KHẲNG ĐỊNH KINH TẾ NHÀ NƯỚC GIỮ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO TRONG ĐIỀU TIẾT, DÌU DẮT THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
LHS
Trong suốt quá trình đổi mới của đất nước. Kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là quan điểm chỉ đạo nhất quán xuyên suốt của Ðảng ta kể từ Ðại hội VIII
đến nay. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường
xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước. Thực tế này đòi hỏi cần có sự quán triệt sâu sắc, nhận thức khách
quan, đúng đắn ngay từ mỗi người dân về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt
Nam, nhất là trong tình hình hiện nay.
Trong nhiều năm qua,
kinh tế nhà nước đã và đang có sự phát triển tốt, ngày càng khẳng định vị thế
chủ đạo trong nền kinh tế của đất nước. Đồng thời có những đóng góp tích cực
giúp cho “kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Lạm phát,
bội chi ngân sách Nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát;…”[1]. Tuy nhiên, trên một số
diễn đàn, mạng xã hội thường xuyên xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ
nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước như: “kinh tế nhà nước với hàng loạt
doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ chỉ là gánh nặng của nền kinh tế”, “phải xóa bỏ
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước vì đã là kinh tế thị trường thì mọi thành
phần kinh tế đều phải được bình đẳng, tự do cạnh tranh”… Những lập luận này
khiến một số người bị thuyết phục nhưng thực chất là những quan điểm phản khoa
học, phiến diện, chủ quan cảm tính.
Trước hết, cần khẳng định kinh tế nhà nước không đồng
nhất với doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế (bao gồm
các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân mà nhà
nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu) do nhà nước tổ chức, quản lý, điều
hành. Ngoài doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước còn có các yếu tố khác
thuộc sở hữu nhà nước như tài nguyên quốc gia, ngân hàng nhà nước, ngân sách,
quỹ dự trữ quốc gia,...
Vì vậy, không thể lấy dẫn chứng về hạn chế của một số
doanh nghiệp nhà nước để quy chụp thành yếu kém của cả thành phần kinh tế nhà
nước. Hơn nữa, thực tế cho thấy, mặc dù chúng ta thừa nhận vẫn còn nhiều doanh
nghiệp nhà nước “chậm thực hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị”; “hiệu
quả sản xuất, kinh doanh còn thấp; tình trạng nợ, thua lỗ, lãng phí còn lớn”[2] , một số doanh nghiệp
buông lỏng quản lý để xảy ra tham nhũng, hay đầu tư không hiệu quả dẫn đến thua
lỗ hàng nghìn tỷ đồng, song theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, có tới 15/16
tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước được kiểm toán năm 2020 sản xuất, kinh
doanh có lãi; tỷ suất lợi nhuận tại một số đơn vị đạt tương đối cao.
Số
liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư tại Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam
năm 2020 cũng chỉ rõ: hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
đạt tỷ lệ khá cao (78,5% có lãi, 2,2% hòa vốn và 19,3% thua lỗ) so với doanh
nghiệp ngoài nhà nước (43,7% có lãi, 7,7% hòa vốn và 48,6% thua lỗ). Dù chỉ
chiếm 0,4% trong tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng doanh nghiệp nhà nước đã
huy động được 9,65 triệu tỷ đồng vốn cho sản xuất, kinh doanh, với doanh thu
thuần cao nhất là 13,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 323,64 nghìn tỷ
đồng, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tới 96,9% tổng số doanh
nghiệp cả nước nhưng chỉ thu hút được 22,25 triệu tỷ đồng vốn, doanh thu đạt
3,41 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 190,36 nghìn tỷ đồng. Năm 2025, Tổng doanh thu khu vực doanh nghiệp nhà nước là
2.930.753 tỷ đồng (trong đó, doanh nghiệp Trung ương là 2.616.736 tỷ đồng,
chiếm 89,3% tổng doanh thu; doanh nghiệp địa phương là 374.017 tỷ đồng, chiếm
10,7% tổng doanh thu).
Thứ hai, việc
xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là sự định hướng phát
triển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm thực hiện các mục tiêu của tiến
trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà còn cho thấy sự
khác biệt lớn của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ðó là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng
kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ
môi trường, bảo đảm quốc phòng-an ninh. Kinh tế nhà nước chính là “công cụ, lực
lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều
tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của
cơ chế thị trường”[3],
bảo đảm cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo đúng định hướng xã
hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước trực tiếp phụ trách những lĩnh vực trọng yếu
liên quan đến an ninh chủ quyền quốc gia, quân sự quốc phòng. Bảo đảm an sinh xã hội, tài nguyên quốc gia,
hay đầu tư ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn mà doanh nghiệp tư nhân không thể
hoặc không muốn làm nhưng cần thiết cho tiến trình phát triển kinh tế của đất
nước theo mục tiêu đã định. Vì lợi ích đông đảo tầng lớp nhân dân như xây dựng
kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, cung ứng dịch vụ công ích, đầu
tư vào những ngành có vốn đầu tư lớn, ở địa bàn khó khăn, nhiều rủi ro, khó thu
được lợi nhuận cao...
Kinh
tế nhà nước giúp tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển
(như hỗ trợ, ưu đãi về vốn, hỗ trợ về hạ tầng cơ sở, chuyển giao ứng dụng khoa
học công nghệ,…); giảm thiểu, khắc phục được những khuyết tật của cơ chế thị
trường. Bảo vệ, hỗ trợ nhóm yếu thế, dễ gặp rủi ro,... Ðặc biệt, kinh tế nhà
nước chính là bộ phận quan trọng để định hướng sự phát triển của các thành phần
kinh tế theo mục tiêu tiến bộ, công bằng, văn minh, không để các doanh nghiệp
ngoài nhà nước tự do theo đuổi lợi nhuận bằng mọi giá, vì lợi ích tư nhân mà
bất chấp lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng,...
Thứ ba, không thể chỉ dựa
vào việc một số doanh nghiệp tư nhân kinh doanh hiệu quả để kết luận rằng kinh
tế tư nhân mới xứng là chủ đạo. Bởi lẽ, mặc dù Ðảng ta xác định “kinh tế tư
nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, đồng thời thừa nhận, những
năm qua, khu vực kinh tế này có “đóng góp ngày càng lớn và trở thành một động
lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước”[4],
tuy nhiên, thực tế cho thấy, “Khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước chủ yếu
có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tạo ra giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh,
hiệu quả hoạt động, kỹ năng quản trị hạn
chế”[5],
cơ cấu ngành nghề chưa thật sự hợp lý, chủ yếu mới tập trung ở lĩnh vực dịch vụ
thương mại nhỏ lẻ, quy mô siêu nhỏ và nhỏ chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp,
năng suất còn thấp, chỉ bằng khoảng 34% năng suất lao động của khu vực doanh
nghiệp nhà nước và khoảng 69% của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, năng
lực khoa học công nghệ còn hạn chế…
Với
nguồn lực giới hạn, kinh tế tư nhân cũng không thể hoặc không muốn đầu tư vào
những ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn, mức độ rủi ro cao, địa bàn khó khăn, hay
những ngành nghề ít lợi nhuận, phục vụ cộng đồng, đặc biệt là các lĩnh vực liên
quan đến an ninh, quốc phòng, tài nguyên quốc gia,...
Thứ tư, cho rằng để cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là
“ưu ái đối với kinh tế nhà nước”, “phân biệt đối xử bất công với các doanh
nghiệp khác”, “cạnh tranh không lành mạnh”,... là sự xuyên tạc vô căn cứ. Bởi
lẽ, quan điểm nhất quán của Ðảng là: “các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”, doanh nghiệp nhà nước cũng
phải “cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”[6]. Nhà nước luôn coi trọng
“tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp”, bảo đảm
“thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu
tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế”[7].
Mỗi thành phần kinh tế dù có vai trò, vị trí không giống
nhau song đều có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, góp phần đem lại những thành tựu phát triển đáng mừng, nâng cao tầm
vóc, vị thế và uy tín nước ta trên trường quốc tế. Dù xác định kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo song không hề có sự phân biệt đối xử với các thành phần
kinh tế khác, ngược lại còn coi “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”,
“Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc
dân”[8]. Đồng thời nỗ lực chỉ đạo
không ngừng củng cố, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, khuyến khích
phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế tư
nhân.
Từ
những phân tích trên đây có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo là đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và là tiêu chí quan
trọng bảo đảm tính định hướng XHCN cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trước thực trạng
vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém của thành phần kinh tế này. Đảng ta đã
khẳng định: “ đổi mới kinh tế nhà nước, trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước theo
các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp
nhà nước.”[9]
Kinh tế nhà nước là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế
quốc dân ở mọi quốc gia, song vai trò và phạm vi của Kinh tế nhà nước có sự
khác biệt tùy theo mô hình kinh tế và trình độ phát triển. Ở Việt Nam, Kinh tế
nhà nước là khu vực kinh tế đặc biệt, do Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản
lý, vừa đại diện chủ sở hữu; được xác định giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các
ngành, lĩnh vực then chốt, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế. Theo đó, vai trò chủ đạo của Kinh tế nhà nước được khẳng định xuyên
suốt trong Hiến pháp và các văn kiện của Đảng, gần đây nhất là Nghị quyết số
79-NQ/TW. Kinh tế nhà nước nắm giữ các nguồn lực then chốt của quốc gia, giữ
vai trò quan trọng trong ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế và dẫn dắt phát
triển các ngành, lĩnh vực chiến lược. Đồng thời, Kinh tế nhà nước được xác định
phát triển bình đẳng với các khu vực kinh tế khác, vận hành theo nguyên tắc thị
trường, nâng cao hiệu quả, minh bạch và tiên phong trong kiến tạo phát triển,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới mô hình tăng trưởng.
[1] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.46.
[2] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.81.
[3] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129.
[4] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.210.
[5] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.326.
[6] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129.
[7] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.131, 203.
[8] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2021, tr.129, 130.
[9] Ðảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, H. 2026, tr.91.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét