,
tự chủ, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến, sợi chỉ đỏ xuyên
suốt trong quan hệ đối ngoại của mình. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh trên
cương vị là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã
đặt nền móng và trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt nền ngoại giao cách mạng ngày càng
phát triển. Người đã nhiều lần chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của sức mạnh nội
lực, của mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, của mặt trận
ngoại giao, Người chỉ rõ: “Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng,
nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không
tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được
độc lập”[2]; “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm
xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy
có thể là bạn đồng minh của ta vậy”[3]; “Phải trông ở thực lực. Thực lực
mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái
tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”[4].
Cùng với luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn chăm lo, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị với tất cả các
nước, nhất là các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và nhân dân tiến bộ, yêu
chuộng hoà bình trên toàn thế giới. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo
léo quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn; luôn “biết mình, biết
người”, “biết thời, biết thế” để “cương nhu kết hợp”, “hóa giải tương khắc,
kiến tạo tương đồng”, “thêm bạn, bớt thù” vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân
tộc, dùng ngoại giao để đẩy lùi chiến tranh, xung đột; tự lực, tự cường gắn với
đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Hai là, đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ
của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới là nhất quán, đúng đắn. Tiếp nối những thắng lợi của mặt
trận ngoại giao trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là từ đổi mới đến nay, chính đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã trở thành mặt trận tiên phong trong phá
thế bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ quốc tế, mở ra cục diện mới cho
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc cũng như chính sách đối
ngoại, chính sách quốc phòng của thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta đều khẳng
định nhất quán quan điểm: “Chúng ta bảo vệ
Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết
hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ
chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định”[5]. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16/4/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII), về
Chiến lược quốc phòng Việt Nam nhấn mạnh: Xây dựng, củng cố quan hệ, lòng tin
chiến lược với các nước, nhất là các đối tác chiến lược, tạo thế để bảo vệ Tổ
quốc; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra; tham
gia tích cực, trách nhiệm, hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên
hợp quốc và các vấn đề liên quan của cộng đồng quốc tế, góp phần giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới. Đại hội XIII Đảng ta xác định rõ vị
trí, vai trò “tiên phong” của đối ngoại trong “tạo lập và giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước,
nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”[6]. Tiếp tục khẳng định: Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển,
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. “Việt Nam là bạn, là đối tác tin
cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”[7]. Đồng thời, nhấn mạnh quyết tâm: “Nỗ
lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp
bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì
đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
vùng trời, vùng biển của Tổ quốc”[8]. Nghị quyết Trung ương 8, khóa
XIII, Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta tiếp tục chỉ
rõ: “Chú trọng bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, bình đẳng,
hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; chủ động,
tích cực hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế”[9].
Ba là, thành tựu hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
chứng minh quan điểm của Việt Nam là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn. Với
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không chọn bên, sau gần 40 năm đổi mới, đối
ngoại đã thực sự là mũi nhọn tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm
quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó 3 nước quan hệ đối tác hữu nghị
truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện (Cuba, Lào, Campuchia); 7
nước quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc,
Mỹ, Nhật Bản, Australia); 12 nước quan hệ đối tác chiến lược; 12 nước quan hệ
đối tác toàn diện. Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70
tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM,
WTO... Từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển, bị bao vây, cấm vận, đến nay
nước ta đã trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa được 72 quốc gia công nhận...
Đối với lĩnh vực đối ngoại quốc
phòng, đến nay, Việt Nam đã mở rộng và thiết lập quan hệ hợp tác với trên 100
quốc gia, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên
hợp quốc và tất cả các nước lớn. Việt Nam đã cử 33 cơ quan Tùy viên quốc phòng
trực tiếp và kiêm nhiệm tại 41 nước và Liên hợp quốc; ký kết 426 văn bản hợp
tác quốc phòng với các đối tác; có 52 quốc gia đặt cơ quan tùy viên quốc phòng,
tùy viên quân sự tại Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên Bộ Quốc
phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Lào, Bộ Quốc phòng Campuchia đã phối hợp tổ chức
thành công “Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia cấp
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lần thứ nhất”, qua đó thúc đẩy hơn nữa tin cậy chính trị,
quan hệ hợp tác giữa Quân đội ba nước nói chung, giữa lực lượng bảo vệ biên giới
ba nước nói riêng; góp phần thúc đẩy giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội của nhân dân khu vực biên giới giữa ba nước, xây dựng đường biên giới hòa
bình, hữu nghị, ổn định và phát triển[10].
Rõ ràng, cả lịch sử và hiện tại, cả
lý luận và thực tiễn đều cho thấy, trong một thế giới luôn biến động nhanh
chóng, phức tạp và khó lường, trước sức ép chọn bên ngày càng gay gắt; đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ và quan điểm nhất quán “chọn chính nghĩa, lẽ
phải, không chọn bên, chọn phe”, ngoại giao Việt Nam đã trở thành lực lượng “tiên
phong” kiến tạo và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất
nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là minh chứng khách quan,
thuyết phục nhất khẳng định đường lối, chính sách đối ngoại của chúng ta là
đúng đắn, sáng tạo; đồng thời là luận cứ đanh thép để đập tan mọi âm mưu xuyên
tạc, chống phá của các thế lực thù địch./.
[1] Nguyễn Phú
Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Nxb CTQGST, Hà Nội,
tr.180-181.
[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn
tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 7, tr.445.
[3] Đảng Cộng sản
Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 7, tr.112.
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn
tập, Nxb CTQGST, Hà Nội, tập 4, tr.147.
[5] Đảng Cộng sản
Việt Nam (2016), Báo cáo tổng kết một số vấn
đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb CTQGST, Hà Nội, tr.119-120.
[6] Đảng Cộng
sản Việt Nam (2021), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.162.
[7] Đảng Cộng
sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.49-50.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tập I, tr.156-157.
[9] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2023), Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 8, khóa
XIII, Báo QĐND, ngày 09-10-2023, tr.2.
[10] Hoàng Xuân
Chiến (2024), “Những trọng tâm hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng năm
2024”, Tạp chí Quốc phòng
toàn dân, Hà Nội, tháng 3-2024,
tr.2.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét