Thứ Tư, 30 tháng 9, 2020

 

PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU ĐÔNG 1950,

ĐỒNG BÀO CAO- BẮC- LẠNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP, ĐỐI MỚI

TX

Tại hội nghị Tổng kết chiến dịch Biên giới, ngày 27 tháng 11 năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chỉ huy trưởng kiêm chính ủy mặt trận đã nhấn mạnh: “Đảng bộ, đoàn thể nhân dân, cơ quan chính quyền trên địa bàn là động lực chính trong công tác cung cấp, làm nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến”, góp phần quan trọng có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của chiến dịch. Phát huy thắng lợi chiến dịch, đồng bào Cao-Bắc- Lạng đã chung tay xây dựng quê hương trở thành hậu phương vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng của dân tộc: cùng với cả nước giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông - Xuân năm 1953 – 1954, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh Biên giới phía Bắc với tất cả nỗ lực của mình cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Chiến dịch Biên giới Thu đông 1950 còn gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong 2, thực hiện từ ngày 16 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1950, nhằm phá vòng vây mà quân viễn chinh của Đệ tứ Cộng hòa Pháp bố trí nhằm cô lập căn cứ địa Việt Bắc, từ đó khai thông biên giới Việt - Trung để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ của Liên Bang Xô Viết thông qua Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Mặt khác, thắng lợi của chiến dịch sẽ giúp ta có thể mở rộng căn cứ địa, làm tiêu hao sinh lực quân đồn trú Pháp và thử nghiệm các chiến thuật cho các trận đánh lớn sau này.

Nhận thức vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của chiến dịch, ngày 9/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng tiếp tục giúp đỡ bộ đội đánh thắng to, giúp cho chiến dịch được thắng lợi. Ngày 11/9/1950, Người đến Sở Chỉ huy Chiến dịch gặp gỡ, động viên cán bộ, chiến sĩ, xác định quyết tâm đánh thắng trận này và trực tiếp đến Sở Chỉ huy tiền phương tại làng Nà Lạn, xã Đức Long (Thạch An) quan sát đồn Đông Khê. Tại đây, Bác Hồ đã làm bài thơ:

“Chống gậy lên non xem trận địa

 Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

   Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu

                                          Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.

Tin Bác ra trận làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc Cao - Bắc - Lạng, khắp nơi nô nức giết giặc lập công.

Thực hiện kế hoạch tác chiến, ngày 16/9/1950, hai trung đoàn 174 và 209 có pháo binh yểm trợ đã nổ súng đánh đồn Đông Khê. Ngày 18/9/1950, quân ta làm chủ hoàn toàn đồn Đông Khê. Sau 54 giờ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 300 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí trang bị, đạn dược, lương thực. Đông Khê thất thủ, hành lang biên giới bị lung lay, phân khu Cao Bằng bị cô lập, phân khu Thất Khê (thuộc xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn) nằm trên đường số 4 của địch bị uy hiếp, khốn đốn. Để cứu vãn tình thế, ngày 30/9/1950, viên Trung tá Lơ-pa-giơ chỉ huy binh đoàn Bay A với 3.000 quân xuất phát từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê, hợp quân với phân khu Cao Bằng. Các đơn vị bộ đội của Đại đoàn 308, Tiểu đoàn 154, Trung đoàn 209 cùng quân, dân địa phương chặn đánh quyết liệt buộc địch phải co cụm về Cốc Xá. Tại phân khu Cao Bằng, tên Trung tá Sac-tông biết tin binh đoàn Lơ-pa-giơ bị khống chế, không thể lên Nặm Nàng đón chúng như dự định được, theo lệnh cấp trên, Sac-tông mở cuộc hành quân “bão táp” rút nhanh khỏi Cao Bằng vào sáng 3/10/1950. Khi đến Nặm Nàng, chúng phá hủy xe, pháo và chạy vào rừng theo hướng Bản Ca, Quang Liệt để hội quân cùng Lơ-pa-giơ tại điểm cao 477.

Ngày 6/10/1950, Bác Hồ gửi thư động viên bộ đội ta quyết tâm tiêu diệt địch, giành thắng lợi; Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh phải bắt sống Lơ-pa-giơ. Khí thế xung trận mãnh liệt, quân ta tăng cường thêm 3 tiểu đoàn của Đại đoàn 308, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 209 quyết tâm bao vây, chia cắt tiêu diệt địch. Sáng 7/10/1950, quân ta mở đợt tiến công binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá và cánh quân Sac-tông. Chiều 7/10/1950, quân địch tan rã hoàn toàn, quân ta tiêu diệt 677 tên địch, bắt sống 1.386 tên, trong đó có Trung tá Sac-tông, tên tỉnh trưởng ngụy Nông Ngọc Tu cùng Trung tá Lơ-pa-giơ và bộ tham mưu xin đầu hàng, thu toàn bộ vũ khí, tài liệu.

Chiến dịch Biên giới bước vào giai đoạn cuối, quân ta tiếp tục truy kích địch trên đường số 4. Trước sức mạnh tiến công mạnh mẽ của quân ta, ngày 10/10/1950, quân Pháp ở Thất Khê rút chạy về Lạng Sơn. Đến ngày 15/10/1950, hàng loạt các cứ điểm: Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập lần lượt bị tan rã. Sau 29 ngày đêm chiến đấu quả cảm, oanh liệt, Chiến dịch Biên giới Cao - Bắc - Lạng toàn thắng. Quân ta tiêu diệt và bắt sống 8.300 tên địch, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược của chúng ở Đông Dương, thu trên 3.000 tấn vũ khí, xe ô tô và các loại quân trang, quân dụng khác.

Trong quá trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu, quân và dân địa bàn các tỉnh Cao-Bắc-Lạng đã anh dũng, trung kiên, không quản hy sinh, gian khổ, lập nhiều chiến công hiển hách, đó là: Tiểu đội trưởng, liệt sĩ Lý Viết Mưu, quê xã Độc Lập (Quảng Uyên) dù bị thương nặng nhưng vẫn dùng khối bộc phá 12 kg phá tung hầm ngầm địch; Tiểu đội phó La Văn Cầu, quê xã Phong Nặm (Trùng Khánh), nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương cho đỡ vướng, ôm bộc phá lao lên dập tắt hỏa lực địch; Đại đội trưởng, liệt sĩ Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai để quân ta ào ạt xông lên chiếm lĩnh trận địa. Trên 50% dân công hỏa tuyến là phụ nữ trực tiếp ra chiến trường tiếp lương, tải đạn, cáng thương binh. Nhiều chị em đã được Bác Hồ tuyên dương và được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng Hai, gồm các chị: Triệu Thị Soi, Đinh Thị Đậu, Đinh Thị Bỏng, Đàm Thị Nhay, Đinh Thị Mẩn, Nguyễn Thị Bé, Nông Thị Đuông… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen đồng bào Cao - Bắc - Lạng: “Đồng bào Cao - Bắc - Lạng đã làm kiểu mẫu trong việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến. Tôi chắc rằng đồng bào ba tỉnh sẽ luôn cố gắng thêm để giữ địa vị vẻ vang mà tôi chắc rằng đồng bào các nơi khác sẽ thi đua với đồng bào Cao - Bắc - Lạng”.

Quân và dân Cao- Bắc- Lạng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với lòng mong mỏi của Bác. Chiến thắng Biên giới có ý nghĩa trọng đại, quân ta giải phóng 5 thị xã, 12 thị trấn, nhiều vùng đất quan trọng suốt dải biên cương dài 750 km, gồm 35 vạn dân, địa bàn căn cứ địa Việt Bắc rộng mở, thông thương nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tạo nên thế và lực mới trong cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân ta, quân Pháp rơi vào thế bị động, lúng túng; quân và dân ta nắm quyền chủ động trên chiến trường. Từ khi được giải phóng, nhân dân các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn ra sức thi đua lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, đặc biệt là cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân các dân tộc trên địa bàn luôn phát huy truyền thống của quê hương cội nguồn cách mạng, xây dựng hậu phương vững mạnh, đóng góp sức người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ, với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử - mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Giai đoạn 1975 - 1985, sau khi đất nước thống nhất, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tháng 2/1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, Đảng bộ Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn lãnh đạo nhân dân các dân tộc tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Cuộc chiến đấu kết thúc, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc nơi đây đã phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực khôi phục kinh tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.

Từ năm 1986 đến nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng, lợi thế và đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; công tác quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước thực hiện chặt chẽ, hiệu quả; tổng vốn đầu tư toàn xã hội có bước tăng trưởng khá. Hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện, các khu kinh tế cửa khẩu, điểm du lịch được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh, thu hút được nhiều dự án với nhiều nhà đầu tư chiến lược, Dự án đường bộ cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) được Chính phủ nhất trí chủ trương đầu tư tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát triển. Quốc phòng - an ninh được củng cố, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; công tác đối ngoại được mở rộng, tăng cường. Niềm tin trong giai đoạn cách mạng mới càng được phát huy, trải qua 90 năm xây dựng và phát triển, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đổi mới. Việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng Đảng được triển khai thực hiện nghiêm túc, đặc biệt là vấn đề nêu gương, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu.

Suốt chặng đường lịch sử hơn 90 năm, với những thành tích rất đáng trân trọng, tự hào, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập... Những thành tích vẻ vang đó đã khẳng định sự đúng đắn của định hướng chiến lược phát triển; là nền tảng tinh thần vững chắc để nhân dân các dân tộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn tiếp tục vững bước đi lên trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế. Quyết tâm xây dựng Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vững. Góp phần cùng cả nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

 


 

NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH “ĐÁNH ĐIỂM DIỆT VIỆN”

TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU – ĐÔNG 1950

                                           Sự Thật

        Thất bại trong cuộc tiến công chiến lược lên căn cứ địa Việt Bắc Thu - Đông 1947, chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của giặc Pháp bị phá sản, buộc chúng phải chuyển sang chiến lược đánh kéo dài, đẩy mạnh việc củng cố, mở rộng hành lang Đông - Tây; kết hợp chiếm đóng Trung du, đồng bằng Bắc Bộ, củng cố phòng tuyến biên giới phía Đông Bắc, vùng Cao - Bắc - Lạng để “khóa chặt biên giới”, “bóp nghẹt lực lượng kháng chiến”. Những cố gắng của địch đã đặt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trước những khó khăn mới. Tuy nhiên, đến giữa năm 1950, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cách mạng Trung Quốc thành công (1/10/1949), nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng với hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời. Đầu năm 1950, Liên Xô và các nước xã hôi chủ nghĩa lần lượt công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trước thực tế đó, yêu cầu chiến lược của ta lúc này là đánh bại âm mưu phong tỏa biên giới phía Bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Trong bối cảnh đó, tháng 6 năm 1950, Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch trên hướng biên giới Đông Bắc thuộc hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, nhằm mục đích: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông với các nước XHCN, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. 

Thực hiện nhiệm vụ Trung ương Đảng giao, ngày 7-7-1950, Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch Biên giới Cao - Lạng, lấy mật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong. Ngày 27-7-1950, Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy mặt trận và Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch. Đảng ủy viên chiến dịch gồm các đồng chí: Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng chiến dịch; Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm cung cấp; Lê Liêm - Chủ nhiệm Chính trị và Bùi Quang Tạo. Cùng với đó, các cơ quan giúp việc cho Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch cũng gấp rút được thành lập…

Ngày 16 tháng 9, ta nổ súng tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, đến 10 giờ ngày 18 tháng 9 chiếm được Đông Khê, trận đánh kéo dài hơn dự kiến. Đêm 30 tháng 9 rạng ngày 01 tháng 10, binh đoàn Le Page bí mật cơ động từ Thất Khê lên Đông Khê, ta bỏ lỡ trận phục kích lớn ở nam Đông Khê. Ngày 3 tháng 10 địch rút binh đoàn Charton từ Cao Bằng về. Từ ngày 04 đến ngày 08 tháng 10, bộ đội ta lần lượt tiêu diệt binh đoàn Le Page và binh đoàn Charton ở Cốc Xá, dãy điểm cao 477 và 1 số điểm cao khác. Đến ngày 14 tháng 10, hai binh đoàn địch hoàn toàn bị tiêu diệt. Bị thất bại ở Đông Khê, Cốc Xá và điểm cao 477, địch hoang mang rút khỏi các cứ điểm từ Thất Khê đến Lạng Sơn (ngày 17 tháng 10), Đình Lập (ngày 20 tháng 10), An Châu (ngày 23 tháng 10). Đường số 4 và biên giới Việt- Trung hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch kết thúc thắng lợi.

Thắng lợi của chiến dịch là kết quả của rất nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nghệ thuật vận dụng cách đánh “đánh điểm diệt viện”. Đây là phương pháp tác chiến vừa mang tính truyền thống của các lực lượng vũ trang nhân dân vừa phù hợp với đặc điểm lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Với cách đánh này, ta tận dụng được thế có lợi của địa hình, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, phát huy được nhân tố chính trị tinh thần, sở trường, cách đánh của bộ đội, khoét sâu chỗ yếu của địch. Thực hiện phương châm lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính mà chiến dịch biên giới Thu - Đông 1950 là một điển hình về vận dụng cách đánh “đánh điểm diệt viện” được thể hiện trên một số nội dung sau:

Một là, nghệ thuật chọn mục tiêu “đánh điểm”

        Trên cơ sở phân tích tình hình lực lượng và thế bố trí của địch: Địch chia Liên khu Biên Giới thành hai khu là khu Lạng Sơn, khu An Châu và hai phân khu Cao Bằng, Thất Khê, với tổng số binh lực vừa chiếm đóng vừa cơ động lên đến 11tiểu đoàn, 9 đại đội bộ binh, 4 đại đội cơ giới, 4 đại đội công binh, 27 khẩu pháo các loại và 8 chiếc máy bay. Nhưng do lực lượng có hạn, địch chủ trương tổ chức phòng thủ có trọng điểm ở một số vị trí, một số vùng quan trọng, án ngữ trên tuyến biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

        Ban đầu, Bộ chỉ huy chiến dịch có ý định tiến công cụm quân địch ở Cao Bằng nhưng trong quá trình nghiên cứu chiến trường cho thấy: Cao Bằng là một cụm cứ điểm tương đối vững chắc, địa hình bị chia cắt bởi các con sông lớn; địch bố trí xung quanh thị xã 15 vị trí, tạo thành vành đai bảo vệ vững chắc. Nếu ta tiến công Cao Bằng, phải đương đầu với cụm cứ điểm vững chắc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, đánh vào thị xã Cao Bằng khó đảm bảo yếu tố chắc thắng. Hơn nữa, Cao Bằng là một cụm cứ điểm đột xuất, nằm cuối cùng ở đầu mút phía bắc của đường số 4, cách vị trí gần nhất là Đông Khê 45km. Nếu Cao Bằng bị tiến công cũng không gây chấn động mạnh đến toàn tuyến phòng thủ của địch. Khả năng địch quyết giữ và phải đưa lực lượng đến ứng cứu giải tỏa là không lớn, do đó ta ít có cơ hội thực hiện được phương châm chiến dịch là “đánh điểm để diệt viện".

        Từ những đánh giá trên, Bộ chỉ huy đã chọn Đông Khê làm mục tiêu “đánh điểm”, cũng là mục tiêu mở đầu, trận then chốt mở đầu chiến dịch. Bởi vì, Đông Khê là mắt xích quan trọng nối liền thị xã Cao Bằng với thị trấn Thất Khê, nếu mất Đông Khê tuyến phòng thủ đường số 4 bị chặt đứt, sẽ làm cho Cao Bằng rơi vào thế bị cô lập, buộc địch phải đưa quân đến ứng cứu Đông Khê, hoặc đón quân từ Cao Bằng rút về hỗ trợ.

        Như vậy, khi ta chọn Đông Khê nơi địch “tương đối yếu nhưng lại hiểm yếu”, vừa bảo đảm đánh chắc thắng trận then chốt mở đầu chiến dịch cũng là trận đánh vào mục tiêu đánh điểm, vừa tạo điều kiện thuận lợi để đánh quân tăng viện ứng cứu, kéo địch ra khỏi công sự để tiêu diệt. Đây là nét đặc sắc, đầy sáng tạo của Bộ chỉ huy chiến dịch.

        Hai là, nghệ thuật thực hành “đánh điểm” chắc thắng, tạo thời cơ để “diệt viện” 

        Khi tiến công vào cụm cứ điểm Đông Khê là ta đã chọc thẳng vào huyệt xung yếu cắt đứt mắt xích quan trọng, phá vỡ thế trận trên tuyến phòng thủ biên giới của quân Pháp, đẩy chúng vào thế bị chia cắt, bao vây, cô lập buộc chúng phải tăng viện ứng cứu để chiếm lại và giữ vững Đông Khê, với quyết tâm cao, đánh chắc thắng trận mở đầu, Bộ chỉ huy chiến dịch đã làm tốt những vấn đề như:

        Tập trung ưu thế lực lượng vượt trội, tạo ra sức mạnh lớn đánh chắc thắng. Sau nhiều lần bị ta tiến công, để giữ vững được mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ, quân địch đã tăng cường lực lượng, phương tiện xây dựng Đông Khê thành một cụm cứ điểm kiên cố, vững chắc gồm có 2 đại đội lê dương thiện chiến thuộc trung đoàn 3 lê dương, một trung đội ngụy, hai khẩu pháo (105mm và 57mm), một trọng liên, hai khẩu súng cối 81mm, bốn khẩu súng cối 60mm. Để đảm bảo chắc thắng trong trận tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã vận sáng tạo quy luật chiến tranh “mạnh được yếu thua” vào trận đánh, đã tập trung binh hỏa lực chiếm ưu thế gấp 9 lần quân địch, bộ binh ta có 2 trung đoàn (174 và 209) của bộ và được tăng cường 2 tiểu đoàn(426, 11); 13 khẩu sơn pháo; ngoài ra còn có trung đoàn bộ binh 36 thuộc Đại đoàn 308, là lực lượng sẵn sàng đánh quân địch nhảy dù xuống nam Đông Khê và quân địch rút chạy khỏi Đông Khê; được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện khi chiến đấu. Chính vì vậy, sau 54 giờ chiến đấu ta đã hoàn toàn làm chủ Đông Khê, tiêu diệt được 100 tên địch, làm bị thương 212 tên, bắn rơi một máy bay…

        Chỉ đạo thực hiện cách đánh sáng tạo, tiến công địch trong công sự vững chắc, trên cơ sở chọn mục tiêu đánh điểm chính xác và tập trung được binh hỏa lực hợp lý, đặc biệt là chọn đúng điểm đột phá; khi nổ súng trên các hướng tiến công, thực hiện vừa kiềm chế, vừa chia cắt, đột phá tiến công chính diện kết hợp với bên sườn vào đội hình quân địch; vừa tiến công vừa củng cố trong quá trình phát triển chiến đấu trong chiều sâu, hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh với pháo binh; nhanh chóng tổ chức đào công sự để giữ vững được trận địa đã đánh chiếm, hạn chế được thương vong, với cách đánh sáng tạo đã đưa trận chiến đấu giành thắng lợi, hoàn thành xuất sắc mục đích chiến dịch đề ra, tạo ra đột biến chiến dịch, xuất hiện thời cơ, tạo thêm điều kiện thực hiện ý định đánh điểm - diệt viện mà Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra ngay từ đầu.

        Ba là, nắm thời cơ tiêu diệt địch “tăng viện”

        Dự kiến âm mưu, hành động của địch điều chỉnh thế trận đánh địch ứng cứu tăng viện: Sau thắng lợi ở Đông Khê, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chủ động đánh giá, dự kiến và nhận định địch có thể tổ chức hành quân bộ hoặc đổ bộ đường không lên đón tàn quân ở Đông Khê, đồng thời thăm dò tình hình rồi rút; hoặc tăng cường thêm lực lượng chiếm đóng lại Đông Khê; cũng có thể, địch sẽ tổ chức lực lượng tiến công theo đường bộ để bảo vệ, đón quân từ Cao Bằng rút lui. Từ những nhận định trên, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định quyết tâm, dù địch thực hiện âm mưu gì ta cũng phải tiêu diệt được chúng, đồng thời tiến hành điều chỉnh lực lượng, thế trận để sẵn sàng đánh địch tăng viện ngoài công sự. Đại đoàn 308, ở khu vực Nà Pa, Lũng Phầy, Khâu Luồng. Trung đoàn 209 và trung đoàn 174, triển khai xây dựng trận địa sẵn sàng đánh quân nhảy dù xuống khu vực Đông Khê và tổ chức lực lượng trinh sát, liên tục bám sát nhằm phát hiện quân địch, kết hợp với nghi binh, nhử địch vào khu vực chiến dịch đã chuẩn bị. Khi phát hiện địch tăng cường 1 tiểu đoàn Bắc Phi cho Cao Bằng và 1 tiểu đoàn dù cho Thất Khê để chuẩn bị đánh chiếm lại Đông Khê, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị củng cố trận địa, sẵn sàng đánh địch trong khu vực từ Lũng Phầy đến nam Đông Khê, đồng thời yêu cầu các lực lượng vũ trang địa phương tạm ngừng mọi hoạt động quân sự phối hợp giữa khu vực Thất Khê và Lạng Sơn để dụ cho quân địch ở Thất Khê lên. Có những nơi ta đã huy động đến hơn 500 dân công ra phá đường số 4, nhưng sau đó lại giải tán.

        Bốn là, Nắm thời cơ điều chỉnh lực lượng, chuyển hóa thế thế trận nhanh đánh bại địch tặng viện ứng cứu

         Ngày 1/10/1950, giữa lúc ta đang chuẩn bị tiến công Thất Khê thì địch sử dụng một binh đoàn, do Lơ-pa-giơ chỉ huy từ Thất Khê hành quân lên Đông Khê. Do địch hành động bất ngờ, ta nắm tình hình không chắc nên bỏ lỡ cơ hội đánh địch. Ta chuyển hóa thế trận nhanh, cơ động triển khai kịp thời từ chiều ngày 2 đến sáng ngày 4 tháng 10 năm 1950, ta tiến hành trận đánh tiến công vào binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Khâu Áng, Khâu Luồng, Tróc Ngà, Nà Mục, buộc chúng phải chạy dạt về thung lũng Cốc Xá. Khi phát hiện binh đoàn Sác-tông rút khỏi Cao Bằng qua Quang Liệt về 477, hòng hợp quân với binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tạm dừng tiến công Thất Khê, điều chỉnh lực lượng, thế trận để đánh địch cơ động ngoài công sự, tập trung đánh bại địch ở khu vực Cốc Xá, điểm cao 477. Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng trung đoàn 174 được tăng cường 12 khẩu đội súng máy phòng không 12,7mm, sẵn sàng chặn quân địch tháo chạy và quân cứu viện bằng đường bộ hoặc đường không từ Thất Khê lên nhằm tạo thế để tiêu diệt binh đoàn Lơ-pa-giơ ở thung lũng Cốc Xá. Trung đoàn 209, cơ động lên triển khai lực lượng trên hướng Quang Liệt, chặn bước tiến của binh đoàn Sác-tông từ Nậm Nàng về 477. Chiến dịch đã kịp thời chuyển hóa thế trận và lập thế bao vây chặt ở thung lũng Cốc Xá, chia cắt địch từ Cao Bằng về, Thất Khê lên, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 10, chiến dịch đã tiến công tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá và binh đoàn Sác-tông tại điểm cao 477.

Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950 tạo nên sự thay đổi cục diện của cuộc chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta sang một giai đoạn mới, giai đoạn ta hoàn toàn nắm quyền chủ động tiến công chiến lược. Thực tế chiến dịch để lại những kinh nghiệm quý, là cơ sở khoa học để ta vận dụng sáng tạo vào các chiến dịch tiếp theo, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Nghệ thuật chiến dịch Việt nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc ( nếu xảy ra), sẽ có sự phát triển mới so với các chiến dịch trong chiến tranh giải phóng do sự phát triển của đối tượng tác chiến, lực lượng, thế trận, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật quân sự… Tuy vậy, những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật lựa chọn chính xác khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu tiến công mở đầu chiến dịch; nghệ thuật xác định đúng phương châm chiến dịch; nghệ thuật tập trung ưu thế sức mạnh trong các trận then chốt; nghệ thuật bố trí và chuyển hóa thế trận trong chiến dịch Biên Giới vẫn còn nguyên giá trị, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong huấn luyện, nghiên cứu khoa học trong thời bình cũng như thực hành tác chiến chiến dịch trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

        Tài liệu tham khảo

        1. Tóm tắt các chiến dịch chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb QĐND, Hà Nội - 2000.

        2. Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb QĐND, Hà Nội - 1995.

        3. Thống kê các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, tập 1, Hà Nội - 1993.

      4. Lịch sử đánh trận then chốt chiến dịch của QĐND Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội - 2006.

 

 

 

 

 

 

 

CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950:

BƯỚC NGOẶT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Công Bằng

Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân trên mặt trận Cao Bằng, Lạng Sơn cùng với cả nước đã khắc phục mọi khó khăn, thử thách, dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo mở Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 và giành thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược. 

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) đầy gian khổ, hy sinh song rất đỗi hào hùng của dân tộc ta, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông năm 1950 có một vị trí đặc biệt quan trọng. Cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên khắp chiến trường cả nước, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 mở ra một giai đoạn mới của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, khai thông biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc. Đây là chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ huy; Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy. Đây cũng là chiến dịch duy nhất đích thân Chủ tịch nước - Hồ Chí Minh ra mặt trận, trực tiếp chỉ đạo. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu vô cùng quyết liệt, anh dũng và mưu trí của quân và dân ta (16-9/14-10-1950), Chiến dịch tiến công Biên Giới Thu - Đông 1950 đã giành được thắng lợi to lớn.

1. Lần đầu tiên đánh lớn

Đây là chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ huy; Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy. Đây cũng là chiến dịch duy nhất đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận trực tiếp chỉ đạo. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu vô cùng quyết liệt, anh dũng và mưu trí của quân và dân ta (từ ngày 16/9 - 14/10/1950), Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 đã giành được thắng lợi to lớn.

Sau thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố hành lang Đông - Tây, đồng thời thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc bộ, củng cố tuyến phòng thủ biên giới Đông Bắc. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm mưu phong tỏa biên giới phía Bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. 

Trong chiến dịch này, ta đã thực hiện thắng lợi trọn vẹn mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn), một địa bàn chiến lược xung yếu, tạo nên một thế trận mới vững chắc. 

Với thắng lợi của Chiến dịch Biên giới, cuộc kháng chiến của ta chuyển mạnh từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.

Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 đối với Pháp là một thất bại cay đắng. Giới cầm quyền và tướng lĩnh Pháp cũng phải thừa nhận rằng thất bại của quân đội Pháp ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950 có ảnh hưởng quyết định đối với nửa cuối cuộc chiến tranh, tình thế cuộc chiến đã thay đổi theo hướng bất lợi cho quân Pháp. 

Thất bại đó đã làm phá sản âm mưu “khóa chặt biên giới Việt-Trung” hòng cô lập cách mạng Việt Nam với các nước anh em; tuyến phòng thủ Liên khu biên giới Đông Bắc bị xóa bỏ, “Hành lang Đông-Tây” bị chọc thủng, chủ trương phòng thủ Đông Dương theo “Kế hoạch Rơve” của Pháp tiêu tan.

Sau thất bại ở biên giới, quân Pháp lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc bộ. Lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trót “đâm lao phải theo lao”, thực dân Pháp phải tăng thêm quân cho chiến trường Đông Dương, triệu hồi Cao ủy Pignon và Tổng Chỉ huy, tướng Carpentier về nước và cử tướng De Latre de Tassigny sang Đông Dương kiêm luôn cả chức Cao ủy lẫn Tổng Chỉ huy. 

Không những thế, Pháp phải cầu viện Mỹ về vũ khí,  phương tiện chiến tranh và chính vì vậy, Pháp phải thỏa hiệp, nhượng bộ quyền lợi cho Mỹ để Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương, điều mà Pháp không muốn nhưng buộc phải làm.

Có thể nói, Chiến dịch Biên giới mở ra và giành được thắng lợi đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp thiết về chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ ta giành, giữ và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc bộ, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô ngày càng lớn và giải phóng nhiều vùng đất đai quan trọng, tạo được thế trận mới. 

2. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới mang tầm chiến lược, tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố hành lang Đông - Tây, đồng thời thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, củng cố tuyến phòng thủ biên giới Đông Bắc. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm mưu phong tỏa biên giới phía bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 mở ra và giành được thắng lợi đã biến quyết tâm chiến lược trên đây thành hiện thực. Chiến thắng đó có ý nghĩa lịch sử to lớn, mang tầm chiến lược; là kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành quả của quân và dân ta suốt cả chặng đường 5 năm (1945-1950) chiến đấu trong vòng vây bốn bề của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Trong chiến dịch này, ta đã thực hiện thắng lợi trọn vẹn mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn), một địa bàn chiến lược xung yếu, tạo nên một thế trận mới vững chắc. Căn cứ địa Việt Bắc-Thủ đô kháng chiến của cả nước được mở rộng và củng cố, trở thành vùng tự do an toàn. Đường giao thông quốc tế được mở rộng nối liền căn cứ địa Việt Bắc với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, qua đó đến Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu. Thế bị bao vây, cô lập của cuộc kháng chiến được khắc phục. Sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” của ta có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận sự viện trợ về vật chất, vũ khí, trang bị quân sự và học hỏi kỹ, chiến thuật của quân đội các nước anh em, tiếp thu lý luận, kinh nghiệm xây dựng xã hội mới theo nguyên lý chủ nghĩa Mác  - Lê-nin.

Thắng lợi này “làm cho toàn dân và toàn quân ta từ Nam chí Bắc vô cùng phấn khởi, tinh thần của quân và dân ta tăng lên một cách nhảy vọt. Mọi người qua thắng lợi đó đều thấy Đảng, Chính phủ, dân tộc mình, quân đội mình và chính mình đã lớn mạnh lên nhiều, rằng kháng chiến lâu dài không phải là vô hạn độ, triển vọng thắng lợi đã nhích lại gần chúng ta hơn trước nhiều, địch đã phải chịu thất bại chua cay và không thể huênh hoang như trước nữa”!(1)

Với thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến của ta chuyển mạnh từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.

Biên Giới Thu - Đông 1950, đối với phía Pháp là một thất bại cay đắng. Giới cầm quyền và tướng lĩnh Pháp cũng phải thừa nhận rằng, thất bại của quân đội Pháp ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950 có ảnh hưởng quyết định đối với nửa cuối cuộc chiến tranh, tình thế cuộc chiến đã thay đổi theo hướng bất lợi cho quân Pháp. Trong số các đơn vị bị loại khỏi vòng chiến đấu, có 5 tiểu đoàn cơ động chiến lược, chiếm 55% lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Bộ (5/9 tiểu đoàn), 41% lực lượng toàn Đông Dương (5/12 tiểu đoàn). Thất bại đó gây hiệu ứng dây chuyền, quân Pháp không chỉ phải rút khỏi toàn bộ Liên khu Biên giới Đông Bắc, mà còn phải rút khỏi các vùng quan trọng khác như Lào Cai, Hòa Bình, Thái Nguyên v.v..; thậm chí phía Pháp phải báo động toàn vùng Bắc Bộ và bàn tính đến chuyện rút lui chiến lược về cố thủ từ miền Trung trở vào.

Thất bại đó đã làm phá sản âm mưu “khóa chặt biên giới Việt - Trung” hòng cô lập cách mạng Việt Nam với các nước anh em; tuyến phòng thủ Liên khu Biên giới Đông Bắc bị xóa bỏ, “hành lang Đông-Tây” bị chọc thủng, chủ trương phòng thủ Đông Dương theo “Kế hoạch Rơ-ve” của Pháp tiêu tan.

Sau thất bại ở Biên Giới, quân Pháp lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ. Tâm lý lo lắng về thất bại trên chiến trường không chỉ diễn ra trong đội quân viễn chinh Pháp mà ngày càng lan tràn đến giới cầm quyền chính trị và quân sự Pháp. Tại nước Pháp, phong trào đấu tranh chống “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của thực dân Pháp ở Đông Dương ngày càng dâng lên mạnh mẽ. Nhiều nghị sĩ trong Quốc hội Pháp lên tiếng công kích Chính phủ theo đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa, hao người, tốn của ở Đông Dương. Cao ủy, Tổng chỉ huy và các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương mâu thuẫn và tranh cãi quyết liệt về vấn đề tập trung hay phân tán lực lượng để chiếm giữ đất đai, bình định vùng chiếm đóng, giữa giữ đất, giành dân với thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn lực lượng.

Lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trót “đâm lao phải theo lao”, thực dân Pháp phải tăng thêm quân cho chiến trường Đông Dương, triệu hồi Cao ủy Phi-nhông (Pignon) và Tổng chỉ huy, tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier) về nước và cử tướng Đờ Lát-đờ Tát-xi-nhi (De Latre de Tassigny) sang Đông Dương kiêm luôn cả chức Cao ủy lẫn Tổng chỉ huy. Không những thế, Pháp phải cầu viện Mỹ về vũ khí và phương tiện chiến tranh và chính vì vậy, Pháp phải thỏa hiệp, nhượng bộ quyền lợi cho Mỹ, để Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương, điều mà Pháp không muốn nhưng buộc phải làm.

Có thể nói, Chiến dịch Biên Giới mở ra và giành được thắng lợi đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp thiết về chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ ta giành, giữ và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô ngày càng lớn và giải phóng nhiều vùng đất đai quan trọng, tạo được thế trận mới.

3. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau 6 năm kể từ ngày thành lập (22-12-1944) đến Thu - Đông năm 1950, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng trên mọi phương diện và đã giành được nhiều chiến công xuất sắc. Chiến thắng Biên Giới đánh dấu một bước tiến nhảy vọt của Quân đội ta về nhiều mặt, đặc biệt là về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật. Từ những đợt hoạt động, những chiến dịch nhỏ, đến chiến dịch Biên Giới, lần đầu tiên ta mở chiến dịch tiến công quy mô lớn, tập trung tới 4,5 vạn người, kể cả bộ đội và dân, trong thời gian gần một tháng. Đây là chiến dịch lớn, hiệp đồng một số binh chủng, tiến công vào hệ thống phòng ngự mạnh của địch trên tuyến dài gần 100km. Trong chỉ đạo, ta đã đề ra phương châm tác chiến chiến dịch đúng, lựa chọn chính xác hướng tiến công chủ yếu, kiên quyết và khéo léo tập trung ưu thế binh, hỏa lực, tạo thế trận đánh hiểm, có cách đánh sáng tạo và có hiệu quả. Chiến dịch Biên Giới là một điển hình về đánh vận động, truy kích, nghệ thuật đánh điểm, diệt viện và đánh tiêu diệt trong nghệ thuật tác chiến của quân đội ta. Thành công đó đánh dấu bước trưởng thành của quân đội, chứng tỏ trình độ chỉ huy, kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội ta có sự tiến bộ vượt bậc. Bộ đội ta đã tác chiến tập trung với quy mô lớn hơn so với trước, tiêu diệt được tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc và binh đoàn địch trong đánh vận động. Ta đã giữ quyền chủ động trong suốt quá trình chiến dịch, chuyển hóa thế trận tốt, xử lý tình huống tập trung, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận dẫn tới tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trên toàn chiến trường. Bên cạnh đó, trong điều kiện phải chiến đấu dài ngày, tình huống diễn biến mau lẹ, chiến dịch diễn ra trên địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, nhưng công tác bảo đảm hậu cần, bảo đảm vũ khí đạn dược, thông tin liên lạc, cứu chữa và chăm sóc thương bệnh binh, v.v.., vẫn được đảm bảo.

Không chỉ bó hẹp trên chiến trường biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 cho thấy sự chỉ đạo tác chiến đã phát triển lên tầm cao mới. Khi bộ đội ta tiến công địch ở mặt trận chính Cao Bằng, Lạng Sơn thì LLVT và nhân dân địa phương từ Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, cả Liên khu 3, Bình Trị Thiên, Nam Trung bộ đến Nam Bộ đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp tiến công địch, “chia lửa” với hướng tiến công chính, buộc chúng phải căng kéo, dàn mỏng lực lượng đối phó ở khắp nơi.

Chính kẻ địch cũng thừa nhận Quân đội nhân dân Việt Nam đến cuối năm 1950 đã “có một phương châm tác chiến vững vàng, điều khiển các trận đánh kế tiếp nhau, gắn bó với nhau một cách mạch lạc và làm cho quân Pháp không kịp thở trên một chính diện rộng lớn từ Đông Khê đến Thất Khê”(2). Trong quá trình Chiến dịch Biên Giới, bộ đội ta đã “thực sự làm chủ tình thế, thay đổi bố trí ban đầu rất nhanh, hướng sự cố gắng vào sự bao vây tiêu diệt quân Pháp”(3). Với cuộc chiến đấu trên đường số 4, Cao Bằng - Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950, bộ đội ta “tỏ ra là một quân đội hiện đại, căn cứ vào hình thức tác chiến cũng như sức mạnh trong chiến đấu”(4).

Sau chiến thắng Biên Giới, phát huy thế chủ động chiến lược giành được trên chiến trường chính Bắc Bộ, Bộ Tổng tư lệnh tập trung các trung đoàn chủ lực, thành lập 3 đại đoàn bộ binh (312, 316, 320) và Đại đoàn công pháo 351; liên tiếp tổ chức, chỉ huy các chiến dịch tiến công quy mô lớn ở trung du và đồng bằng, miền núi Bắc Bộ. Đáng kể là: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25-12-1950/18-1-1951), tiến công địch ở trung du Bắc Bộ, từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông Cầu; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23-3/7-4-1951), tiến công vào tuyến phòng thủ của Pháp trên đường số 18 từ Phả Lại đến Uông Bí; Chiến dịch Quang Trung (28-5/20-6-1951) tiến công vào phòng tuyến sông Đáy của quân Pháp từ Nam Phủ Lý (Hà Nam) đến Yên Mô (Ninh Bình); Chiến dịch Lý Thường Kiệt (29-9/31-10-1951), tiến công địch ở Nghĩa Lộ (Yên Bái); Chiến dịch Hòa Bình cuối 1951 đầu 1952, tiến công địch ở khu vực thị xã Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6, v.v.., đồng thời đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trên khắp chiến trường Bắc, Trung, Nam và toàn Đông Dương.

Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 thực sự là bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội ta, tạo nền tảng, cơ sở để LLVT ta cùng toàn Đảng, toàn dân giành được thắng lợi to lớn hơn trong giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến, mà quan trọng là trong Đông Xuân 1953-1954, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.

Sau những năm chiến đấu giữa vòng vây của quân thù, Chiến dịch Biên Giới mở ra và giành thắng lợi đã góp phần quyết định đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới. Nói cách khác, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 mang tầm vóc và ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu bước thất bại chiến lược của địch; là bước ngoặt, mang lại thế và lực mới cho cuộc kháng chiến, đánh dấu sự trưởng thành của Quân đội ta. Đảng ta khẳng định: “Đi qua Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Trung Du, quân đội ta đã tiến bộ vượt bậc trên con đường từ du kích chiến, chuyển sang chính quy chiến. Do vận động chiến đã được đẩy mạnh, sự quan trọng của vận động chiến trên chiến trường Bắc Bộ đã được đưa lên ngang hàng với du kích chiến”(5).

Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đã chứng minh tính đúng đắn đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính mà Đảng ta đã vạch ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến. Với tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, trong suốt những năm “chiến đấu trong vòng vây”, chúng ta đã nỗ lực xây thế và lực cho cuộc kháng chiến, xây dựng quân đội ngày càng vững mạnh, đủ sức tiến hành và giành thắng lợi trong những trận đánh lớn làm xoay chuyển cục diện tình hình có lợi cho ta. Bài học về phát huy nội lực, xây dựng thực lực kháng chiến, xây dựng quân đội để làm nên chiến thắng Biên Giới vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Biên Giới (1950/2020) diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII, hướng tới Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Đây là dịp chúng ta ôn lại chiến công vẻ vang của dân tộc, tôn vinh các anh hùng liệt sĩ, những người con của đất nước đã cống hiến máu xương, tuổi xuân, công sức, trí tuệ cho sự toàn thắng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, khơi dậy niềm tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính mà Đảng ta đã vạch ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến. Bài học về phát huy nội lực, xây dựng thực lực kháng chiến, xây dựng Quân đội để làm nên Chiến thắng Biên giới vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

                     Thượng tá, ThS Ngô Văn Sỹ

 

(1): Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Yếu tố tinh thần của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trong cuốn Điện Biên Phủ - Trận thắng thế kỷ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr 600.

(2, 3, 4): Mác-săng (Marchand), Thảm kịch Đông Dương.

(5): Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, 1951, NXB CTQG, Hà Nội, 2001, tr 271.

 

 

 

            NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC, SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG

         TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG NĂM 1950

Bàn Luận

Đến tháng 6 năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã phát triển mạnh, bộ đội chủ lực đã từng b­ước tr­ưởng thành. Địch mở rộng địa bàn chiếm đóng và ra sức phong toả biên giới, gây cho ta một số khó khăn về quân sự, kinh tế, tài chính. Thường vụ Trung ư­ơng Đảng đã quyết định giao cho Bộ Tổng Tư­ lệnh mở Chiến dịch Biên Giới nhằm mục đích: "tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch; giải phóng một phần biên giới; mở đ­ường giao thông với các n­ước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc"[1]. Chiến dịch Biên Giới diễn ra từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 14 tháng 10 năm 1950.

Lực lư­ợng địch gồm cả quân chiếm đóng và quân cơ động là 11 tiểu đoàn, 9 đại đội bộ binh, 4 đại đội công binh, 27 khẩu pháo các loại và 8 máy bay. Lực l­ượng ta gồm: Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, 3 tiểu đoàn (426, 428, 888) của Liên khu Việt Bắc và tỉnh Lạng Sơn, Tiểu đoàn Sơn pháo 75mm (4 đại đội), 5 đại đội công binh cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích[2].

Chiến dịch vận dụng cách đánh “đánh điểm, diệt viện”, tổ chức thành các lực lượng trên 3 mặt trận: mặt trận Đông Khê (lực lượng đánh điểm), sử dụng 3 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh; mặt trận đánh quân ứng chiến (lực lượng đánh địch ngoài công sự), sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu); mặt trận Na Sầm-Lạng Sơn (lực lượng kiềm chế), sử dụng 2 tiểu đoàn (428, 888) cùng dân quân du kích; lực lượng sở chỉ huy; lực lượng hậu cần, kỹ thuật chiến dịch.

Đợt 1, tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng thành các bộ phận: bộ phận tiến công trên hư­ớng chủ yếu, sử dụng 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh; bộ phận tiến công trên h­ướng thứ yếu, sử dụng 1 trung đoàn; bộ phận dự bị, sử dụng Trung đoàn 36; bộ phận hỏa lực, sử dụng Tiểu đoàn pháo 75mm (thiếu); triển khai tiến công trên 2 h­ớng (chủ yếu, thứ yếu). Trận đánh diễn ra ác liệt, kéo dài từ 6 giờ ngày 16 tháng 9 đến 10 giờ ngày 18 tháng 9, ta đánh chiếm đ­ợc toàn bộ cụm cứ điểm Đông Khê, hoàn thành thắng lợi trận then chốt mở đầu.

Đợt 2, sau chiến thắng Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh lực l­ượng để chuẩn bị đánh viện. Binh đoàn Lơ Pa-giơ cơ động từ Thất Khê lên nhằm chiếm lại Đông Khê, do chủ quan nên ta không thực hiện đư­ợc trận đánh ở khu vực đã chuẩn bị trên Đờng số 4. Bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh và tổ chức lực lư­ợng đánh chiếm một số địa hình có giá trị, kết hợp vừa ngăn chặn, vừa tiến công, buộc địch phải dạt về khu vực Cốc Xá. Khi nhận đ­ợc tin Binh đoàn Sác-tông cơ động từ Cao Bằng về, ta sử dụng Trung đoàn 209 cơ động lên h­ướng Quang Liệt để ngăn chặn nhằm tập trung lực l­ượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ tr­ước khi Binh đoàn Sác-tông về đến nơi.

Để tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Trung đoàn 174 bố trí ở Cốc Toòng sẵn sàng chặn địch tháo chạy và địch tăng viện từ Thất Khê lên, Trung đoàn 88 bố trí ở Bản Ca chặn địch từ Điểm cao 477 xuống; đồng thời, sử dụng Trung đoàn 36 cùng các lực l­ượng tăng c­ường, triển khai tiến công trên 3 hư­ớng (Đông, Bắc, Tây Nam) và lực lư­ợng dự bị chặn địch ở hư­ớng Nam, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu, tiến công kiên quyết liên tục, ta đã tiêu diệt hết các lực lư­ợng của binh đoàn này và làm chủ khu vực Cốc Xá.

Sau khi căn bản tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tập trung lực lư­ợng để tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông; tận dụng kết quả chiến đấu tạo thế của các Trung đoàn (102 và 209) đã ngăn chặn và bao vây địch ở khu vực Điểm cao 477, ta sử dụng 4 tiểu đoàn, triển khai tiến công trên 3 h­ướng (mỗi hư­ớng 1 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn làm dự bị, đánh chiếm các điểm cao và khép chặt vòng vây; 17 giờ ngày 07 tháng 10, Binh đoàn Sác-tông đã bị ta tiêu diệt, Sác-tông cùng các sĩ quan tham mư­u bị bắt làm tù binh.

Đợt 3, phát huy kết quả thắng lợi, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực l­ượng để chuẩn bị bao vây Thất Khê, đồng thời sử dụng lực lư­ợng bộ đội địa phương tích cực phá hoại cầu, đ­ường ngăn không cho địch rút chạy. Ngày 10 tháng 10, địch bắt đầu rút khỏi Thất Khê, do các lực lư­ợng của ta cơ động ch­ưa kịp bao vây, nên chỉ bám đánh được bộ phận đi sau của chúng, làm hạn chế kết quả chiến dịch. 

Chiến dịch giành thắng lợi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực l­ượng chiến dịch, cụ thể:

Một là, tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”, quán triệt tốt phương châm lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính

Khi chiến dịch thực hiện cách đánh (phương pháp tác chiến) “đánh điểm, diệt viện”, thì “đánh điểm” là biện pháp chiến dịch, còn “diệt viện” mới là mục đích của chiến dịch. Lúc này tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch cần cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa “đánh điểm” với “diệt viện”. Tức là tổ chức sử dụng lực lượng  hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ “đánh điểm”, đạt mục đích là kéo được địch ra; đồng thời phải ưu tiên dành lực lượng cho “diệt viện” và tổ chức, sử dụng khoa học để tiêu diệt được lực lượng viện binh địch ngoài công sự, thực hiện được mục đích chiến dịch.

Trong Chiến dịch Biên Giới, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức, sử dụng 2 trung đoàn làm lực l­ượng “đánh điểm”, còn 1 đại đoàn làm lực lượng “diệt viện” như vậy là hợp lý, phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”. Trong từng lực lượng lại tổ chức thành các bộ phận, bố trí, sử dụng hợp lý trên mỗi khu vực và kịp thời điều chỉnh lực lượng trong thực hành tác chiến để ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn Sác-tông khi chúng cơ động từ Cao Bằng về, tập trung lực lượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, sau đó tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông. Như vậy đã thể hiện được việc ưu tiên cho nhiệm vụ tiêu diệt địch ngoài công sự.

Hai là, tổ chức, sử dụng lực lượng đã tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu (đánh địch ngoài công sự), mục tiêu quan trọng (địch ở Đông Khê và 2 binh đoàn cơ động), thời điểm đánh trận then chốt quyết định (Cốc Xá-477)

Tập trung là nguyên tắc trong tổ chức sử dụng lực lượng để tạo ưu thế giành thắng lợi; bởi vì quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua. Nhất là trong điều kiện ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều thì càng đòi hỏi phải biết tập trung mọi mặt cả về lực lượng, phương tiện, lãnh đạo, chỉ huy, cả về công tác bảo đảm.

Chiến dịch Biên Giới Thu-Đông 1950 ta đã quán triệt tốt nguyên tắc này, tổ chức, sử dụng lực l­ượng tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt địch ngoài công sự (ban đầu 1 đại đoàn, sau tập trung toàn bộ lực lượng chiến dịch); tập trung vào trận then chốt, then chốt quyết định: trận then chốt mở màn Đông Khê, lực l­ượng ta chiếm ­ưu thế tuyệt đối so với địch (bộ binh: ta 9 - địch 1; pháo binh: ta 6,5 - địch1); trận then chốt quyết định Cốc xá – dãy điểm cao 477 ta tập trung hầu hết lực lượng tạo ưu thế hơn hẳn địch (tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ ở khu vực Cốc Xá: ta 3,25 - địch 1, tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông ở dãy Điểm cao 477: ta 1,25 - địch 1)[3]. Đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi của chiến dịch.

Ba là, tổ chức lực l­ượng dự bị mạnh, sử dụng đúng lúc đạt hiệu quả cao

Tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức Trung đoàn 36 làm dự bị, đ­ược bố trí ở đông nam Đông Khê, thể hiện thế bố trí cơ động linh hoạt, sẵn sàng tham gia đánh Đông Khê (là chủ yếu) và đánh quân nhảy dù (nếu có). Để cô lập địch, giành ư­u thế lực lư­ợng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 và tiếp sau đó là Trung đoàn 102 ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn Sác-tông.

Bốn là, tổ chức, sử dụng kết hợp chặt chẽ các lực l­ượng trên địa bàn, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, mục đích chiến dịch

Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng lực l­ượng dân công và bộ đội địa phương tích cực hoạt động trên hư­ớng Na Sầm-Lạng Sơn để phân tán sự đối phó của địch. Khi địch rút khỏi Thất Khê, ta đã sử dụng các Tiểu đoàn 426, 428 bố trí ở đoạn Hát Con, Đèo Khách cùng bộ đội chủ lực truy kích địch rút chạy.

Mặc dù trong tác chiến hiệp đồng binh chủng còn có hạn chế, "hiệp đồng giữa các lực lượng, giữa bộ binh với pháo binh không chặt chẽ"[4], hỏa lực chi viện có lúc chư­a kịp thời; khi tạo thế để đánh địch ngoài công sự, do không tổ chức lực l­ượng chốt ở một số địa hình có lợi, nên đã phải sử dụng lần l­ợt 5 tiểu đoàn của 2 trung đoàn để chặn Binh đoàn Sác-tông và chia cắt giữa 2 binh đoàn địch. Tuy nhiên Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 đã giành thắng lợi vượt chỉ tiêu mục đích đề ra. Các nội dung đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch đến nay vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu phát triển vận dụng vào chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.



[1]  Viên Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb QĐND, Hà Nội 2000.

[2] Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà Nội 1979.

[3]  Viên Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sửnghệ thuật đánh trận then chốt chiến dịch của QĐNDVN trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội 2006.

[4] Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà Nội 1979.