Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2022

 ''Quét sạch chủ nghĩa cá nhân''

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước phải tu tâm, tích đức, phải “vứt bỏ cái ba lô chủ nghĩa cá nhân” trong con người mình.

Nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1969), tại ngôi nhà mà nay trong hồ sơ Khu di tích Phủ Chủ tịch gọi là “Nhà 67”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài cuối cùng về đạo đức. Trong bài viết, Người căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, biểu dương tinh thần hy sinh gương mẫu, đạo đức trong sáng của cán bộ, đảng viên, đồng thời kịch liệt lên án những hành vi, tư tưởng cá nhân hẹp hòi. Bác lấy tên bài viết trên là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”, trong đó hai từ đầu tiên của tên bài, Bác cân nhắc tới 3 lần. Lần đầu là “đập nát”, nhưng Bác bảo đập nát nó vỡ, song mảnh vụn vẫn rơi rớt lại; sau đó là “rửa sạch”, nhưng Bác bảo chưa thành một chiến dịch truy quét; nên sau cùng Bác dùng từ “quét sạch”.

Khi bản thảo viết xong, Bác bảo cán bộ văn phòng đưa sang để đồng chí Tố Hữu, Trưởng ban Tuyên huấn của Đảng tham gia ý kiến. Đồng chí Tố Hữu đã xin Bác được đảo vế của tên bài là “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác đồng ý với tên bài như đồng chí Tố Hữu tham gia, nhưng Bác đề nghị nội dung của bài vẫn để đúng như Bác nêu “quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Ngày 3-2-1969, Báo Nhân dân đăng bài viết của Bác. Toàn Đảng tổ chức việc học tập, quán triệt bài dạy đó của Bác, mở ra đợt sinh hoạt chính trị quan trọng trong dịp kỷ niệm ngày sinh lần thứ 39 của Đảng.

Nay học lại điều Bác dạy, mỗi cán bộ, đảng viên càng thấm thía rằng: Ngẫm suy thời cuộc hiện nay, chủ nghĩa cá nhân đã len lỏi trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý ở cấp cao - họ đã biến mình thành một loại giặc như Bác Hồ đã nhận định: “Chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ địch ở bên trong. Địch ở bên trong đáng sợ hơn, nó phá từ trong phá ra”. Và vì vậy, Bác Hồ coi chủ nghĩa cá nhân như là một thứ rác rưởi, cho nên Bác dặn phải “quét sạch”. Và Bác đã chỉ bảo cho chúng ta biết những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân để quét sạch nó đi:

“1. Bệnh quan liêu: Quan liêu là bệnh của những người và những cơ quan lãnh đạo xa rời thực tế, xa nhân dân, mất dân chủ. Các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào, việc gì thì như ông vua con, tha hồ hạch sách, hoạnh họe ở vùng ấy, lĩnh vực ấy. Đối với cấp trên thì xem thường, với cấp dưới cậy quyền lấn át, với quần chúng thì quan cách. Bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề đối với Đảng, Nhà nước và xã hội trước hết là tham ô, lãng phí. Do đó, muốn diệt trừ sạch tham ô, lãng phí thì cần phải diệt giặc quan liêu”.

“2. Bệnh tham lam: Những người mắc bệnh này đều đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Chữ tôi to hơn chúng ta, không lo mình vì mọi người, mà chỉ muốn mọi người vì mình. Do đó họ tự tư tự lợi, dùng của công làm việc tư, dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, tham ô, hủ hóa, sinh hoạt xa hoa...”.

“3. Bệnh lười biếng: Tự cho mình cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết, làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Ngại khó khăn gian khổ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm tìm cách trốn tránh”.

“4. Bệnh kiêu ngạo: Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng. Không muốn người khác phê bình mình. Việc gì cũng muốn làm thày
người khác”.

“5. Bệnh hiếu danh, tham lam, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Vì tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chứ không ham làm công tác thiết thực”.

“6. Bệnh hữu danh vô thực: Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít, xuýt ra nhiều, để làm một báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ thì rỗng tuếch”.

“7. Bệnh cận thị: Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chút những việc vụn vặt. Những người như thế chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy lợi hại to lớn”.

“8. Bệnh tỵ nạnh: Cái gì cũng muốn bình đẳng, sinh ra hiểu lầm hai chữ bình đẳng, không hiểu rằng người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ, người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc ít, việc dễ thì ăn ít thế mới bình đẳng”.

“9. Bệnh xu nịnh a dua: Những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”.

“10. Bệnh kéo bè kéo cánh: Ai hợp với mình thì dù xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người ta xuống. Từ đó đi đến bè phái chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước”.

Từ sự chỉ bảo trên đây của Bác Hồ mà Nghị quyết Hội nghị TƯ4 (khóa XII) về chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra tội ác của chủ nghĩa cá nhân: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, phải “đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, lợi ích nhóm”.

Như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Nếu không đánh bại, không quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là một Đảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân được”, trong cuộc chỉnh đốn Đảng lần này, toàn dân đang mong Đảng ta sẽ quét sạch được các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân mà Bác Hồ từng chỉ ra, để thực hiện thành công Nghị quyết TƯ4 (khóa XII). Chỉ có “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” thì Đảng ta mới thật sự là “Đảng cầm quyền”, là “Đảng đạo đức”, là “Đảng văn minh” như cả cuộc đời Bác Hồ đã chăm lo xây dựng, rèn luyện và mong đợi.

                                      Công Bằng

 Khát vọng hùng cường

          Kết thúc năm 2021, GDP của Việt Nam tăng khoảng 2,58%. Trước đó, sau khi nới lỏng các biện pháp phòng dịch và kiềm chế được dịch bệnh, GDP quý IV/2021 ước tính tăng 5,22%, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng của quý IV các năm 2011 - 2019. Dù mức tăng trưởng đó thấp hơn chỉ tiêu nhưng trong bối cảnh nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội trong nhiều tháng liền, một số “đầu tàu kinh tế” bị tăng trưởng âm, thì tăng trưởng này vẫn là một tín hiệu tích cực.

Tuy nhiên, từ thực tế đó, có một số người đã “tranh thủ” công kích, phê phán năng lực lãnh đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ và mai mỉa, giễu cợt các định hướng lớn về phát triển đất nước được đặt ra tại Đại hội XIII của Đảng. Chẳng hạn, Đài Á châu Tự do (RFA) cho rằng, sau một năm nhìn lại, tình hình kinh tế - xã hội, trái lại, có phần ảm đạm hơn, những khó khăn và thách thức vẫn rất lớn cho những năm sắp tới của nhiệm kỳ 2021 - 2026 cũng như chiến lược phát triển... Thái độ này thực ra rất bình thường đối với một cơ quan truyền thông cực kỳ thành kiến với Việt Nam. Dẫu vậy, vẫn có một số người nhẹ dạ và nhân đó tỏ ra hoài nghi về các mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới.

Chúng ta đều nhớ rằng, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu phát triển tổng quát của đất nước là “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội cũng xác định rõ: “Trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa và bổ sung phù hợp với những thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước; đồng thời nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước và những chuẩn mực phát triển chung của thế giới, chúng ta xác định các mục tiêu cụ thể không chỉ trong nhiệm kỳ khóa XIII mà hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta trong những thập niên sắp tới, như: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Các cột mốc 2030 gắn liền với kỷ niệm 100 năm ra đời của Đảng, còn mốc 2045 là tròn 100 năm thành lập nước. Định hướng này rõ ràng là có tầm chiến lược và mang tính phấn đấu rất cao. Chính văn kiện Đại hội cũng nêu rõ: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”. Tức là mục tiêu đó là một chỉ dẫn quan trọng, cần được sự đồng lòng, chung tay, góp sức của tất cả mọi người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, tất cả cán bộ, đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, mục tiêu luôn là một định hướng để người ta có thể đi xa, bởi khi đó người ta biết rằng mình đi về phía nào và từ đó có thể chuẩn bị đi bằng phương tiện gì. Dù đối với từng cá nhân, tổ chức hay một đất nước, một dân tộc, mục tiêu với những định hướng rõ ràng, cụ thể vẫn luôn có ý nghĩa dẫn dắt, thúc đẩy sự phấn đấu tích cực nhằm đạt đến cái đích đó (để rồi tiếp tục có những cái đích khác theo những điều kiện cụ thể).

Do đó, những mục tiêu ở các cột mốc năm 2025, 2030, 2045 hoàn toàn không phải đặt ra cho có hoặc để làm đẹp văn kiện mà chính là ý chí của Đảng nhằm vươn tới những mục tiêu tốt đẹp cho nhân dân, cho dân tộc, cho đất nước. Ý chí đó cũng không phải mang tính chủ quan của Đảng hay của Ban Chấp hành Trung ương mà chính là nguyện vọng, mong mỏi của mọi người Việt Nam, của toàn dân tộc, đồng thời căn cứ vào những tính toán mang tính khoa học với rất nhiều thông số đã có, như dân số, tài nguyên, khả năng tăng trưởng qua các năm, tiềm lực quốc gia, sự ổn định chính trị - xã hội, xu hướng vận động của đất nước và của thế giới… Và, các định hướng này cũng hoàn toàn phù hợp dự báo của các tổ chức quốc tế, vốn cho rằng Việt Nam sẽ trở thành một nước phát triển và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới vào giữa thế kỷ này.

Năm 2021, Việt Nam với GDP khoảng 400 tỷ USD, đứng thứ 41 trong số các nền kinh tế của thế giới. Quy mô kinh tế đó dĩ nhiên vẫn còn rất khiêm tốn (chỉ chiếm 0,4% tổng GDP toàn cầu) và vẫn là nước đang phát triển, có thu nhập trung bình thấp. Dẫu vậy, đó vẫn là sự tiến bộ vượt bậc ở một đất nước chỉ thực sự tập trung cho phát triển kinh tế trong hơn 35 năm, sau hơn 40 năm bị xâm lược và phải chiến đấu kiên cường với rất nhiều tổn thất, hy sinh. Ở thời điểm khi vừa thành lập nước, năm 1945, cái tên Việt Nam thậm chí còn chưa xuất hiện trên bản đồ thế giới, vốn vẫn được gọi bằng những cái tên do kẻ thống trị đặt hoặc bằng cách gán ghép với những quốc gia khác…

Nhưng hiện nay, vị thế của Việt Nam đã hoàn toàn khác. Không chỉ có sự tiến bộ vượt bậc về kinh tế và các yếu tố liên quan đến chất lượng sống của người dân mà còn vị thế, vai trò của đất nước trên trường quốc tế. Những điều đó đã minh chứng đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng ta là đúng đắn, đồng thời khẳng định những mục tiêu từ nay đến năm 2045 là phù hợp thực tiễn và xu hướng phát triển của đất nước, chứ hoàn toàn không phải là viển vông hay ảo tưởng.

Tình hình đất nước năm 2021 cực kỳ khó khăn không phải hoàn toàn bất ngờ mà đã được dự báo từ trước. Đại hội XIII đã xác định: “Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19”; đồng thời “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”. Và cũng vì không bất ngờ nên Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ đã thống nhất không điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng để thể hiện sự quyết tâm hoàn thành các mục tiêu đã được đề ra trong nhiệm kỳ.

Năm 2021 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII đã có những thử thách lớn lao chắc chắn sẽ thúc đẩy những năm còn lại phải nỗ lực nhiều hơn, phấn đấu cao hơn, quyết tâm lớn hơn. Điều đó cũng có nghĩa là toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải tự mình đặt các mục tiêu cao hơn, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ có hiệu quả hơn để góp phần bù đắp lại những thiếu hụt, tổn thất do dịch bệnh gây ra trong năm 2021. Tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai” như trong kháng chiến chống Mỹ giờ đây cần được khơi gợi, thúc đẩy để từng người trong vai trò, vị trí của mình đều phải thực sự cố gắng và có được kết quả như mong muốn.

Do đó, chúng ta phải cùng thống nhất một nhận thức rằng: Khát vọng hùng cường là phù hợp ý nguyện của mọi người Việt Nam… Vì vậy, đã có khó khăn thì chúng ta càng cần phấn đấu chứ không nên nghe theo những lời “bàn ra”. Và, càng có nhiều thử thách thì chúng ta càng kết đoàn, bền chí, như đúng cách mà cha ông ta đã thể hiện…

                                      Công Bằng

 GIẢI PHÁP CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI

Chúng ta đều biết tư tưởng, lý luận là lĩnh vực quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng, mà rộng ra là công tác lãnh đạo của Đảng. Tư tưởng không vững, lý luận không chắc, đường lối, chủ trương sẽ đứng trước nguy cơ mất phương hướng chính trị, thể chế đứng trước nguy cơ bị chệch hướng XHCN. Chính vì vậy vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, cùng với những thay đổi trong chiến lược phản cách mạng, các thế lực thù địch đã lấy lĩnh vực tư tưởng, lý luận làm mũi nhọn đột phá quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá các nước XHCN và cách mạng nước ta. Học thuyết “Chiến thắng không cần chiến tranh” đặc biệt phát huy tác dụng khi chúng sử dụng các chiêu bài thông qua lĩnh vực tư tưởng, văn hoá và lý luận. Tiến hành công tác tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng nói riêng là trách nhiệm của tất cả các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Trong đó quân đội là một trong những lực lượng nòng cốt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phòng chống DBHB.

Thời gian qua, quân đội tham gia đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị trên hai cấp độ, hai bình diện:

Cấp độ thứ nhất: Đấu tranh tầm vĩ mô trên bình diện xã hội có sức lan toả rộng lớn mang tính toàn cầu. Cấp độ này, tính chất đấu tranh diễn ra ở tầm hệ tư tưởng, tầm học thuyết liên quan đến vấn đề cơ bản về hệ tư tưởng và lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – những vấn đề có ý nghĩa lớn và giá trị thời đại. Ở cấp độ này, đòi hỏi việc lãnh đạo, chỉ đạo, xác định nội dung, tổ chức lực lượng, đảm bảo phương tiện, cách thức đấu tranh phải rất bài bản, chặt chẽ với tính chuyên nghiệp cao, cùng với công tác hiệp đồng, phối hợp giữa các cấp chặt chẽ, đồng bộ và ý nghĩa của cuộc đấu tranh này không chỉ ở trong nước mà phạm vi toàn cầu. Ở cấp độ này, về mặt lãnh đạo, chỉ đạo cần có sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất từ Quân uỷ Trung ương đến các cấp uỷ, tổ chức đảng, sự chỉ đạo từ Tổng cục Chính trị đến cơ quan chính trị các cấp và đội ngũ chính uỷ, chính trị viên.
Với sự tham gia của các tổ chức, lực lượng trong toàn quân, trong đó lực lượng nòng cốt, trực tiếp, thường xuyên tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng- văn hoá, tập trung vào các cơ quan thông tấn báo chí, văn học – nghệ thuật, các học viện, nhà trường; các cơ quan tuyên truyền tư tưởng – văn hoá của quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn và tương đương. Đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ nghiên cứu, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục- đào tạo; phóng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp. Trong đó cần chú ý lực lượng nòng cốt, tiên phong về tư tưởng, lý luận phải là những chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực tư tưởng – văn hoá – lý luận có đầy đủ kiến thức, năng lực, trình độ và kinh nghiệm đấu tranh, đặc biệt là phải chủ động, linh hoạt, nhạy bén trong mọi tình huống. Đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên bình diện xã hội, là đấu tranh chống các quan điểm, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, chống phá ta về nền tảng chính trị- tư tưởng, ý thức hệ mà cụ thể là chống phá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời cũng kết hợp đấu tranh các quan điểm sai trái, nhận thức mơ hồ, lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về hệ thống lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Hình thức đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở bình diện xã hội chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: sách, báo, tạp chí, phát thanh – truyền hình, mạng xã hội.

Thông qua tính chất phát tán, lan truyền nhanh của các phương tiện truyền thông tạo sức lan toả, ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc đấu tranh chống diễn biến hoà bình của lĩnh vực tư tưởng- văn hoá đến tới hàng trăm triệu người trên toàn thế giới trong thời gian ngắn nhất.

Phương tiện đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá và lý luận là hệ thống công nghệ hiện đại kết hợp với những công cụ, phương tiện truyền thống, nhất là công nghệ thông tin, truyền thông, internet…

Lực lượng phối hợp các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội và sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các lực lượng này. Phạm vi tác động ảnh hưởng rộng lớn trên cả nước và quốc tế. Tính chất của đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, chính là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh thức hệ giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và các học thuyết, quan điểm đối lập của giai cấp tư sản cùng các thế lực phản động. Đây cũng là mặt trận nóng bỏng đang diễn ra từng ngày, từng giờ và tuyệt nhiên không có khói thuốc súng. Tuy nhiên nó cũng quyết liệt, mạnh mẽ, không khoan nhượng.

Cấp độ thứ hai: Tiến hành đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn hoá trong nội bộ quân đội. Nội dung đấu tranh là sử dụng các tài liệu do Tổng cục Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn cùng các tài liệu được phát hành công khai về đấu tranh chống diễn biến hoà bình làm tài liệu giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ, nhằm vạch trần, bản chất âm mưu, thủ đoạn thâm độc chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và phê phán những biểu hiện tiêu cực, thoái hoá, nhận thức sai lệch, mơ hồ do ảnh hưởng từ tự diễn biến, từ sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, của tai tệ nạn xã hội… thông qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bảo vệ hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, bảo đảm sự thống nhất nhận thức, ổn định tình hình tư tưởng cán bộ, chiến sĩ đơn vị.

Lực lượng nòng cốt tiến đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá ở các đơn vị quân đội là đội ngũ chính uỷ, chính trị viên, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên, đội ngũ những người làm công tác báo chí, xuất bản, văn hoá-nghệ thuật… ở tất cả các cấp.

Hình thức chủ yếu thông qua công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, thông báo thời sự, sinh hoạt chính trị hằng tuần, hàng tháng,ngày pháp luật, ngày chính trị văn hoá – tinh thần… công tác tuyên truyền miệng, hệ thống truyền thanh nội bộ, các hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân, các hoạt động giao lưu, kết nghĩa với chính quyền, đoàn thể địa phương nơi đóng quân. Phương tiện chủ yếu dựa vào các trang thiết bị vật tư CTĐ, CTCT và những thiết chế văn hoá ở các đơn vị. Về tính chất, đây không phải là cuộc đấu tranh địch – ta phân biệt rõ ràng mà chính là hướng vào mục tiêu xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện và tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh giúp các đơn vị tăng cường khả năng miễn dịch, khả năng đề kháng trước chiến lược diễn biến hoà bình. Góp phần chống tự diễn biến, tự suy thoái, về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân trên địa bàn…

Trong cuộc đấu tranh phòng chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị hiện nay, quân đội ta phải tham gia ở cả hai cấp độ, hai bình diện, cần kết hợp nhuần nhuyễn linh hoạt cả hai cấp độ đó, không được xem nhẹ bất cứ cấp độ nào. Về mặt nhận thức, cũng cần phân biệt rõ đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên các lĩnh vực tư tưởng – văn hoá, chính trị, bạo loạn lật đổ của địch. Các cuộc đấu tranh này có sự giao thoa về nội dung, hình thức, lực lượng, phương tiện… nhưng không đồng nhất. Nếu không phân biệt rõ từng cuộc đấu tranh đó, sẽ không đề ra được nội dung, phương pháp, hình thức, không tổ chức tốt lực lượng, phương tiện, dẫn đến những hạn chế, bất cập trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện.

Một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị đó là:

Một là: Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo,quản lý cuộc đấu tranh cống diễn biến hoà bình trên linh vực tư tưởng văn hoá. Trên cơ sở các chủ trương, giải pháp chống diễn biến hoà bình ở tầm chiến lược của Quân uỷ Trung ương, cấp uỷ các cấp cần có nghị quyết chuyên đề và đưa vào lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên việc đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá. Theo đó, Ban chỉ đạo 94 và người chỉ huy cơ quan, đơn vị các cấp cần xây dựng kế hoạch triển khai từng năm, từng quý, đồng thời tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc.

Hai là: Trên cơ sở chất lượng đội ngũ cán bộ hiện có, cấp uỷ, cán bộ chủ trì các đơn vị lựa chọn những đồng chí có năng lực, kinh nghiệm, bản lĩnh chính trị vững vàng để tham gia vào lực lường nòng cốt, trực tiếp đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá ở đơn vị mình. Cấp trên có thể giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị đấu tranh hoặc giao nhiệm vụ cho lực lượng nòng cốt của các đơn vị đấu tranh theo các vấn đề, nội dung phân công. Lực lượng này phải được quán triệt, giao nhiệm vụ và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện cụ thể; thường xuyên trao đổi rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, định hướng hoạt động; kịp thời biểu dương, khen thưởng những đồng chí hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ…

Ba là: Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội tham gia đấu tranh; đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại và xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, kiến thức, năng lực công tác tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hoá.

Báo chí quân đội cần nắm chắc tình hình chủ động tiến công chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh cần chuyển biến mạnh mẽ sang thế chủ động tiến công gồm 6 giải pháp đó là:

– Chủ động phủ xanh thông tin, định hướng dư luận xã hội.

– Chủ động không gian mạng để truyền bá quan điểm đúng đắn, thông tin trung thực, chính xác, phản bác kịp thời thông tin sai lệch, sai trái.

– Chủ động đưa các sản phẩm thông tin đa dạng phong phú, sinh động đến các đối tượng trong quân đội, trong nước và quốc tế.

– Chủ động đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên các diễn đàn tranh thủ sự ủng hộ của dư luận trong nước và quốc tế về hình ảnh đất nước con người Việt Nam.

– Chủ động quản lý thông tin, cung cấp thông tin cho báo chí, tạo điều kiện để báo chí tiếp cận thông tin chính thống, tiếp cận sự kiện, định hướng thông tin về các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tránh sơ hở trong thông tin hoặc để lọt lộ bí mật. Hạn chế tối đa tình trạng địch lợi dụng sơ hở của ta trong thông tin để chống phá ta. Đặc biệt lưu ý địch có thể dùng chính thông tin trên báo chí của ta, người của ta để chống phá từ nội bộ bên trong chúng ta.

Cuối cùng chúng ta cần chủ động đối thoại với những người có quan điểm chưa thống nhất đối với Đảng, Nhà nước, hoặc chưa hiểu đường lối chính sách, chưa nhất trí hoặc có ý kiến khác. Giải toả thông tin từ cơ sở, từ nội bộ các đơn vị quân đội. Các cơ quan báo chí theo tôn chỉ mục đích của mình đều có thể tham gia phòng chống tích cực nhiệm vụ đấu tranh chống diễn biến hoà bình trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn hoá. Mục tiêu là tạo ra sức đề kháng tốt nhất cho toàn dân, toàn quân trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch.

Tổ chức tốt lực lượng trong từng cơ quan báo chí (phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên) và huy động nhân dân tham gia, có thể dưới các hình thức thi sáng tác văn học, nghệ thuật, báo chí… đồng thời đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viết chuyên sâu về các lĩnh vực, hình thành các nhóm chuyên gia, các nhóm lý luận nòng cốt để triển khai nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, trong từng giai đoạn cụ thể. Quan tâm, giải quyết tốt chế độ, chính sách cho đội ngũ nòng cốt này.

Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí quân đội, giữa cơ quan báo chí quân đội với báo chí Trung ương, các ngành, các địa phương trong tổ chức tuyên truyền, sản xuất các tác phẩm, sản phẩm văn hoá nghệ thuật.

Đầu tư mạnh mẽ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho các cơ quan báo chí quân đội. Chủ động kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm sai trái; đẩy mạnh thông tin đối ngoại, tạo điều kiện cho báo chí quân đội tiếp cận thông tin để tuyên truyền về Việt Nam, về công tác quân sự, quốc phòng và Quân đội nhân dân Việt Nam trên các diễn dàn quốc tế.

                                      Công Bằng

 Đề phòng bệnh hãnh tiến, hiếu thắng

Có một điểm chung từ những vụ án, vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, đó là đối tượng phạm tội, vi phạm kỷ luật, suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống... là người trẻ chiếm tỷ lệ cao.

Khi chưa bị điều tra, xử lý, không ít người trong số họ từng được đánh giá là cán bộ có năng lực, doanh nhân giỏi. Một trong những nguyên nhân khiến họ suy thoái, vi phạm pháp luật đó là tính hãnh tiến, hiếu thắng, muốn thành công bằng mọi giá...

Từ những bài học nhãn tiền

Vụ án tiêu cực xảy ra tại Công ty Việt Á liên quan đến hành vi móc nối, cấu kết “thổi” giá vật tư y tế để trục lợi trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn quốc, đang tiếp tục làm “nóng” dư luận. Việc cơ quan chức năng tiếp tục mở rộng điều tra vụ án, nhiều cán bộ ở một số ngành, địa phương liên quan bị khởi tố, đã cho thấy quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, không có vùng cấm trong xử lý vi phạm của Đảng, Nhà nước ta. Trong một diễn biến khác, vụ việc Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Cô Tô (Quảng Ninh) Lê Hùng Sơn bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm nghiêm trọng phẩm chất đạo đức, lối sống, cũng là đề tài bàn tán xôn xao của dư luận xã hội. Điểm đáng chú ý ở những vụ án, vụ việc được dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt này là những cán bộ, người đứng đầu bị xử lý thuộc diện cán bộ trẻ. Nhìn lại những vụ án, vụ việc tiêu cực bị cơ quan chức năng kiểm tra, điều tra, xử lý được công bố rộng rãi trên công luận thời gian qua, chúng ta thấy, tỷ lệ người trẻ “nhúng chàm” chiếm đa số. “Soi” hồ sơ, tiểu sử của những đối tượng này, nhiều người bày tỏ sự xót xa, tiếc nuối. Nhiều người trong số họ là cán bộ được đào tạo căn bản, có triển vọng, từng có thành tích xuất sắc trong lãnh đạo, quản lý, sản xuất kinh doanh, được trao tặng những phần thưởng danh giá. Một số trường hợp từng được kỳ vọng là “hạt giống đỏ” của ngành, địa phương, doanh nghiệp...

Vậy, điều gì khiến họ sa ngã, suy thoái về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng? Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ rõ, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất... Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của tổ chức Đảng: “Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng...”. Sự nể nang, cục bộ... trong công tác cán bộ diễn ra ở không ít tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương đã vô hình trung đưa vào bộ máy những nhân tố hãnh tiến, hiếu thắng, tư tưởng mang nặng chủ nghĩa cá nhân.

Khi còn sống, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) có kể cho chúng tôi nghe câu chuyện nhỏ, đáng suy ngẫm. Chuyện là khi ông mới nghỉ hưu, một cán bộ tổ chức của địa phương đến nhà chúc Tết, có tham khảo ý kiến ông về một số nhân sự đang được quy hoạch nguồn cán bộ kế cận. Ông đã góp ý về một trường hợp cụ thể, rằng cậu ấy chưa đủ độ "chín" để giữ cương vị đó, cần thời gian rèn luyện, tu dưỡng thêm. Đưa một cán bộ trẻ có tư tưởng hãnh tiến, hiếu thắng, “ngựa non háu đá” vào vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền, rất dễ gây họa. Mặc dù vậy, dự kiến của tổ chức vẫn không thay đổi. Vị cán bộ trẻ vẫn được bổ nhiệm theo quy trình. Mới đầu, anh ta gây chú ý bởi một số tuyên bố, hứa hẹn trong những lần đăng đàn hội nghị. Nhưng sau đó thì có biểu hiện lộng quyền, làm trái nguyên tắc, quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền, kết bè kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ và cuối cùng là bị xử lý kỷ luật, điều chuyển công tác.

Dẫn một ví dụ như vậy để thấy, đưa cán bộ vào bộ máy thì dễ, nhưng khi cán bộ làm trái nguyên tắc, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ để loại bỏ họ ra khỏi bộ máy lại vô cùng khó khăn, phức tạp. Khi đưa được họ ra khỏi bộ máy thì tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó đã bị “ngấm đòn”, yếu kém, bết bát kéo dài, hậu quả để lại rất nặng nề.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thể hiện ở chỗ: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân... Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ nhiều trường hợp còn nể nang, cục bộ...”.

Nhận diện, ứng xử với “ngựa non”

Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...

Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, trọng dụng cán bộ trẻ là chủ trương lớn của Đảng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, xây dựng đất nước hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...”.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng, cần phải làm thật tốt công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Đảng ta tin tưởng, kỳ vọng vào cán bộ trẻ, nhưng đó phải là những nhân tố hội tụ đủ cả đức lẫn tài. Chính đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn nhân lực trẻ của Đảng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là lực lượng chủ lực tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi đội ngũ cán bộ trẻ phải thực sự là đạo đức, là văn minh từ tư duy, lời nói, việc làm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng”.

Đến Đại hội lần thứ XIII, hệ thống các quy định, hướng dẫn, nghị quyết... của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, bảo đảm chặt chẽ, khoa học. Thực hiện nghiêm các quy định, Điều lệ Đảng, sẽ không có chuyện bố trí sai người, sai việc. Tuy nhiên, mầm mống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền... trong hệ thống chính trị vẫn luôn là nguy cơ gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng. Bởi vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng. Chỉ khi việc học tập trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên thì chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong công tác cán bộ, mới thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đảng khuyến khích và có chủ trương bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là những đặc trưng, thế mạnh của cán bộ trẻ. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá... hoàn toàn đối lập với thói hãnh tiến, hiếu thắng, làm liều. Phân biệt những thuộc tính này đối với cán bộ trên thực tế không khó. Những cán bộ hội tụ đủ cả đức và tài, sự năng động, sáng tạo, đột phá của họ luôn hướng đến lợi ích chung, làm lợi cho tập thể, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Ngược lại, thói “ngựa non háu đá” của một bộ phận cán bộ hãnh tiến, hiếu thắng, thực chất là biểu hiện, hệ quả của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. “Ngựa non háu đá” thì lực của những cú đá chỉ đủ lắc rung nhành cây, ngọn cỏ. Vấn đề là, khi đã biết đó là “ngựa non” thì tuyệt đối đừng để nó “sổng” vào khu hoa màu, tác hại khôn lường./.

                                      Công Bằng

 “Bắt đúng bệnh, tìm đúng thuốc”

Bắt đúng những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên thường mắc phải để có phương thuốc phòng ngừa, chữa trị kịp thời, không để biến chứng, lây lan là công việc hết sức quan trọng nhằm tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

NHỮNG CĂN BỆNH DỄ MẮC

Cần thẳng thắn thừa nhận thực tế là từ khi nước nhà thống nhất cho đến nay có thời gian, có nơi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”(1)

Từ đánh giá đó, Đảng ta đã đi vào “mổ xẻ từng ung nhọt trên cơ thể mình”. Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã chỉ rõ các căn bệnh chính của cán bộ, công chức, đảng viên đó là: Sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.v.v... Các căn bệnh như đã nêu được Đảng ta quy thành hai nhóm, đó là những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và nhóm những việc làm sai trái trong công tác cán bộ mà cụ thể là tình trạng chạy chức, chạy quyền.

Nguyên nhân cơ bản của những căn bệnh trong Đảng và hệ thống chính trị dù ở nhóm nào cũng từ chủ nghĩa cá nhân (CNCN) mà ra. Đảng ta coi CNCN như một thứ vi trùng vô cùng độc hại gây ra đủ các thứ bệnh rất nguy hiểm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Từ chỗ coi CNCN là “kẻ thù của cách mạng”, Đảng ta xác định, đấu tranh chống CNCN là một nội dung trọng tâm và cũng là một giải pháp rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Có thể nói Đảng ta đã “bắt đúng bệnh”, vấn đề còn lại là tìm “đúng thuốc” để phòng ngừa, chữa trị.

Những căn bệnh mà cán bộ, công chức, đảng viên dễ mắc phải không khó để nhìn thấy, nhận thấy nhưng khi đi vào mổ xẻ, phân tích để công khai, chỉ tên từng con người cụ thể là việc không hề đơn giản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người, đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự phê bình, phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác...”(2). Mục đích của tự phê bình và phê bình theo đúng nghĩa rất nhân văn và hữu ích. Nhưng với không ít người sau khi đối mặt với phê bình, chỉ trích, danh dự, uy tín bị ảnh hưởng đã sa sút ý chí phấn đấu, giảm sút tinh thần, thậm chí có người tìm cách trả đũa người đã phê bình mình... Nói như thế để thấy cuộc đấu tranh phòng ngừa, điều trị những căn bệnh trong Đảng rất khó khăn, phức tạp.

Dân gian có câu "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Những lời chỉ trích mạnh mẽ, những hình thức xử lý kỷ luật dù khó chấp nhận, nhưng lại góp phần rất quan trọng vào sự phát triển, thành công của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên cũng như từng tập thể, tổ chức trong Đảng và hệ thống chính trị. Trong 5 năm (2016 - 2020), hơn 25.000 cán bộ, đảng viên suy thoái, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị kỷ luật, trong đó hơn 8.200 đảng viên bị xử lý kỷ luật do suy thoái về tư tưởng chính trị, hơn 15.000 cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống; hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có 27 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương và 4 Ủy viên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị… Những con số biết nói ấy đã phần nào thể hiện rõ tinh thần quyết tâm, tính chất quyết liệt của Đảng ta trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Sự dũng cảm, mổ sẻ và kiên quyết chặt bỏ những “cành sâu mọt” ấy không làm Đảng ta yếu đi mà thực sự đã và đang làm cho Đảng ta ngày càng mạnh lên. Nhiều mặt hạn chế, yếu kém mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra đã được khắc phục. Bước đầu chúng ta đã ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những kết quả đã đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã khẳng định trong xã hội ta công tội rõ ràng, tốt xấu phân minh, trắng đen không thể lẫn lộn. Đảng và Nhà nước ta không thể để những người suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tự tung tự tác làm tổn hại tới thanh danh của Đảng và hệ thống chính trị.

Có thể khẳng định, những kết quả bước đầu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần cảnh báo, răn đe, giáo dục với đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên trong Đảng và hệ thống chính trị; làm cho xã hội trong sạch, lành mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ được củng cố và tăng cường. Đây là nguồn động lực to lớn để Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG GẮN VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt những nhiệm kỳ gần đây của Đảng đã khẳng định: Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng góp phần rất quan trọng có tính quyết định vào thành tựu chung của đất nước. Nhờ những kết quả đạt được trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đoàn kết, thống nhất hơn; TSVM hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố, nâng cao hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là bài học quý báu, là vấn đề then chốt quyết định đến sức mạnh, uy tín của Đảng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta. Nhận thức cho đúng đắn, sâu sắc về vị trí, ý nghĩa và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là hết sức quan trọng.

Tạo bước chuyển mới trong nhận thức không chỉ là cơ sở nền tảng mà còn là chìa khóa phát huy tinh thần trách nhiệm, nêu cao ý chí, quyết tâm, kiên quyết, kiên trì, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết vượt khó trong quá trình thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Đảng ta. Bước chuyển trong nhận thức chính cũng là cơ sở để nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ nghiêm túc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Chính vì thế trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của các tổ chức đảng cũng như cá nhân các đảng viên, yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải nâng cao nhận thức.

Một trong những kinh nghiệm mà Đảng ta rút ra qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII là tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng và nội dung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Muốn tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đưa công tác này lên tầm cao mới, gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM thì trước hết đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên của Đảng phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và những nội dung của nhiệm vụ “then chốt” này. Mới đây, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: “Phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của kết luận và quy định, nắm vững những tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình để gương mẫu, tự giác thực hiện và chỉ đạo, tổ chức thực hiện”(3).

Ý thức rõ sự cần thiết phải tạo được bước chuyển biến mới về nhận thức nên thời gian qua các tổ chức đảng đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến, quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vẫn còn những khoảng trống. Những biểu hiện nhận thức lệch lạc, thiếu đúng đắn, chưa sâu sắc về nhiệm vụ “then chốt” vẫn tồn tại ở một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên. Tồn tại đầu tiên trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ ra là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng”(4).

Thực tế tại nhiều địa phương, không phải cán bộ, công chức, đảng viên nào cũng hiểu rõ tính chất quan trọng, cấp bách, cần thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một nguyên nhân dẫn đến hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bị xử lý kỷ luật trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đó là nhận thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn hời hợt, nên tổ chức thực hiện chưa tốt, có biểu hiện xem nhẹ, hình thức.

Chủ trương tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM mà Đại hội XIII của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Vậy mà trong một số ít cán bộ, đảng viên xuất hiện những suy nghĩ, tư tưởng, quan điểm sai trái khi cho rằng xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là hai công việc khác nhau. Xây dựng hệ thống chính trị là công việc của chính quyền. Đảng gắn hai công việc đó là lạm quyền, khiên cưỡng, không phù hợp. Việc Đảng ta ban hành các quy định cũng có ý kiến cho là chồng chéo, không cần thiết bởi các nội dung ấy điều lệ, pháp luật đã quy định rồi...

Đây là khoảng trống rất nguy hiểm trong nhận thức của cán bộ, công chức và đảng viên. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khoảng trống này bóp méo, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng ta.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta xác định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt coi trọng và nâng lên một tầm cao mới, gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Mấu chốt để thực hiện có hiệu quả công tác “then chốt” này là phải khắc phục cho được những hạn chế trong nhận thức.

Để làm được điều này, chúng ta cần tiến hành đồng bộ và toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết, phải tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục làm cho mọi cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ vai trò chủ trì, chủ chốt, đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn, sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Thông qua tuyên truyền giáo dục, làm cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ về sự phát triển mới của Đảng ta.

Thực tiễn cho thời gian qua cho thấy năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Hệ thống chính trị ở nước ta chưa thực sự TSVM như mong muốn; không ít cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực vẫn thiếu tu dưỡng và rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự;... Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” nhưng trước thực trạng trên, tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Như vậy, không chỉ đề cập đến công tác xây dựng Đảng mà song hành Đảng ta xác định phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng; tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị TSVM. Sự phát triển này là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và rất quan trọng, đòi hỏi các cấp ủy, từng cán bộ, đảng viên phải nhận thức cho rõ ràng và sâu sắc.

Mặt khác, công tác tuyên truyền giáo dục cần làm cho cán bộ, công chức, đảng viên hiểu rõ Hiến pháp 2013 và Điều lệ Đảng đã quy định Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Do đó, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hay nói cách khác, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, địa vị cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng ta. Cán bộ, công chức, đảng viên cần hiểu rõ những quan điểm, tư tưởng trái chiều như đã nêu là do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ hoặc kẻ xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc nhằm động cơ chống phá.

Do đó cùng với công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt, phổ biến nâng cao nhận thức, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên, nhất là lực lượng chuyên trách phải dũng cảm, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức sai lệch, những tư tưởng, quan điểm sai trái nhằm phá hoại công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị TSVM của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG

Thực tiễn đã khẳng định, chính sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với Dân là cội nguồn sức mạnh để Việt Nam có được cơ đồ, vị thế như ngày nay. Thấu hiểu rất rõ điều ấy nên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị của Đảng ta “được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình ủng hộ,…”(5)

Thực tế đã cho thấy sự tin tưởng, mong mỏi và kỳ vọng của nhân dân ở Đảng và Nhà nước ta là rất lớn. Kết quả điều tra xã hội học của Viện Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy: Tuyệt đại đa số nhân dân khẳng định quyết tâm đi theo Đảng, ủng hộ Đảng đến cùng vì mục tiêu cao cả chăm lo, bảo vệ lợi ích tối cao và toàn diện của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Thực trạng hàng chục nghìn cán bộ, công chức, đảng viên vi phạm kỷ luật, vướng vào vòng lao lý đã thể hiện rõ sự dũng cảm, tinh thần quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn, gột rửa mọi dơ bẩn bấy lâu nay và nhìn nhận đó là việc cần làm, phải làm để Đảng và hệ thống chính trị của ta thực sự TSVM, thực sự vì dân, vì nước. Nhân dân mong muốn và kỳ vọng Đảng ta trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Nếu Đảng ta không nhận thức đúng, trúng vấn đề và hành động một cách quyết liệt thì những căn bệnh của Đảng sẽ không được chữa trị kịp thời, giống như những “cục máu đông” làm cho cơ thể Đảng yếu kém, suy sụp.

Đảng ta cũng xác định phải đặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong tổng thể thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Quy định khác của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ... Kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phải đặt trong mối quan hệ với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cả nước, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thúc đẩy việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng ta và chế độ XHCN ở Việt Nam. Quyết tâm, quyết liệt nhưng Đảng ta cũng xác định rõ không được nóng vội, chủ quan mà phải thận trọng, từng bước đi đúng đắn, phù hợp. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng”(6).

Để triển khai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng ấy, Đảng ta xác định phải triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả nhiều giải pháp như: Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, nhất là giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, công chức, đảng viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh đấu tranh tự phê bình và phê bình; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là cơ chế kiểm soát quyền lực; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội;…

Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là phát huy tính tích cực, chủ động tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của cán bộ, công chức, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên phải biết tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự chỉnh sửa mình cả trong công tác và cuộc sống. Sự chuyển biến tiến bộ thực sự chính là thước đo nhận thức, ý thức trách nhiệm, hiệu quả quá trình rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống và chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, công chức, đảng viên.

Trước yêu cầu mới của cách mạng, trước thực trạng tình hình, tuyệt đại đa số nhân dân cho rằng việc Đảng ta xác định tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là đúng, trúng và rất cần thiết. Cán bộ, công chức, đảng viên và nhân dân ta tin tưởng rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp, với quyết tâm chính trị rất cao, được nhân dân tin tưởng, đặt nhiều kỳ vọng, đồng tình ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII mà trực tiếp nhất là các Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng TSVM, thật sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc; hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực sự là “công bộc của dân”./.

 --------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2012, tr. 21.

(2) (3) (4) (5) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận, Chỉ thị, Quy định của Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

(6) Phát biểu bế mạc của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

                                       Công Bằng