Nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam
NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VỀ HÒA HỢP
DÂN TỘC
Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch thường xuyên đưa
ra các quan điểm sai trái, xuyên tạc và phủ nhận về chính sách hòa hợp dân tộc
của Đảng, Nhà nước ta. Bên cạnh các tài liệu, văn bản phát tán trái phép, họ đã
tận dụng triệt để sự phát triển của công nghệ số mà điển hình là dùng Internet
để chống phá. Thông qua một số website, các mạng xã hội, các ứng dụng
(app) chạy trên nền tảng điện thoại thông minh…, các thế lực thù địch đã tăng
cường xuyên tạc, bóp méo về chính sách hòa hợp dân tộc của Việt Nam.
Có thể nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái xuyên tạc và
phủ nhận về hòa hợp dân tộc qua các nhóm vấn đề sau:
Thứ nhất, các
thế lực chống đối và thù địch cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực
sự vì xã hội Việt Nam luôn có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc
người với nhau, đặc biệt là mâu thuẫn giữa người Kinh và các dân
tộc thiểu số, giữa người Công giáo và phần còn lại của dân tộc...
Đặc điểm chung của các bài viết này là đưa ra
những những nhận định, những quan điểm hồ đồ và hết sức phiến diện, kiểu
như “Chúng ta cần hòa giải giữa các sắc tộc thiểu số và người Kinh. Chúng ta
cần hòa giải giữa người Nam và người Bắc. Chúng ta cần hòa giải giữa người Công
giáo và phần còn lại của dân tộc, nhất là với Phật giáo. Chúng ta cần hòa giải
giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với đất nước...”; “vấn đề hoà giải,
hoà hợp vẫn còn nhức nhối”, “có lẽ dân tộc Việt Nam sẽ cần đến 50 năm nữa
mới có thể chữa lành”; “hòa giải và hòa hợp dân tộc vẫn chưa thực hiện
được tại Việt Nam”… (!?)
Thứ hai,
họ cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc ở Việt
Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước Việt Nam không
có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.
Với quan điểm này, họ đưa ra những bài
viết cực đoan để phủ nhận chính sách, pháp luật về hòa giải, hòa hợp
dân tộc cũng như luôn nghi ngờ về thiện chí của Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta. Ngụy biện hơn, họ rêu rao rằng: “đa số người
dân cả trong và ngoài nước đều cho rằng không thể có hòa hợp, hòa giải với chính
sách hiện nay của chính phủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản...”(!?).
Thứ ba,
họ tự nhận mình là “người đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền
đề xuất cho cái gọi là “phương cách hòa hợp”.
Để cổ súy cho luận điệu này, trên một số website hải ngoại,
với những bài viết công kích, xuyên tạc, các thế lực chống đối và thù địch
cho rằng chỉ có họ mới có thể đưa ra cách hiểu đúng cho hòa giải, hòa
hợp dân tộc: “Hòa giải và hòa hợp dân tộc cũng là một trong ba lập trường
căn bản của tập hợp dân chủ đa nguyên”(!?) và vu khống: “có sự thiếu
tin tưởng vào thực tâm và thiện chí muốn hòa giải của các bên”... Những người
này cũng tự huyễn hoặc cho mình cái quyền “đại diện” để đề ra “phương
cách song phương và đơn phương” để tiến hành hòa giải hòa
hợp. Theo đó, “phương cách song phương” là “đại diện hai
bên Việt Nam và Việt Quốc ngồi lại với nhau để cùng giải quyết mâu thuẫn căn
bản (!?)”; còn “Phương cách đơn phương” là yêu cầu đảng và nhà cầm
quyền Việt Nam hiện nay phải “thực tâm, có thiện chí” (!?)...
Thứ tư, lợi
dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, dễ truy
cập của mạng Internet, các thế lực chống đối và thù địch
đã thường xuyên dẫn lại, cố tình chỉnh
sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi mà không có
và không cần nguồn kiểm chứng nhằm phá hoại, xuyên tạc. Theo số liệu
thống kê, các thế lực thù địch đã “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền
hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt, trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung
rất phản động, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam…”(1).
Thứ năm, họ
cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn cấm đoán và hạn chế
các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn
1954-1975. Vì thế vẫn chưa có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc (!?).
Để minh họa cho luận điệu trên, các thế lực chống đối và thù địch
cố tình căn cứ vào một số quy định mà Đảng và Nhà nước ta ban hành trong giai
đoạn 1975-1985 và chủ ý lờ đi những đổi mới trong lý luận và thực tiễn, cũng
như những thành tựu từ 1986 đến nay, từ đó khẳng định: hiện nay Việt Nam vẫn
cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt
Nam giai đoạn 1954-1975...
SAI LẦM CỦA CÁC QUAN ĐIỂM, LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI
VỀ HÒA HỢP DÂN TỘC
Nhìn chung, dù được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng
tựu trung, các quan điểm sai trái trên đều nhằm cùng mục đích: cố tình xuyên
tạc, bôi nhọ chính sách hòa hợp của Đảng và Nhà nước ta, qua đó hòng kích động,
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thay đổi và phá hoại sự ổn định chính trị -
xã hội và cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng.
Qua nhận diện các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về hòa hợp
dân tộc, chúng tôi xin làm rõ các nội dung sau:
Thứ nhất, sai lầm khi cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc
thực sự
Thực tiễn cho
thấy, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, ở Việt Nam không có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tộc
người với nhau, đặc biệt là giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số.
Chúng
ta biết rằng, mâu thuẫn hoặc xung đột tộc người, tôn giáo thường bắt nguồn từ
sự khác biệt về hệ tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và cả những khác biệt văn hóa…
giữa các tộc người, tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở tầm bao quát chung
của nhân loại, hoặc đã và đang diễn ra ở một số nước, khu vực trên thế giới.
còn ở Việt Nam lại hoàn toàn khác. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam
cũng đã có những xung đột hoặc cuộc chiến
xảy ra (ví dụ như sự chuyển tiếp, thay thế quyền lực giữa các vương triều:
Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê…; phân tranh Trịnh - Nguyễn; Đàng Trong - Đàng Ngoài…)
nhưng các cuộc chiến, xung đột này (bao gồm những liên minh và đối địch, tạm thời hay lâu dài) không
phải là xung đột hoặc chiến tranh mang màu sắc thanh trừng sắc tộc, tôn
giáo mà chỉ là các cuộc chiến, xung đột
dựa trên quyền lợi thiết thân với tính chất chuyển giao hoặc thôn tính quyền
lực, lợi ích… được thực hiện
bởi các vua, chúa; ở mỗi bên “tham chiến”, đội quân thường là sự tập hợp lực
lượng bao gồm những người cùng chung mục đích về lợi ích kinh tế, quyền lợi hay
địa vị xã hội... được xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc, tầng lớp xã hội
khác nhau.
Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu
đời, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng
14,7% dân số cả nước)(2). Mặc dù người Kinh là dân tộc chiếm đa
số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước,
vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng như những đóng góp vào đời sống
xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được đảm bảo. Đơn cử như trong Quốc
hội, số lượng đại biểu
Quốc hội người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa
I: 10,2%, khóa XIII: 15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XII: 17,7%, khóa XV: 17,84%.
Trong
quan hệ tôn giáo, thực tiễn cũng đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo và không
có sự mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các tôn giáo, tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bình đẳng,
không bị phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt động bằng pháp luật;
người dân được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều này đã được
kiểm chứng, thừa nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn giáo lớn trên thế
giới. Trong Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế - Việt Nam 2018 của Đại sứ quán và Tổng Lãnh sự quán Hoa
Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến pháp (của Việt Nam) quy định mọi
người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do không theo
một tôn giáo nào. (...) Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều bình đẳng
trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và “Việt Nam là thành viên của
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”(3).
Trong
sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của
các tôn giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công
giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo...), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều
tới thăm, chúc mừng và cùng các tôn giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”.
Đặc biệt, với đặc tính dung hòa sẵn có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu
hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người
dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du
lịch, tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng…
Thứ
hai, rất ấu trĩ khi cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa
hợp dân tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà
nước Việt Nam không có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.
Phát
huy truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về
đoàn kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải
lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn
kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”(4), Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành các chính sách, luật pháp cùng những hành động thiết
thực về hòa giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị quyết số 36-NQ/TW
về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị
thực cho người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục
đẩy mạnh thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác
đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới... Đặc biệt, chính
sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc, như: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu
nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và
ngoài nước”(5), “Hỗ trợ
để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế
và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại”(6), “Làm
tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn
lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước”(7). Các cơ quan chuyên trách về công tác
người Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã
làm tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua giúp người Việt Nam ở nước
ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại, hướng về Tổ quốc…
Những
lý lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là “đãi bôi” hay “con
đường nửa vời” trong việc ban hành các chính sách, luật pháp về hòa giải,
hòa hợp dân tộc của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí trong
quá trình hòa hợp dân tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về của những
kiều bào từng làm việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước... là minh chứng
tiêu biểu nhất. Trường hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng
hòa Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển hình. Trở về quê hương sau gần 30
năm xa xứ, ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là chính sách đúng đắn
của chính phủ Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở nước ngoài là một bộ phận của
cộng đồng dân tộc Việt Nam”(8). Hoặc như trường hợp của nguyên chuẩn
tướng, quyền Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hoà Nguyễn
Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực trong chế độ cũ cho đến lúc qua đời
(2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã có
những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu biểu của những người
Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho dù chỗ đứng ở đâu,
cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”(9).
Không
chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam thiết tha thực tâm trở về với
đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm thiết thực, nhân văn để giúp đỡ,
bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị
nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc
khuyến cáo và có những hành động kịp thời để bảo hộ công dân tránh khỏi những
tổn thất về người và của trước những xung đột, biểu tình, đảo chính ở một số
nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở nước ngoài trở về Tổ quốc trước
đại dịch COVID-19... đã chứng minh cho thiện chí hòa hợp và tinh thần “không ai
bị bỏ lại phía sau”.
Thứ ba, hoàn toàn ngộ nhận và sai lầm khi các thế lực thù địch tự
nhận mình là “người đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền, đề
xuất về cái gọi là “phương cách hòa hợp”.
Xét ở góc độ luật pháp, “đại diện” là việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người,
cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lí trong phạm vi thẩm
quyền đại diện. Quyền đại diện được xác lập theo sự ủy quyền, theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc
theo quy định của pháp luật… Trong hiến pháp và pháp luật của hầu hết các quốc
gia trên thế giới, “đại diện” là một trong những chế định quan trọng được
ghi nhận. Ví dụ như tại Mục 1, Điều 3 của Hiến pháp Nga: “Nhân
dân Nga đa sắc tộc là đại diện cho chủ quyền và là nguồn duy nhất của quyền lực
ở Liên bang Nga”(10), hoặc trong Điều 135, Bộ luật Dân sự
năm 2015 của Việt Nam, “quyền đại diện” cũng được quy định
rõ: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và
người đại diện; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều
lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”(11)... Lấy cơ sở
pháp lý làm căn cứ, chúng ta thấy những hoạt động (từ phát ngôn cho đến
các hành động cụ thể) của những người trong Việt Tân, Việt Quốc,
Khối 8406, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời... chỉ nhân danh cho
chính bản thân họ hoặc cho một nhóm người “cùng chung tham vọng”; việc đưa ra
các “tuyên ngôn” chẳng qua chỉ là chiêu bài lừa mị những người nhẹ dạ cả
tin, những người đã lâu không có điều kiện nắm bắt tình hình trong
nước...; các bài viết đăng tải trên Internet của họ chỉ thể hiện
quan điểm cá nhân, nhóm người
và hoàn toàn không phải là quan điểm đại diện cho nhân dân Việt Nam.
Đặc biệt, những người này không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào (sự
ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều lệ pháp nhân, quy
định của pháp luật…) để có thể “đại diện” cho số đông hay “nguyện vọng của đa
số”, nhất là khi nguyện vọng của đa số ở đây không phải là mong ước chính
đáng, phù hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân và các tổ chức
chính trị - xã hội Việt Nam, mà chỉ là tham vọng của một
nhóm người mang mưu đồ ích kỷ, xấu xa.
Khi đã không có cơ sở pháp lý để “đại
diện” cho “nguyện vọng của đa số” thì cái gọi là “phương cách hòa
hợp” cũng chỉ là viển vông. Đối với những kẻ không có tư cách đại
diện, lại thường xuyên sử dụng các hành động khủng bố thì dĩ nhiên
các “phương cách hòa hợp” chỉ đơn thuần là một cách diễn đạt nhằm
đánh tráo khái niệm, và mục đích chính là nhằm lật đổ chế độ xã hội
chủ nghĩa, cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.
Thứ tư, ấu trĩ và sai lầm khi
lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, truy
cập của mạng Internet để dẫn lại, chỉnh
sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi, không có và
không cần nguồn kiểm chứng... nhằm xuyên tạc, phá hoại
chính sách hòa hợp dân tộc.
Với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, nhất là khi nhân loại đã
bước vào kỷ nguyên số thì việc dẫn nguồn, biên tập lại một cách méo
mó thông tin sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện, tẩy
chay. Trong khi đó, chỉ cần lướt qua trên Internet, người ta rất dễ tìm
được những thông tin đã được kiểm chứng rõ ràng. Ví dụ như các chương
trình “Xuân Quê hương”, “Trại hè dành cho thanh thiếu niên người Việt ở
nước ngoài”… mà chúng ta đã và đang tiến hành đã được rất nhiều hãng thông tấn
báo chí, các website trên thế giới thừa nhận và đăng tải. Mặt khác, tình trạng
tin giả hiện nay cũng đã được hầu hết các tổ chức, quốc gia cảnh báo và bài
trừ. Về vấn đề này, xin dẫn lại một khuyến
nghị trên Trang tin tức của Tòa thánh Vatican (Vatican News) trong
việc cảnh báo những tin giả (fake new) âm mưu chia rẽ sự đoàn kết về tôn
giáo (trong đó có Công giáo) ở Việt Nam như sau: “Trong thời đại hiện nay,
Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng là mảnh đất tốt để chúng ta có thể
thực hiện việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là mảnh đất màu
mỡ cho những thông tin “phản - Tin Mừng” phát triển, nhưng lại mạo danh hay núp
dưới danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, điều này vô
cùng nguy hiểm!”(12).
Thứ năm, sai lầm khi cho rằng Đảng và Nhà
nước Việt Nam vẫn còn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn
hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 để quy chụp rằng chưa
có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc.
Thời
gian qua, đặc biệt là từ những năm ‘80 của thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên
cứu văn hóa, văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã có nhiều chuyển
biến, cởi mở, “quan điểm chính thức được khẳng định hiện nay là, ủng hộ
việc đẩy mạnh nghiên cứu, chọn lọc phổ biến các giá trị đích thực của văn học
nghệ thuật miền Nam trước 1975 trên tinh thần hòa hợp dân tộc để hàn gắn vết
thương, đoàn kết mọi người cùng nhìn về một phía, thực hiện hòa hợp dân tộc
bằng con đường văn hóa văn nghệ.”(13). Đặc biệt, trong nghiên
cứu khoa học chuyên sâu, đã có nhiều luận văn, luận án, chuyên
luận lấy văn hóa, văn học đô thị miền
Nam (1954-1975) làm đối tượng nghiên cứu, như: Khảo sát sự du
nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước
năm 1975 của Nguyễn Phúc (Luận án Tiến sĩ, 1995); Lý luận phê
bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975 của Trần Hoài Anh (Luận án
Tiến sĩ, 2009); Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị
miền Nam 1954-1975 của Nguyễn Thị Việt Nga (Luận án Tiến
sĩ, 2012); Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong
văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của Nguyễn Thị Thu Trang
(Luận án Tiến sĩ, 2008); Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam
(1954-1975) của Bùi Tiến Sỹ (Luận án Tiến sĩ, năm 2017); Toàn
cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá Thành (Nxb. Đại học
Quốc gia, 2016); Những nguồn cảm hứng trong văn học của Huỳnh
Như Phương (Nxb. Văn nghệ, 2009); Văn học Sài Gòn 1954-1975: Những
chuyện bên lề của Lê Văn Nghĩa (Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)... Ngoài ra, nhiều tác phẩm
văn - sử - triết học cùng các công trình nghiên
cứu có giá trị xuất bản trước 1975 ở miền Nam, nay cũng đã được công nhận và
lưu hành... Như vậy, không có cái gọi là “tồn tại những cấm đoán” trong
nghiên cứu khoa học về miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, có
chăng, chỉ là sự cố tình dựng chuyện và sự vu khống của các thế
lực thù địch.
Khép
lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp là quan điểm hòa hợp, hòa giải
nhân văn của bất cứ quốc gia tiến bộ nào trên thế giới. Với tư cách là một quốc
gia có độc lập chủ quyền, có luật pháp và có vị thế quan trọng trên
chính trường quốc tế, Việt Nam đã và đang làm tốt công tác hòa hợp dân tộc, góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, hòa hợp không đồng nghĩa
với xuyên tạc lịch sử, với vi phạm pháp luật. Chúng ta dang rộng vòng tay
chào đón mọi người con Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới trở về trong hòa
bình, trở về với tâm thế xây dựng đất nước... nhưng chúng ta cũng cương
quyết không chào đón, thậm chí phải loại bỏ những kẻ cơ hội, trở về nhằm mục
đích chia rẽ, phạm pháp và phá hoại đoàn kết dân tộc./.
----------------
(1) Ban Tuyên giáo Trung
ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007,
tr.127.
(2) Cổng thông tin điện tử Ủy ban
Dân tộc,
http://www.cema.gov.vn/tin-tuc/tin-tuc-su-kien/thoi-su-chinh-tri/bao-dam-vai-tro-tham-gia-cua-nguoi-dan-toc-thieu-so-trong-quoc-hoi.htm.
(3)
https://vn.usembassy.gov/vi/irfreport2018/.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn
tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.4, tr.281.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr.159.
(6) Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XIII, Nxb. Chính
trị quốc gia, H, 2021, t.1, tr.171.
(7) Đảng Cộng sản
Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ XIII, Sđd, t.2,
tr.155.
(8) Lan
Anh: Từ cuộc gặp chủ động với tướng Nguyễn Cao Kỳ,
https://tienphong.vn/tu-cuoc-gap-chu-dong-voi-tuong-nguyen-cao-ky-post1331692.tpo.
(9) Long
Hồ-Bình Long: Nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh là tấm gương tiêu biểu của những người
Việt Nam có tinh thần dân tộc và yêu nước, Trang tin điện tử Đảng bộ
TP. Hồ Chí Minh, https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/nhan-si-nguyen-huu-hanh-la-tam-guong-tieu-bieu-cua-nhung-nguoi-viet-nam-co-tinh-than-dan-toc-va-yeu-1491858325.
(10) Văn phòng Quốc Hội: Tuyển
tập Hiến pháp một số nước trên thế giới, Nxb. Thống Kê, H, 2009,
tr.55.
(11)
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx.
(12) Khắc Bá: Tin
mạo danh và vấn đề đặt ra cho Truyền thông Công giáo Việt Nam, https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2020-03/tin-mao-danh-va-van-de-dat-ra-cho-truyen-thong-cong-giao-vn.html.
(13) Hạnh Nguyên: Ứng
xử với văn học miền Nam trước 1975, http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/van-nghe/item/30680502-ung-xu-voi-van-hoc-mien-nam-truoc-1975.html.
Hướng Dương
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét