Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN SÂN BAY GIA BÌNH ĐỂ XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO

Hoa Súng

Dự án Cảng hàng không Sân bay quốc tế Gia Bình có tổng vốn đầu tư khoảng 196.378 tỉ đồng, xây dựng theo tiêu chuẩn dịch vụ cảng hàng không quốc tế 5 sao, thuộc nhóm 10 cảng hàng không 5 sao hàng đầu thế giới đang được triển khai rất quyết liệt. Đây là dự án trọng điểm quốc gia với mục tiêu sẽ được đầu tư theo các chuẩn mực quốc tế, trở thành cảng hàng không thông minh, xanh, bền vững, thế hệ mới đẳng cấp quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ khai thác lưỡng dụng, đảm bảo hoạt động an ninh - quốc phòng và các sự kiện đối ngoại quan trọng của đất nước.

Theo Quyết định số 1102/QĐ-BXD ngày 20/7/2025 của Bộ Xây dựng, tổng diện tích dự án khoảng 1.960 ha nằm trên các xã Gia Bình, Lương Tài, Nhân Thắng, Lâm Thao (Bắc Ninh) với tổng vốn đầu tư khoảng 196.378 tỉ đồng liên quan đến hàng chục ngàn hộ dân phải di dời đi nơi khác tái định cư.

Trong phạm vi giải phóng mặt bằng của dự án có khoảng 25 di tích cần phải di dời, gồm 1 di tích quốc gia, 12 di tích cấp tỉnh và 12 di tích nằm trong danh mục kiểm kê và nhiều công trình tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, nhà thờ lâu đời của các địa phương và đồng bào các tôn giáo. Trong đó, có 5 nhà thờ Công giáo gồm: Nhà thờ giáo xứ Tử Nê, nhà thờ giáo họ Hương La, nhà thờ Ngọc Cục, nhà thờ Ngô Thôn, nhà thờ Bái Giang và nhà tình thương Hương La thuộc Giáo phận Bắc Ninh do Dòng Đức Mẹ Hiệp Nhất điều hành.

Lợi dung vấn đề trên, ngày 17/6/2026, trên trang blog Việt Nam Thời Báo đã phát tán bài: “Người Công giáo Việt Nam lo mất xứ đạo vì dự án sân bay mới”. Họ cho rằng: “Dự án làm tan dã đời sống tâm linh và các xứ đạo lâu đời của giáo dân, làm mất đi ký ức, giá trị truyền thống cộng đoàn đức tin được xây dựng qua nhiều thế hệ, làm mất đi cơ sở phục vụ người yếu thế của giáo hội”, đồng thời kêu gọi tôn trọng phẩm giá con người. Thực chất đó là luận điệu xuyên tạc sai sự thật thiếu căn cứ khoa học với nội dung xuyên tạc, phản đối Dự án Cảng hàng không Quốc tế Gia Bình (Bắc Ninh) để kích động giáo dân phản đối các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, gây chia rẽ giáo dân với chính quyền địa phương. Vậy mỗi người dân và đồng bào Công giáo cần nhận thấy:

Thứ nhất, đây là khu vực nhân dân sống lâu đời với các cơ sở văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng cách đây hàng vài trăm năm, trong đó có đồng bào Công giáo. Việc thay đổi địa bàn sinh sống, phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân khi chuyển sang nới mới bước đầu sẽ gặp những bỡ ngỡ, khó khăn nhưng không bị mất đi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Hai là, Nhà nước có chính sách về bồi thường khi thu hồi đất đai được quy định tại Khoản 1 (Điều 95) Luật đất đai 2024 đó là các trường hợp có đủ các điều kiện hợp pháp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp và cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác....

Thứ ba, thực hiện kế hoạch của Dự án Cảng hàng không Sân bay quốc tế Gia Bình, cấp ủy, chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã thành lập Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng, đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân thuộc diện  giải tỏa mặt bằng nhận thức rõ ý nghĩa của dự án đối với sự phát triển của quê hương, đất nước, thực hiện chính sách đền bù thỏa đáng cho các đối tượng, giúp đỡ nhân dân sớm ổn định cuộc sống khi đến nơi mới.

Thứ tư, đối với 5 nhà thờ của các giáo dân trong phạm vi di dời, ngày 10/6/2026 tại Tòa Giám mục Bắc Ninh, Đoàn đại biểu cấp ủy, chính quyền địa phương do đồng chí Phạm Quang Thịnh, Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh làm trưởng đoàn cùng với các cơ quan chức năng của địa phương đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tiếp, lắng nghe những ý kiến, tâm tư,  nguyện vọng của các chức sắc, chức việc Giáo phận Bắc Ninh về việc di dời 5 nhà thờ và các hộ giáo dân thuộc các thôn giải phóng mặt bằng phục vụ dự án Sân bay Gia Bình sang nơi ở mới. Đồng thời, đại diện Giáo phận Bắc Ninh rất ủng hộ việc di chuyển 5 nhà thờ Công giáo thuộc diện giải tỏa mặt bằng của dự án Sân bay quốc tế Gia Bình và đề nghị chính quyền địa phương quan tâmm giúp đỡ, tạo điều kiện để bà con giáo dân sớm vượt qua những khó khăn trước mắt, ổn định cuộc sống và các sinh hoạt tôn giáo được tiến hành theo nguyện vọng chính đáng. Đây là buổi làm việc có ý nghĩa quan trọng thể hiện sự quan tâm của chính quyền địa phương và sự hợp tác đồng thuận cao của những người đứng dầu Giáo phận Bắc Ninh và các hộ gia đình giáo dân trong sự nghiệp chung của địa phương và đất nước.

Thứ năm, để bảo đảm ổn định cuộc sống vật chất, tinh thần của đồng bào trong diện di dời cho người dân, Nhà nước và chính quyền địa phương đã nỗ lực đầu tư xây dựng các khu nhà ở tái định cư, cấp ruộng, xây dựng lại hệ thống các công trình di sản văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và của đồng bào Công giáo nói riêng./.

 

KHẲNG ĐỊNH KINH TẾ NHÀ NƯỚC GIỮ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO TRONG ĐIỀU TIẾT, DÌU DẮT THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI                                          

LHS

Trong suốt quá trình đổi mới của đất nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quan điểm chỉ đạo nhất quán xuyên suốt của Ðảng ta kể từ Ðại hội VIII đến nay. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Thực tế này đòi hỏi cần có sự quán triệt sâu sắc, nhận thức khách quan, đúng đắn ngay từ mỗi người dân về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam, nhất là trong tình hình hiện nay.

Trong nhiều năm qua, kinh tế nhà nước đã và đang có sự phát triển tốt, ngày càng khẳng định vị thế chủ đạo trong nền kinh tế của đất nước. Đồng thời có những đóng góp tích cực giúp cho “kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Lạm phát, bội chi ngân sách Nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát;…”[1]. Tuy nhiên, trên một số diễn đàn, mạng xã hội thường xuyên xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước như: “kinh tế nhà nước với hàng loạt doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ chỉ là gánh nặng của nền kinh tế”, “phải xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước vì đã là kinh tế thị trường thì mọi thành phần kinh tế đều phải được bình đẳng, tự do cạnh tranh”… Những lập luận này khiến một số người bị thuyết phục nhưng thực chất là những quan điểm phản khoa học, phiến diện, chủ quan cảm tính.

Trước hết, cần khẳng định kinh tế nhà nước không đồng nhất với doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế (bao gồm các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu) do nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành. Ngoài doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước còn có các yếu tố khác thuộc sở hữu nhà nước như tài nguyên quốc gia, ngân hàng nhà nước, ngân sách, quỹ dự trữ quốc gia,...

Vì vậy, không thể lấy dẫn chứng về hạn chế của một số doanh nghiệp nhà nước để quy chụp thành yếu kém của cả thành phần kinh tế nhà nước. Hơn nữa, thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta thừa nhận vẫn còn nhiều doanh nghiệp nhà nước “chậm thực hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị”; “hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp; tình trạng nợ, thua lỗ, lãng phí còn lớn”[2] , một số doanh nghiệp buông lỏng quản lý để xảy ra tham nhũng, hay đầu tư không hiệu quả dẫn đến thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng, song theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, có tới 15/16 tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước được kiểm toán năm 2020 sản xuất, kinh doanh có lãi; tỷ suất lợi nhuận tại một số đơn vị đạt tương đối cao.

Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư tại Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2020 cũng chỉ rõ: hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước đạt tỷ lệ khá cao (78,5% có lãi, 2,2% hòa vốn và 19,3% thua lỗ) so với doanh nghiệp ngoài nhà nước (43,7% có lãi, 7,7% hòa vốn và 48,6% thua lỗ). Dù chỉ chiếm 0,4% trong tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng doanh nghiệp nhà nước đã huy động được 9,65 triệu tỷ đồng vốn cho sản xuất, kinh doanh, với doanh thu thuần cao nhất là 13,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 323,64 nghìn tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tới 96,9% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng chỉ thu hút được 22,25 triệu tỷ đồng vốn, doanh thu đạt 3,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 190,36 nghìn tỷ đồng. Năm 2025, Tổng doanh thu khu vực doanh nghiệp nhà nước là 2.930.753 tỷ đồng (trong đó, doanh nghiệp Trung ương là 2.616.736 tỷ đồng, chiếm 89,3% tổng doanh thu; doanh nghiệp địa phương là 374.017 tỷ đồng, chiếm 10,7% tổng doanh thu).

Thứ hai, việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là sự định hướng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm thực hiện các mục tiêu của tiến trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà còn cho thấy sự khác biệt lớn của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ðó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Kinh tế nhà nước chính là “công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường”[3], bảo đảm cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước trực tiếp phụ trách những lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh chủ quyền quốc gia, quân sự quốc phòng.  Bảo đảm an sinh xã hội, tài nguyên quốc gia, hay đầu tư ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn mà doanh nghiệp tư nhân không thể hoặc không muốn làm nhưng cần thiết cho tiến trình phát triển kinh tế của đất nước theo mục tiêu đã định. Vì lợi ích đông đảo tầng lớp nhân dân như xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, cung ứng dịch vụ công ích, đầu tư vào những ngành có vốn đầu tư lớn, ở địa bàn khó khăn, nhiều rủi ro, khó thu được lợi nhuận cao...

Kinh tế nhà nước giúp tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển (như hỗ trợ, ưu đãi về vốn, hỗ trợ về hạ tầng cơ sở, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ,…); giảm thiểu, khắc phục được những khuyết tật của cơ chế thị trường. Bảo vệ, hỗ trợ nhóm yếu thế, dễ gặp rủi ro,... Ðặc biệt, kinh tế nhà nước chính là bộ phận quan trọng để định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế theo mục tiêu tiến bộ, công bằng, văn minh, không để các doanh nghiệp ngoài nhà nước tự do theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá, vì lợi ích tư nhân mà bất chấp lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng,...

Thứ ba, không thể chỉ dựa vào việc một số doanh nghiệp tư nhân kinh doanh hiệu quả để kết luận rằng kinh tế tư nhân mới xứng là chủ đạo. Bởi lẽ, mặc dù Ðảng ta xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, đồng thời thừa nhận, những năm qua, khu vực kinh tế này có “đóng góp ngày càng lớn và trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước”[4], tuy nhiên, thực tế cho thấy, “Khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước chủ yếu có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tạo ra giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động,  kỹ năng quản trị hạn chế”[5], cơ cấu ngành nghề chưa thật sự hợp lý, chủ yếu mới tập trung ở lĩnh vực dịch vụ thương mại nhỏ lẻ, quy mô siêu nhỏ và nhỏ chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp, năng suất còn thấp, chỉ bằng khoảng 34% năng suất lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước và khoảng 69% của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, năng lực khoa học công nghệ còn hạn chế…

Với nguồn lực giới hạn, kinh tế tư nhân cũng không thể hoặc không muốn đầu tư vào những ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn, mức độ rủi ro cao, địa bàn khó khăn, hay những ngành nghề ít lợi nhuận, phục vụ cộng đồng, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến an ninh, quốc phòng, tài nguyên quốc gia,...

Thứ tư, cho rằng để cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là “ưu ái đối với kinh tế nhà nước”, “phân biệt đối xử bất công với các doanh nghiệp khác”, “cạnh tranh không lành mạnh”,... là sự xuyên tạc vô căn cứ. Bởi lẽ, quan điểm nhất quán của Ðảng là: “các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”, doanh nghiệp nhà nước cũng phải “cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”[6]. Nhà nước luôn coi trọng “tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp”, bảo đảm “thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế”[7].

Mỗi thành phần kinh tế dù có vai trò, vị trí không giống nhau song đều có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, góp phần đem lại những thành tựu phát triển đáng mừng, nâng cao tầm vóc, vị thế và uy tín nước ta trên trường quốc tế. Dù xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo song không hề có sự phân biệt đối xử với các thành phần kinh tế khác, ngược lại còn coi “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”, “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân”[8]. Đồng thời nỗ lực chỉ đạo không ngừng củng cố, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và là tiêu chí quan trọng bảo đảm tính định hướng XHCN cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trước thực trạng vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém của thành phần kinh tế này. Đảng ta đã khẳng định: “ đổi mới kinh tế nhà nước, trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước.”[9]

Kinh tế nhà nước là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân ở mọi quốc gia, song vai trò và phạm vi của Kinh tế nhà nước có sự khác biệt tùy theo mô hình kinh tế và trình độ phát triển. Ở Việt Nam, Kinh tế nhà nước là khu vực kinh tế đặc biệt, do Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa đại diện chủ sở hữu; được xác định giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước được khẳng định xuyên suốt trong Hiến pháp và các văn kiện của Đảng, gần đây nhất là Nghị quyết số 79-NQ/TW. Kinh tế nhà nước nắm giữ các nguồn lực then chốt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng trong ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế và dẫn dắt phát triển các ngành, lĩnh vực chiến lược. Đồng thời, Kinh tế nhà nước được xác định phát triển bình đẳng với các khu vực kinh tế khác, vận hành theo nguyên tắc thị trường, nâng cao hiệu quả, minh bạch và tiên phong trong kiến tạo phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới mô hình tăng trưởng.



[1] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.46.

[2] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.81.

[3] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129.

 

[4] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.210.

[5] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.326.

[6] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129.

[7] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.131, 203.

[8] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129, 130.

[9] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.91.

 

PHẢN BÁC CÁCH HIỂU SAI CHO RẰNG YÊU CẦU HỘ KINH DOANH BÁO TÀI KHOẢN NHẬN TIỀN LÀ “XÂM PHẠM ĐỜI TƯ”

Hoa Súng

Những ngày gần đây, trên Facebook, Zalo và một số diễn đàn mạng xuất hiện cách diễn giải cho rằng quy định yêu cầu hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thông báo các tài khoản nhận tiền cho cơ quan thuế là hành vi “xâm phạm đời tư”, “soi túi tiền cá nhân”, thậm chí là “can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng”. Thoạt nghe, cách nói này có vẻ đứng về phía quyền riêng tư của công dân. Nhưng nếu nhìn đúng bản chất pháp lý và mục đích quản lý, có thể thấy đây là một cách hiểu lệch lạc, cố tình đánh tráo ranh giới giữa tài sản, giao dịch phục vụ hoạt động kinh doanh với đời sống cá nhân thuần túy; giữa nghĩa vụ minh bạch doanh thu với câu chuyện bí mật đời tư. Thực chất, quy định mới không nhằm buộc người dân phải “mở toàn bộ đời sống tài chính” cho cơ quan nhà nước, mà chỉ yêu cầu hộ kinh doanh thông báo những tài khoản ngân hàng và ví điện tử liên quan đến hoạt động kinh doanh, cụ thể là các tài khoản sử dụng để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh. Theo hướng dẫn công bố ngày 7/3/2026, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh đang hoạt động phải thực hiện thông báo này chậm nhất vào ngày 20/4/2026.

Thứ nhất, cần khẳng định rõ rằng quy định này không yêu cầu khai báo mọi tài khoản cá nhân trong đời sống riêng, mà chỉ nhắm tới các tài khoản có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là điểm mấu chốt nhưng thường bị các tài khoản xuyên tạc cố tình lờ đi. Thông tin chính thức nêu rất rõ: hộ kinh doanh phải thông báo cho cơ quan thuế các tài khoản ngân hàng và ví điện tử liên quan đến hoạt động kinh doanh; đồng thời phải thông báo tất cả số tài khoản hoặc ví điện tử sử dụng để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh. Như vậy, phạm vi điều chỉnh ở đây không phải “tài khoản riêng của một con người” theo nghĩa vô hạn, mà là “tài khoản nhận tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ, thu tiền kinh doanh”. Khi một tài khoản được dùng như công cụ nhận doanh thu kinh doanh, thì về bản chất pháp lý, nó không còn thuần túy là chuyện riêng tư cá nhân, mà đã gắn trực tiếp với nghĩa vụ thuế và trách nhiệm tuân thủ pháp luật của chủ thể kinh doanh. Gọi việc này là “xâm phạm đời tư” là cách nhập nhằng có chủ ý giữa quyền riêng tư với nghĩa vụ kê khai phát sinh từ hoạt động kinh doanh có doanh thu.

Thứ hai, yêu cầu thông báo tài khoản nhận tiền không phải để theo dõi sinh hoạt cá nhân, mà để xác định đúng doanh thu chịu thuế trong bối cảnh phương thức quản lý thuế đối với hộ kinh doanh đã thay đổi. Từ năm 2026, nhiều hộ kinh doanh chuyển sang thực hiện nghĩa vụ thuế theo nguyên tắc tự kê khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm, thay cho phương thức quản lý thuế khoán trước đây. Chính vì chuyển từ cách quản lý ấn định tương đối sang cơ chế kê khai minh bạch hơn, Nhà nước cần những dữ liệu tối thiểu để gắn doanh thu thực tế với nghĩa vụ thuế thực tế. Nếu một hộ kinh doanh bán hàng, nhận tiền qua nhiều tài khoản hoặc ví điện tử nhưng không phải thông báo tài khoản nhận tiền, thì ranh giới giữa doanh thu thật và doanh thu khai báo sẽ rất dễ bị làm mờ. Khi đó, người tuân thủ đúng sẽ chịu bất lợi, còn người cố tình giấu doanh thu lại được hưởng lợi. Bởi vậy, quy định này trước hết là công cụ tạo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, chứ không phải công cụ xâm nhập đời tư như một số cách nói cực đoan đang cố thổi phồng.

Thứ ba, thực tiễn quản lý thuế cho thấy việc sử dụng tài khoản cá nhân để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh là một trong những phương thức dễ dẫn đến sai lệch doanh thu, thậm chí bị lợi dụng để che giấu doanh thu và né thuế. Các thông tin công bố từ hệ thống ngành thuế trong tháng 2 và tháng 3/2026 đều chỉ ra rõ thực trạng này, coi việc dùng tài khoản cá nhân nhận tiền bán hàng là ví dụ điển hình của rủi ro tuân thủ. Chính vì có những kẽ hở như vậy nên việc yêu cầu thông báo tài khoản liên quan đến kinh doanh mới trở thành điều cần thiết. Cần nhìn nhận công bằng rằng nếu doanh thu kinh doanh đi vào tài khoản nào, thì tài khoản đó đương nhiên phải nằm trong phạm vi quản lý thuế. Không thể vừa dùng một tài khoản để thu tiền bán hàng, quảng bá hàng hóa, chốt đơn, nhận chuyển khoản từ khách, rồi lại khẳng định đó hoàn toàn là “vùng bất khả xâm phạm” mà cơ quan thuế không được biết đến. Lập luận như vậy không phải là bảo vệ quyền riêng tư, mà là đòi giữ một khoảng mờ để né tránh trách nhiệm minh bạch trong kinh doanh.

Thứ tư, nói quy định này “xâm phạm đời tư” cũng là bỏ qua một nguyên tắc pháp lý rất quan trọng: cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm bảo mật thông tin người nộp thuế và chỉ được sử dụng thông tin đúng mục đích quản lý thuế. Cơ sở dữ liệu pháp luật của Bộ Tư pháp cho thấy Luật Quản lý thuế quy định cơ quan quản lý thuế phải giữ bí mật thông tin của người nộp thuế. Báo Điện tử Chính phủ cũng dẫn rõ yêu cầu các cục thuế phải bảo mật thông tin, sử dụng thông tin đúng mục đích và chịu trách nhiệm về an toàn của thông tin theo quy định pháp luật. Nói cách khác, quan hệ ở đây không phải là “người dân bị phơi bày đời tư trước công chúng”, mà là người nộp thuế cung cấp thông tin liên quan đến kinh doanh cho cơ quan có thẩm quyền trong một khuôn khổ pháp lý có nghĩa vụ bảo mật. Khi pháp luật đã đồng thời đặt ra nghĩa vụ cung cấp thông tin để thực hiện quản lý thuế và nghĩa vụ bảo mật của cơ quan tiếp nhận thông tin, thì việc quy chụp thành “xâm phạm đời tư” là cách suy diễn phiến diện, chỉ nói một nửa sự thật.

Thứ năm, cần thấy rằng hệ thống pháp luật hiện nay không đi theo hướng hy sinh quyền riêng tư để đổi lấy quản lý thuế, mà đang song song củng cố cả hai vế: tăng minh bạch nghĩa vụ tài chính và tăng bảo vệ dữ liệu cá nhân. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 xác lập các quyền cơ bản của công dân như quyền được biết, quyền đồng ý, quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa dữ liệu; đồng thời quy định trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước, tổ chức và doanh nghiệp trong toàn bộ vòng đời thu thập, xử lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu. Như vậy, bối cảnh pháp lý hiện nay không phải là “thu thông tin vô điều kiện”, mà là thu thập trong phạm vi cần thiết, cho mục đích hợp pháp, đi kèm với trách nhiệm bảo vệ dữ liệu. Nếu cố tình bỏ qua phần bảo vệ này để chỉ nhấn vào phần kê khai, rồi kết luận rằng Nhà nước “xâm phạm đời tư”, thì đó không còn là phản biện khách quan mà là bóp méo cấu trúc pháp lý nhằm kích động nghi ngờ trong xã hội.

Thứ sáu, cần đặt yêu cầu thông báo tài khoản nhận tiền vào đúng bối cảnh quản trị hiện nay: Nhà nước không chỉ ban hành nghĩa vụ, mà còn đồng thời tổ chức hỗ trợ diện rộng để hộ kinh doanh thích ứng. Ngày 9/3/2026, ngành thuế cho biết hơn 2 triệu hộ kinh doanh sẽ được cung cấp tài liệu hướng dẫn, tham gia đợt cao điểm 15 ngày hỗ trợ kê khai; các cơ quan thuế địa phương tổ chức tập huấn, đối thoại, hỗ trợ trực tiếp tại địa bàn, hướng dẫn đăng ký thuế, kê khai, sử dụng hóa đơn điện tử và nộp thuế điện tử. Điều đó cho thấy tinh thần của chính sách là đồng hành để người kinh doanh thực hiện đúng, đủ và thuận lợi hơn, chứ không phải dựng thêm rào cản để gây khó. Một chính sách nếu thật sự nhằm “siết đời tư” thì sẽ không đi kèm một chương trình hỗ trợ lớn như vậy, cũng không nhấn mạnh mục tiêu hạn chế sai sót không cố ý ngay từ lần kê khai đầu tiên. Bản chất ở đây là chuẩn hóa quản lý trong môi trường kinh doanh ngày càng số hóa, nơi doanh thu đi qua chuyển khoản, ví điện tử và nền tảng số chứ không chỉ qua tiền mặt như trước.

Có thể khẳng định, cách hiểu cho rằng yêu cầu hộ kinh doanh báo tài khoản nhận tiền là “xâm phạm đời tư” là không đúng bản chất pháp lý và thực tiễn của chính sách. Điều được yêu cầu khai báo không phải toàn bộ đời sống tài chính cá nhân, mà là các tài khoản và ví điện tử liên quan đến hoạt động kinh doanh, dùng để nhận tiền từ hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của quy định là minh bạch doanh thu, bảo đảm công bằng thuế, khắc phục tình trạng che giấu doanh thu và tạo nền tảng cho phương thức quản lý thuế hiện đại, trong khi pháp luật vẫn đồng thời đặt ra nghĩa vụ bảo mật thông tin người nộp thuế và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân. Vì vậy, thay vì lặp lại những luận điệu kích động trên Facebook và Zalo, điều cần thiết hơn là nhìn nhận tỉnh táo: quyền riêng tư phải được tôn trọng, nhưng quyền đó không thể bị lợi dụng để che chắn cho phần doanh thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh có nghĩa vụ thuế. Trong một xã hội thượng tôn pháp luật, minh bạch nghĩa vụ không phải là xâm phạm đời tư; đó là điều kiện cần để bảo đảm công bằng giữa những người kinh doanh chân chính.

 

 

SỨC MẠNH CỦA THÔNG TIN TÍCH CỰC TRONG XÂY DỰNG
NIỀM TIN XÃ HỘI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

NVT

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và quá trình chuyển đổi số đã làm thay đổi sâu sắc đời sống xã hội. Không gian mạng ngày nay không chỉ là nơi con người trao đổi thông tin, học tập, làm việc, giải trí mà còn trở thành môi trường quan trọng tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cá nhân. Với khả năng lan truyền nhanh chóng, mạng xã hội đã tạo ra cơ hội lớn trong việc kết nối cộng đồng, chia sẻ tri thức và lan tỏa những giá trị tốt đẹp.

Tuy nhiên, không gian mạng cũng đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp. Một số thông tin chưa được kiểm chứng, nội dung tiêu cực, quan điểm sai lệch, xuyên tạc sự thật vẫn xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều. Những thông tin này nếu không được nhận diện, xử lý kịp thời có thể tác động đến tâm lý xã hội, gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin và ảnh hưởng đến sự ổn định của cộng đồng.

Trước thực tế đó, xây dựng và lan tỏa thông tin tích cực trên không gian mạng là một yêu cầu cần thiết. Đây không chỉ là hoạt động truyền thông đơn thuần mà còn là một phương thức quan trọng góp phần định hướng nhận thức, củng cố niềm tin xã hội và tạo sức mạnh tinh thần trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống hiện đại. Con người nhận thức thế giới xung quanh phần lớn thông qua các nguồn thông tin được tiếp cận hằng ngày. Vì vậy, thông tin không chỉ phản ánh thực tế mà còn có khả năng tác động đến suy nghĩ, thái độ và hành động của xã hội. Thông tin tích cực được hiểu là những nội dung đúng đắn, khách quan, có giá trị định hướng, góp phần nâng cao nhận thức và khuyến khích những hành động có ích. Đó có thể là những câu chuyện về tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng; những thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; những tấm gương người tốt, việc tốt; những hình ảnh đẹp trong đời sống thường ngày. Sức mạnh của thông tin tích cực trước hết thể hiện ở khả năng tạo dựng niềm tin. Khi người dân thường xuyên được tiếp nhận những thông tin chính xác, có chiều sâu và phản ánh đúng thực tế, họ sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về các vấn đề xã hội. Điều này giúp hạn chế tâm lý hoang mang, giảm sự tác động của các thông tin tiêu cực và góp phần tạo nên sự đồng thuận trong cộng đồng.

Trong môi trường mạng, nơi mà một thông tin có thể được chia sẻ đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người trong thời gian rất ngắn, sức lan tỏa của thông tin tích cực càng trở nên quan trọng. Một câu chuyện có ý nghĩa, một hình ảnh đẹp hay một hành động có trách nhiệm có thể tạo ra hiệu ứng xã hội lớn, truyền cảm hứng cho nhiều người cùng tham gia những việc làm tốt. Thông tin tích cực còn là công cụ quan trọng trong đấu tranh với những nội dung sai trái, tiêu cực. Thực tế cho thấy, nếu không gian mạng chỉ xuất hiện các thông tin một chiều, thông tin tiêu cực sẽ dễ dàng thu hút sự chú ý và tác động đến nhận thức của người dùng. Vì vậy, việc chủ động cung cấp thông tin đúng, phản ánh khách quan và lan tỏa những giá trị tích cực là cách làm hiệu quả để tạo “sức đề kháng” trước những nội dung độc hại.

Cùng với sự phát triển của công nghệ, không gian mạng đang đặt ra nhiều thách thức mới. Một trong những vấn đề nổi bật hiện nay là tình trạng thông tin sai lệch, thông tin chưa được kiểm chứng xuất hiện ngày càng nhiều. Một số cá nhân vì mục đích câu view, thu hút sự chú ý hoặc vì những động cơ khác đã đăng tải, chia sẻ những nội dung thiếu chính xác, gây ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng lợi dụng không gian mạng để cắt ghép thông tin, đưa ra những nhận định thiếu căn cứ, xuyên tạc sự việc nhằm tạo tâm lý nghi ngờ, chia rẽ và làm suy giảm niềm tin trong xã hội. Những nội dung này thường được xây dựng dưới hình thức dễ gây chú ý như tiêu đề gây sốc, hình ảnh cắt ghép hoặc thông tin chưa đầy đủ.

Bên cạnh nguyên nhân khách quan, một bộ phận người sử dụng mạng xã hội còn hạn chế về kỹ năng tiếp nhận thông tin. Nhiều người có thói quen đọc nhanh, chia sẻ nhanh nhưng chưa kiểm tra nguồn tin, chưa đánh giá tính chính xác của nội dung. Chính sự thiếu cẩn trọng này vô tình làm cho những thông tin sai lệch có cơ hội lan truyền rộng hơn. Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là đấu tranh với thông tin xấu độc mà còn phải xây dựng khả năng “miễn dịch” thông tin cho mỗi cá nhân. Người sử dụng mạng xã hội cần có tư duy phân tích, biết lựa chọn nguồn tin đáng tin cậy và có trách nhiệm với mỗi hành động tương tác của mình trên môi trường mạng. Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, những tác động từ thông tin trên không gian mạng càng cần được quan tâm. Bởi đây không chỉ là vấn đề về truyền thông mà còn liên quan đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tinh thần đoàn kết và niềm tin của nhân dân.

Trong sự phát triển của xã hội hiện nay, mỗi cá nhân tham gia không gian mạng đều có thể trở thành một chủ thể tạo ra và lan truyền thông tin. Điều đó cho thấy, xây dựng môi trường mạng lành mạnh không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn mà còn cần sự tham gia, trách nhiệm của từng người sử dụng.

Để phát huy hiệu quả của thông tin tích cực, trước hết cần nâng cao nhận thức của mỗi người về vai trò và trách nhiệm khi tham gia môi trường mạng. Mạng xã hội không chỉ là nơi giải trí mà còn là không gian thể hiện thái độ, quan điểm và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng.

Mỗi người cần hình thành thói quen tiếp nhận thông tin có chọn lọc. Trước một vấn đề được đăng tải trên mạng, cần xem xét nguồn thông tin, nội dung, mức độ chính xác trước khi tin tưởng hoặc chia sẻ. Việc không tiếp tay cho những thông tin chưa được kiểm chứng cũng là một hành động thiết thực góp phần giữ gìn môi trường mạng.

Chủ động tạo ra nhiều nội dung tích cực, có chất lượng. Trong bối cảnh cạnh tranh thông tin hiện nay, nếu những nội dung đúng đắn không được quan tâm, những thông tin tiêu cực sẽ dễ dàng chiếm ưu thế. Vì vậy, cần đổi mới cách truyền tải thông tin theo hướng gần gũi, dễ tiếp nhận, có sức thuyết phục đối với người sử dụng mạng xã hội.

Nâng cao kỹ năng đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng. Tuy nhiên, đấu tranh không đồng nghĩa với tranh luận thiếu kiểm soát hoặc sử dụng những lời lẽ cực đoan. Hiệu quả của đấu tranh phụ thuộc vào sự chính xác của thông tin, tính logic của lập luận và thái độ văn minh trong quá trình trao đổi.

Không gian mạng đang trở thành một môi trường có ảnh hưởng ngày càng lớn đến đời sống xã hội. Trong môi trường đó, thông tin tích cực giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng nhận thức, củng cố niềm tin và tạo động lực phát triển cộng đồng.

Trước những tác động phức tạp của thông tin sai lệch, việc xây dựng một không gian mạng lành mạnh cần sự tham gia của toàn xã hội. Mỗi người cần phát huy trách nhiệm, bản lĩnh và tinh thần chủ động để trở thành một nhân tố tích cực trong việc lan tỏa những giá trị đúng đắn.

Có thể thấy, sức mạnh của thông tin tích cực không chỉ nằm ở nội dung được truyền tải mà còn nằm ở niềm tin mà nó tạo dựng. Khi mỗi người đều có trách nhiệm với thông tin mình chia sẻ, không gian mạng sẽ trở thành môi trường góp phần kết nối con người, củng cố đồng thuận xã hội và phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc./.

 

               KỶ NGUYÊN MỚI VÀ NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ KHÔNG MỚI

Hoa Súng

Đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và triển vọng to lớn. Các chủ trương về chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy và phát triển kinh tế xanh đang được triển khai mạnh mẽ nhằm tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, với cái nhìn thiển cận, méo mó, mang nặng định kiến, hận thù, vụ lợi, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội, bất mãn về chính trị vẫn không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá. Dù phương thức ngày càng tinh vi hơn, nhưng bản chất các chiêu trò này vẫn không hề mới: bóp méo sự thật, gieo rắc hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường phát triển của đất nước.

Một trong những thủ đoạn phổ biến mà các đối tượng sử dụng đó là, khai thác những hạn chế, khó khăn hoặc những vụ việc tiêu cực đơn lẻ để suy diễn, quy kết thành những vấn đề mang tính hệ thống; sau đó lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai lệch. Các thông tin bị cắt ghép, bóp méo được lan truyền nhanh chóng nhằm dẫn dắt nhận thức theo hướng tiêu cực, tạo tâm lý hoang mang trong xã hội.

Núp dưới chiêu bài “phản biện xã hội”, “góp ý xây dựng” hay “đấu tranh vì dân chủ”, các đối tượng chống phá đưa ra những nhận định phiến diện, phủ nhận thành quả phát triển của đất nước và kích động tâm lý bất mãn trong xã hội. Các đối tượng chỉ tập trung vào những khó khăn, tồn tại trong quá trình phát triển của đất nước mà bỏ qua những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Chung lờ đi những thành tựu phát triển về kinh tế, xã hội, đời sông nhân dân và vị thế của đất nước ngày được nâng cao trên trường quốc tế. Thay vào đó, chúng quy chụp những hạn chế cục bộ thành bản chất của chế độ nhằm làm suy giảm niềm tin chính trị trong xã hội.  

Đặc biệt, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội đang trở thành mục tiêu mà các thế lực thù địch tìm cách lôi kéo hoặc lợi dụng. Với khả năng lan tỏa thông tin mạnh mẽ, chỉ cần một phát ngôn thiếu kiểm chứng hoặc một góc nhìn phiến diện cũng có thể tạo ra những tác động đáng kể đối với dư luận. Vì vậy, các đối tượng chống phá thường tìm cách khai thác các vấn đề liên quan đến “tự do học thuật”, “tự do ngôn luận” hay “xã hội dân sự” để cổ súy các quan điểm cực đoan, tạo ra những tranh luận tiêu cực và gây nhiễu loạn thông tin.

Tuy nhiên, thực tiễn luôn là câu trả lời thuyết phục nhất đối với mọi luận điệu xuyên tạc. Những thành tựu phát triển của đất nước trong gần bốn thập niên đổi mới là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của đường lối phát triển. Từ một quốc gia còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, quốc phòng - an ninh được giữ vững và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Những kết quả đó không thể bị phủ nhận bằng các luận điệu suy diễn hoặc thông tin bị bóp méo trên không gian mạng. Hiện nay, các chủ trương lớn về chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và tinh gọn bộ máy đều hướng tới mục tiêu phục vụ người dân, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Vì vậy, mọi hành vi tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống đối hoặc cản trở việc thực hiện các chủ trương này đều đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Trước những thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, chủ động nhận diện thông tin sai lệch, không vội tin và không chia sẻ những nguồn tin chưa được kiểm chứng. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, đội ngũ trí thức, nhà khoa học và những người có uy tín trong việc lan tỏa thông tin chính xác, khách quan, góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kỷ nguyên mới đang mở ra nhiều cơ hội để đất nước bứt phá phát triển. Nhận diện đúng những chiêu trò chống phá cũ được khoác lên những hình thức mới là yêu cầu quan trọng để giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tạo môi trường thuận lợi cho đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn minh của dân tộc./.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG DỰ ÁN SÂN BAY

GIA BÌNH ĐỂ KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

NTQS

Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình tại tỉnh Bắc Ninh là công trình hạ tầng có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, kết nối vùng và hoàn thiện mạng lưới giao thông quốc gia. Khi đi vào hoạt động, dự án được kỳ vọng mở rộng không gian phát triển, thu hút đầu tư, thúc đẩy logistics, thương mại, dịch vụ và tạo thêm việc làm cho người dân. Tuy nhiên, do dự án có quy mô lớn, liên quan trực tiếp đến đất đai, nơi ở, sinh kế và đời sống cộng đồng của một bộ phận nhân dân, quá trình triển khai tất yếu phát sinh những tâm tư, băn khoăn cần được lắng nghe, giải quyết thỏa đáng. Mới đây, trên trang “Việt Nam Thời Báo” đăng bài viết với tiêu đề “Người Công giáo Việt Nam lo mất xứ đạo vì dự án sân bay mới” với nội dung xuyên tạc thông tin, kích động tâm lý bất mãn, cố tình chia rẽ đồng bào Công giáo với chính quyền. Bài viết với cái nhìn một chiều, phiến diện lợi dụng sự tâm tư của người dân, sử dụng ngôn từ gây cảm giác xung đột giữa phát triển kinh tế với tự do tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó hướng lái dư luận đến nhận thức sai lệch về bản chất của dự án.

Thứ nhất, cần bác bỏ luận điệu cho rằng “dự án làm tan rã đời sống tâm linh và các xứ đạo lâu đời”. Đây thực chất là thủ đoạn cố tình đánh tráo khái niệm, "văn hóa hóa", "tôn giáo hóa" một vấn đề kinh tế thuần túy nhằm thổi phồng tâm lý lo ngại của người dân. Bản chất của dự án là việc thu hồi đất, đền bù và giải phóng mặt bằng theo đúng quy trình của pháp luật để phục vụ phát triển kinh tế công cộng. Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Việc thu hồi đất được thực hiện công khai, minh bạch, có chính sách đền bù và tái định cư thỏa đáng, hoàn toàn không có chuyện xóa bỏ hay làm tổn hại đến đức tin, ký ức hay các giá trị truyền thống của giáo hội.

Thứ hai, cần nhận diện thủ đoạn biến những băn khoăn về bồi thường, tái định cư và sinh kế thành mâu thuẫn giữa giáo dân với chính quyền. Những vấn đề người dân quan tâm là hoàn toàn chính đáng và cần được đối thoại, giải quyết công khai, minh bạch. Song, lợi dụng những vướng mắc cụ thể để kích động chống đối, gây mất an ninh, trật tự là hành vi cần kiên quyết đấu tranh. Đồng bào Công giáo Việt Nam có truyền thống “kính Chúa, yêu nước”, luôn đồng hành cùng dân tộc và là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân. Những đối tượng nhân danh “bảo vệ giáo dân” nhưng lại kích động đối đầu, phủ nhận pháp luật thực chất không vì quyền lợi của người dân, mà chỉ tìm cách biến vấn đề tôn giáo thành công cụ phục vụ mục đích chính trị.

Thứ ba, cần cảnh giác với thủ đoạn mượn danh "tôn trọng phẩm giá con người" để cổ xúy cho các hoạt động chống đối. Đây thực chất là chiêu bài lợi dụng các giá trị nhân quyền, nhân đạo để che đậy cho hành vi kích động vi phạm pháp luật. Chúng cố tình hướng lái dư luận quốc tế hiểu sai về chính sách tôn giáo và chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam, mưu toan biến một địa bàn bình yên thành "điểm nóng" về an ninh trật tự nhằm cản trở sự đi lên của đất nước. Phẩm giá con người chân chính phải gắn liền với quyền được sống trong một xã hội ổn định, phát triển và thượng tôn pháp luật, chứ không phải là sự dung túng cho các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để phá hoại lợi ích chung của cộng đồng và quốc gia.

Để ngăn chặn các luận điệu xuyên tạc, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, kiểm chứng thông tin trước khi tiếp nhận và chia sẻ; không để các tiêu đề giật gân, nội dung một chiều chi phối nhận thức. Mọi ý kiến, kiến nghị cần được phản ánh thông qua các kênh hợp pháp, trên tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật. Về phía các cơ quan chức năng, cần công khai đầy đủ quy hoạch, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phương án bảo đảm sinh kế; tăng cường đối thoại với người dân, chức sắc, chức việc tôn giáo; kịp thời giải quyết các kiến nghị chính đáng và xử lý nghiêm những biểu hiện tiêu cực, thiếu trách nhiệm nếu có.

Dự án Cảng hàng không Quốc tế Gia Bình là biểu tượng của khát vọng phát triển và ý chí vươn lên mạnh mẽ của đất nước, do đó mọi âm mưu lợi dụng dự án này để kích động giáo dân, chia rẽ chính quyền và nhân dân đều là hành vi đi ngược lại lợi ích tối cao của dân tộc và chắc chắn sẽ bị vạch trần, xử lý nghiêm minh trước pháp luật./.

                  PHẢN BÁC ẢO VỌNG NGÔNG CUỒNG CỦA NHỮNG KẺ “LẬT SỬ”

Hoằng Tháo

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là thiên sử vàng chói lọi về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Kể từ đây, bắc-nam sum họp, cả nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đã 50 năm trôi qua, nhưng chiến thắng đó mãi mãi là niềm tự hào to lớn đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá, trong đó có chiêu bài “lật sử” để phủ nhận ý nghĩa, xuyên tạc sự kiện trọng đại ấy. Đây là hành vi đáng lên án, cần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác.

Không chỉ là chiến thắng vĩ đại nhất trong thời đại Hồ Chí Minh, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 còn mang ý nghĩa thời đại sâu sắc; khẳng định truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất của dân tộc; thể hiện khí phách, bản lĩnh, trí tuệ và nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Sự kết tinh của truyền thống yêu nước

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử chính là kết tinh của truyền thống yêu nước, tinh thần đại đoàn kết, khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Trong điều kiện phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách, đối đầu với đế quốc sừng sỏ nhất thời bấy giờ cùng lực lượng tay sai đông đảo, dân tộc Việt Nam vẫn kiên quyết một lòng thống nhất non sông.

Thực tế cho thấy, so sánh lực lượng giữa hai bên thể hiện sự mất cân bằng rõ rệt. Một bên là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa trải qua cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược với những hậu quả nặng nề: kinh tế kiệt quệ, đất nước bị tàn phá, nguồn nhân lực thiếu hụt nghiêm trọng; tổng GDP thời điểm năm 1954 chỉ khoảng 820 triệu USD. Trong khi Mỹ là đế quốc hùng mạnh với quy mô kinh tế năm 1960 khoảng 543,3 tỷ USD, quân đội được trang bị các loại vũ khí hiện đại tối tân cùng lực lượng đồng minh đông đảo. Nhìn vào thực tế đó, không nước nào trên thế giới nghĩ rằng, dân tộc Việt Nam có thể giành chiến thắng.

Tuy nhiên, bằng tinh thần yêu nước, bằng ý chí, khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, nhất tề đứng lên đánh đuổi bè lũ cướp nước và bán nước.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã làm phá sản mưu đồ áp đặt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới ở miền nam Việt Nam; đánh bại một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, do cường quốc hàng đầu thế giới tiến hành; lật đổ chế độ tay sai, khẳng định ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, bản lĩnh, trí tuệ và đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam với sức mạnh thời đại, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước đi lên xây dựng CNXH.

Chiến thắng vĩ đại ấy đã phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng, trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ, động viên tinh thần yêu nước, thức tỉnh đấu tranh đòi độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, mở rộng trận địa của chủ nghĩa xã hội, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của ba “dòng thác” cách mạng, đó là: “dòng thác” của cách mạng xã hội chủ nghĩa, “dòng thác” của phong trào độc lập dân tộc và “dòng thác” của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước đế quốc, tư bản.

Đánh giá về tầm vóc của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Chủ tịch Cuba Fidel Castro khẳng định: “Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một trong những chiến công oanh liệt, vĩ đại nhất của loài người, một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, sau chiến thắng chủ nghĩa phát-xít, là dấu mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng thế giới”.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một trong những chiến công oanh liệt, vĩ đại nhất của loài người, một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, sau chiến thắng chủ nghĩa phát-xít, là dấu mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng thế giới. 

Trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 luôn là điểm tựa vững chắc để đất nước từng ngày phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu, như khẳng định của Tổng Bí thư Tô Lâm trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước: “Với bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam, chúng ta đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Nhất định chúng ta sẽ tiếp tục giành được nhiều thành tựu vĩ đại hơn nữa, lập nên những kỳ tích trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, vươn mình của dân tộc”.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự thắng lợi

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với đường lối, chủ trương đúng đắn, chiến lược, sách lược linh hoạt, Đảng ta đã phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới để giành lại độc lập, tự do với nhiều chiến công oanh liệt mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Sau khi thực dân Pháp thất bại, đế quốc Mỹ đã lập tức nhảy vào miền nam Việt Nam, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Nhận rõ âm mưu đó, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, quyết sách, trực tiếp góp phần đập tan các chiến lược: “Chiến tranh đơn phương” (1954-1960), “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1972) mà Mỹ tiến hành.

Ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris được ký kết, quân Mỹ buộc phải rời khỏi miền nam, tình hình chuyển biến theo hướng có lợi cho ta. Tháng 10/1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 (khóa III) đã phân tích sâu sắc tình hình miền nam và chủ trương bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền nam tiến lên. Trên khắp các chiến trường, từ Trị Thiên, Tây Nam Bộ đến vùng ven Sài Gòn, quân và dân ta đã phá vỡ từng mảng lớn kế hoạch “bình định” của địch.

Hội nghị Bộ Chính trị (từ ngày 30/9-7/10/1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ ngày 18/12/1974-8/1/1975) đã xác định kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền nam trong vòng hai năm 1975-1976.

Ngày 6/1/1975, quân ta đã giải phóng thị xã Phước Long. Bộ Chính trị nhận định, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc và chủ trương: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền nam ngay trong năm 1975.

Ngày 10/3/1975, ta mở chiến dịch Tây Nguyên với trận mở màn tiến công vào Buôn Ma Thuột. Đòn tiến công chí mạng đó đã buộc địch rút khỏi toàn bộ Tây Nguyên. Thời cơ cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng ngày càng rõ, ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị họp bàn, bổ sung vào quyết tâm chiến lược: thực hiện phương án tranh thủ thời cơ, giải phóng hoàn toàn miền nam ngay trong năm 1975.

Tình hình diễn biến mau lẹ, khẩn trương với sự tan rã hàng loạt của địch ở các địa phương và sự phát triển nhanh chóng của lực lượng cách mạng, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương họp bàn, nhận định thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền nam và chủ trương: tập trung nhanh nhất binh lực, vật lực giải phóng miền nam trước mùa mưa.

Trên đà chiến thắng, quân ta thần tốc tiến công giải phóng Huế (ngày 26/3), Đà Nẵng (ngày 29/3) và các tỉnh ven biển miền trung.

Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp, ra quyết định: nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất.

Thực hiện chủ trương của Đảng, với tinh thần: Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam, quyết chiến và toàn thắng, quân và dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở Sài Gòn. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi.

Chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật ấy đã được phát triển lên một tầm cao mới, đó là: chủ động đánh giá đúng tình hình và có quyết tâm chỉ đạo chiến lược đúng đắn; lựa chọn hướng (khu vực), mục tiêu chủ yếu của chiến dịch; vận dụng cách đánh đột phá kết hợp với thọc sâu, tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của quần chúng; bài học về tập trung lực lượng thành sức mạnh tổng hợp lớn nhất, áp đảo địch vào những trận đánh và thời cơ quyết định; tạo thời cơ, tận dụng thời cơ, thần tốc, quyết thắng và vận dụng linh hoạt các thủ đoạn tiến công địch…

Thực hiện chủ trương của Đảng, với tinh thần: Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam, quyết chiến và toàn thắng, quân và dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ cuối cùng của địch ở Sài Gòn. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã chứng minh một chân lý: Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có Đảng cách mạng tiên phong lãnh đạo; có truyền thống đoàn kết, thống nhất và ý chí tự lực, tự cường; có quân đội anh hùng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; có tinh thần đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng, chí nghĩa, chí tình thì hoàn toàn có đủ khả năng để chiến thắng những thế lực mạnh hơn gấp nhiều lần./.

 

CHÍNH SÁCH NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA VỀ THÚC ĐẨY, BẢO VỆ “QUYỀN CON NGƯỜI” VÀ NHỮNG THÀNH TỰU BẢO VỆ “QUYỀN CON NGƯỜI” TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI      

NTH

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định “quyền con người” là nội dung có tính pháp lý, nhất quán. Mục tiêu xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là không ngừng nỗ lực để người dân được bảo đảm, thụ hưởng một cách đầy đủ nhất các “quyền con người”, quyền cơ bản của công dân. Chính vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình đổi mới tư duy trên mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội thì vấn đề đổi mới tư duy về “quyền con người” cũng luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, chú trọng, theo hướng nhất quán trong chính sách, cũng như thúc đẩy bảo vệ “quyền con người” và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Một là, nhất quán quan niêm về quyền con người.

Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), quan niệm về “quyền con người” đã được Đảng nhắc đến với tư cách là quyền công dân, là việc chăm lo đời sống Nhân dân và tôn trọng, bảo đảm những quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định. Đến Đại hội lần thứ VII, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, quan niệm về “quyền con người”, quyền công dân đã được Đảng chính thức được ghi nhận với tư cách là hai đối tượng tương đối độc lập. Đảng ta nhấn mạnh con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Do đó, cần tôn trọng và bảo vệ “quyền con người”, gắn “quyền con người” với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của Nhân dân. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng rất chú trọng chăm lo đời sống tinh thần của con người, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người.

Hai là, nhất quán quan điểm về vấn đề an ninh con người.

Vấn đề an ninh con người lần đầu tiên được đề cập trong Văn kiện Đại hội XII. Trong văn kiện này, Đảng ta đã đề ra các giải pháp để tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người mà nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu chính là phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đến Đại hội XIII, vấn đề an ninh con người được đề cập sâu sắc, toàn diện hơn, đã đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, là mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước. Đảng ta nhất quán khẳng định: An ninh con người cần phải kết hợp giữa yếu tố an ninh và phát triển bởi an ninh con người được xác định là một thành tố trong an ninh quốc gia, có mối quan hệ mật thiết với an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng.

Ba là, nhất quán quan điểm đối ngoại của Đảng về “quyền con người”.

          Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán với phương châm hành động là chủ động, tích cực trong các hoạt động hợp tác quốc tế và mở rộng đối thoại trong lĩnh vực quyền con người. Trên tinh thần đó, Đại hội IX của Đảng lần đầu tiên khẳng định trách nhiệm quốc gia trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về “quyền con người”. Tiếp đó, tại Đại hội lần thứ X khẳng định “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền”. Đến Đại hội XI của Đảng các quan điểm trên được làm rõ hơn, Đảng ta nêu rõ: “Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết”. Theo đó, quan điểm đối ngoại của Đảng về “quyền con người” nổi bật trên hai phương diện: Thứ nhất, coi trọng trách nhiệm quốc gia trong việc thực thi các cam kết quốc tế về “quyền con người”; Thứ hai, kiên định quan điểm “quyền con người” thuộc chủ quyền quốc gia và gắn bó chặt chẽ với chủ quyền và độc lập của dân tộc. Do đó, mọi sự giúp đỡ quốc tế, kể cả các cơ chế nhân quyền quốc tế chỉ có tác dụng hỗ trợ nhằm hoàn thiện hơn các cơ chế đang vận hành tại mỗi quốc gia; mọi sự can thiệp đều trái với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế hiện đại. Đây chính là sự nhất quán, kiên định trong tư duy đổi mới của Đảng về thực hiện chính sách đối ngoại đối với các vấn đề về “quyền con người”.

Bốn là, những thành tựu quan trọng về thúc đấy, bảo vệ “quyền con người” của Đảng, Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới.

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng, ban hành thành công nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy cao nhất nội lực, đặt con người là trung tâm của quá trình phát triển, lấy quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân là mục đích cao nhất của mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Đây là một đặc trưng cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của con người về mặt chính trị. Các vấn đề lớn của Nhà nước luôn được thông qua với sự đóng góp, đề đạt, nêu ý kiến của mọi thành phần trong xã hội. Điển hình như việc bảo đảm quyền được tham gia vào Quốc hội của các thành phần trong xã hội không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo… Theo đó, số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số tại nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (2021 - 2026) hiện nay là 89/499 đại biểu đại diện cho 32 dân tộc thiểu số (đạt 17,8 %, gần sát với chỉ tiêu quy định mới về ứng cử viên dân tộc thiểu số theo luật định hiện nay là 18%). Quốc hội khóa XV cũng ghi nhận có 151 đại biểu nữ tham gia Quốc hội (đạt 30,2% vượt chỉ tiêu được đề ra là đạt 30%). Tỷ lệ nữ tham gia Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp cũng cao hơn so với các nhiệm kỳ trước đó. Ngoài ra, có 5 chức sắc thuộc các tôn giáo khác nhau cũng tham gia Quốc hội kỳ này… Thứ ba, trên phương diện quốc tế, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Hiện nay, Việt Nam đang là thành viên của 7/9 điều ước quốc tế quan trọng về “quyền con ngưtế” và là thành viên của 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về quyền của người lao động, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Theo thống kê của Liên hiệp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng cao nhất thế giới (tăng gần 46% trong 30 năm qua); tỷ lệ biết chữ cũng ở mức cao (trong độ tuổi từ 15 - 60 là 97,85%, độ tuổi từ 15 - 35 là 99,3%); tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam theo kết quả điều tra dân số mới nhất năm 2024 đã đạt 74,7 tuổi, cao hơn mức tuổi thọ trung bình của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2% dân số cả nước, vượt trội hơn đáng kể so với mức trung bình của thế giới. Việt Nam cũng đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG) và nhận được nhiều ghi nhận trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG). Đặc biệt hơn, theo Chỉ số Trật tự và Luật pháp toàn cầu mới nhất, Việt Nam được đánh giá không chỉ là quốc gia hòa bình nhất ở châu Á mà còn là quốc gia an toàn thứ 7 trên toàn thế giới.

Trong sự nghiệp đổi mới được Đảng ta khởi sướng từ năm 1986 đên nay, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định quan điểm coi con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển, mọi chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước đều nhằm bảo đảm quyền con người, quyền dân tộc của Việt Nam ở mức cao nhất. Do vậy, dưỡi sự lãnh đạo của Đảng vấn đề “quyền con người” đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng lên. Ngày nay, trên hành trình bước vào kỷ nguyên vươn mnh của dân tộc, “quyền con ngườb” là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực phát triển đất nước vẫn là mục tiêu kiên định, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; chú trọng triển khai hiệu quả các chính sách, biện pháp bảo vệ, bảo đảm quyền của các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương; tăng cường công tác truyền thông về “quyền con người”. Kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, chống phá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về “quyền con người”.