PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU ĐÔNG 1950,
ĐỒNG BÀO CAO- BẮC- LẠNG CHUNG SỨC XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY
CÀNG GIÀU ĐẸP, ĐỐI MỚI
TX
Tại hội nghị Tổng kết chiến dịch Biên giới, ngày
27 tháng 11 năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chỉ huy trưởng kiêm chính ủy mặt
trận đã nhấn mạnh: “Đảng bộ, đoàn thể nhân dân, cơ quan chính quyền trên địa
bàn là động lực chính trong công tác cung cấp, làm nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến”,
góp phần quan trọng có ý nghĩa quyết định vào thắng lợi của chiến dịch. Phát
huy thắng lợi chiến dịch, đồng bào Cao-Bắc-
Lạng đã chung tay xây dựng quê hương trở thành hậu
phương vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến trường kỳ, anh
dũng của dân tộc: cùng với cả nước giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công
chiến lược Đông - Xuân năm 1953 – 1954, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
và chiến tranh Biên giới phía Bắc với tất cả nỗ lực của mình cũng như trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Chiến
dịch Biên giới Thu đông 1950 còn gọi
là Chiến dịch Lê Hồng Phong 2, thực
hiện từ ngày 16 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm
1950, nhằm phá vòng vây mà quân viễn chinh của Đệ tứ Cộng hòa Pháp bố trí nhằm cô lập căn cứ địa Việt Bắc, từ đó khai thông
biên giới Việt - Trung để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ của Liên Bang Xô Viết thông qua Cộng Hòa Nhân Dân
Trung Hoa. Mặt khác, thắng lợi của chiến dịch
sẽ giúp ta có thể mở rộng căn cứ địa, làm tiêu hao sinh lực quân đồn trú Pháp
và thử nghiệm các chiến thuật cho các trận đánh lớn sau này.
Nhận thức vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của chiến dịch, ngày
9/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng tiếp
tục giúp đỡ bộ đội đánh thắng to, giúp cho chiến dịch được thắng lợi. Ngày
11/9/1950, Người đến Sở Chỉ huy Chiến dịch gặp gỡ, động viên cán bộ, chiến sĩ,
xác định quyết tâm đánh thắng trận này và trực tiếp đến Sở Chỉ huy tiền phương
tại làng Nà Lạn, xã Đức Long (Thạch An) quan sát đồn Đông Khê. Tại đây, Bác Hồ
đã làm bài thơ:
“Chống gậy lên non xem
trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.
Tin Bác ra trận làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân
tộc Cao - Bắc - Lạng, khắp nơi nô nức giết giặc lập công.
Thực hiện kế hoạch tác chiến, ngày 16/9/1950, hai trung đoàn 174
và 209 có pháo binh yểm trợ đã nổ súng đánh đồn Đông Khê. Ngày 18/9/1950, quân
ta làm chủ hoàn toàn đồn Đông Khê. Sau 54 giờ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường,
quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 300 tên địch, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ
vũ khí trang bị, đạn dược, lương thực. Đông Khê thất thủ, hành lang biên giới
bị lung lay, phân khu Cao Bằng bị cô lập, phân khu Thất Khê (thuộc xã Tràng
Định, tỉnh Lạng Sơn) nằm trên đường số 4 của địch bị uy hiếp, khốn đốn. Để cứu
vãn tình thế, ngày 30/9/1950, viên Trung tá Lơ-pa-giơ chỉ huy binh đoàn Bay A
với 3.000 quân xuất phát từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê, hợp quân với
phân khu Cao Bằng. Các đơn vị bộ đội của Đại đoàn 308, Tiểu đoàn 154, Trung
đoàn 209 cùng quân, dân địa phương chặn đánh quyết liệt buộc địch phải co cụm
về Cốc Xá. Tại phân khu Cao Bằng, tên Trung tá Sac-tông biết tin binh đoàn
Lơ-pa-giơ bị khống chế, không thể lên Nặm Nàng đón chúng như dự định được, theo
lệnh cấp trên, Sac-tông mở cuộc hành quân “bão táp” rút nhanh khỏi Cao Bằng vào
sáng 3/10/1950. Khi đến Nặm Nàng, chúng phá hủy xe, pháo và chạy vào rừng theo
hướng Bản Ca, Quang Liệt để hội quân cùng Lơ-pa-giơ tại điểm cao 477.
Ngày 6/10/1950, Bác Hồ gửi thư động viên bộ đội ta quyết tâm tiêu
diệt địch, giành thắng lợi; Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh phải bắt sống
Lơ-pa-giơ. Khí thế xung trận mãnh liệt, quân ta tăng cường thêm 3 tiểu đoàn của
Đại đoàn 308, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 209 quyết tâm bao vây, chia cắt tiêu
diệt địch. Sáng 7/10/1950, quân ta mở đợt tiến công binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc
Xá và cánh quân Sac-tông. Chiều 7/10/1950, quân địch tan rã hoàn toàn, quân ta
tiêu diệt 677 tên địch, bắt sống 1.386 tên, trong đó có Trung tá Sac-tông, tên
tỉnh trưởng ngụy Nông Ngọc Tu cùng Trung tá Lơ-pa-giơ và bộ tham mưu xin đầu
hàng, thu toàn bộ vũ khí, tài liệu.
Chiến dịch Biên giới bước vào giai đoạn cuối, quân ta tiếp tục
truy kích địch trên đường số 4. Trước sức mạnh tiến công mạnh mẽ của quân ta,
ngày 10/10/1950, quân Pháp ở Thất Khê rút chạy về Lạng Sơn. Đến ngày
15/10/1950, hàng loạt các cứ điểm: Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình
Lập lần lượt bị tan rã. Sau 29 ngày đêm chiến đấu quả cảm, oanh liệt, Chiến
dịch Biên giới Cao - Bắc - Lạng toàn thắng. Quân ta tiêu diệt và bắt sống 8.300
tên địch, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược của chúng ở Đông Dương, thu
trên 3.000 tấn vũ khí, xe ô tô và các loại quân trang, quân dụng khác.
Trong quá trình chiến đấu, phục vụ chiến đấu, quân và dân địa bàn
các tỉnh Cao-Bắc-Lạng đã anh dũng, trung kiên, không quản hy sinh, gian khổ, lập
nhiều chiến công hiển hách, đó là: Tiểu đội trưởng, liệt sĩ Lý Viết Mưu, quê xã
Độc Lập (Quảng Uyên) dù bị thương nặng nhưng vẫn dùng khối bộc phá 12 kg phá
tung hầm ngầm địch; Tiểu đội phó La Văn Cầu, quê xã Phong Nặm (Trùng Khánh),
nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương cho đỡ vướng, ôm bộc phá lao lên dập
tắt hỏa lực địch; Đại đội trưởng, liệt sĩ Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai
để quân ta ào ạt xông lên chiếm lĩnh trận địa. Trên 50% dân công hỏa tuyến là
phụ nữ trực tiếp ra chiến trường tiếp lương, tải đạn, cáng thương binh. Nhiều
chị em đã được Bác Hồ tuyên dương và được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công
hạng Hai, gồm các chị: Triệu Thị Soi, Đinh Thị Đậu, Đinh Thị Bỏng, Đàm Thị
Nhay, Đinh Thị Mẩn, Nguyễn Thị Bé, Nông Thị Đuông… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi
thư khen đồng bào Cao - Bắc - Lạng: “Đồng bào Cao - Bắc - Lạng đã làm kiểu mẫu
trong việc động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến. Tôi chắc rằng
đồng bào ba tỉnh sẽ luôn cố gắng thêm để giữ địa vị vẻ vang mà tôi chắc rằng
đồng bào các nơi khác sẽ thi đua với đồng bào Cao - Bắc - Lạng”.
Quân và dân Cao- Bắc- Lạng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng
đáng với lòng mong mỏi của Bác. Chiến thắng Biên giới có ý nghĩa trọng đại,
quân ta giải phóng 5 thị xã, 12 thị trấn, nhiều vùng đất quan trọng suốt dải
biên cương dài 750 km, gồm 35 vạn dân, địa bàn căn cứ địa Việt Bắc rộng mở,
thông thương nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tạo nên thế và
lực mới trong cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân ta, quân Pháp rơi vào thế
bị động, lúng túng; quân và dân ta nắm quyền chủ động trên chiến trường. Từ khi được giải phóng, nhân dân các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng
Sơn ra sức thi đua lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho cuộc
kháng chiến, đặc biệt là cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc thắng
lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, nhân dân các dân tộc trên địa bàn luôn phát huy truyền thống
của quê hương cội nguồn cách mạng, xây dựng hậu phương vững mạnh, đóng góp sức
người, sức của cho miền Nam đánh Mỹ, với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân,
quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, góp phần
cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ,
giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử -
mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Giai đoạn 1975 - 1985,
sau khi đất nước thống nhất, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tháng 2/1979, chiến tranh biên
giới phía Bắc nổ ra, Đảng bộ Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn lãnh đạo nhân dân các
dân tộc tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, bảo vệ một phần lãnh
thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Cuộc chiến đấu kết thúc, Đảng bộ và nhân dân các
dân tộc nơi đây đã phát huy ý chí tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao
động sản xuất, tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực khôi phục kinh
tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia.
Từ năm 1986 đến nay, Đảng
bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn phát huy nội lực, khơi
dậy tiềm năng, lợi thế và đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch đúng hướng; công tác quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước
thực hiện chặt chẽ, hiệu quả; tổng vốn đầu tư toàn xã hội có bước tăng trưởng
khá. Hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện, các khu kinh tế cửa khẩu, điểm du
lịch được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh,
thu hút được nhiều dự án với nhiều nhà đầu tư chiến lược, Dự án đường bộ cao
tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) được Chính phủ nhất trí chủ
trương đầu tư tạo tiền đề thuận lợi cho sự phát triển. Quốc phòng - an ninh
được củng cố, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; công tác đối ngoại
được mở rộng, tăng cường. Niềm tin trong giai đoạn cách mạng mới càng được phát
huy, trải qua 90 năm xây dựng và phát triển, công tác xây dựng Đảng và hệ thống
chính trị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều đổi mới. Việc thực hiện
Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa
XI, XII về xây dựng Đảng được triển khai thực hiện nghiêm túc, đặc biệt là vấn
đề nêu gương, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu.
Suốt chặng đường lịch sử hơn
90 năm, với những thành tích rất đáng trân trọng, tự hào, Đảng bộ và nhân dân
các dân tộc Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Sao vàng, Huân
chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập... Những thành tích vẻ vang đó đã khẳng
định sự đúng đắn của định hướng chiến lược phát triển; là nền tảng tinh thần
vững chắc để nhân dân các dân tộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn tiếp tục
vững bước đi lên trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế. Quyết tâm xây dựng
Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền
vững. Góp phần cùng cả nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.