NGHỆ THUẬT VẬN DỤNG CÁCH ĐÁNH “ĐÁNH ĐIỂM DIỆT VIỆN”
TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU – ĐÔNG 1950
Sự
Thật
Thất
bại trong cuộc tiến công chiến lược lên căn cứ địa Việt Bắc Thu - Đông 1947,
chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của giặc Pháp bị phá sản, buộc chúng phải
chuyển sang chiến lược đánh kéo dài, đẩy mạnh việc củng cố, mở rộng hành lang
Đông - Tây; kết hợp chiếm đóng Trung du, đồng bằng Bắc Bộ, củng cố phòng tuyến
biên giới phía Đông Bắc, vùng Cao - Bắc -
Lạng để “khóa chặt biên giới”, “bóp nghẹt lực lượng kháng chiến”. Những cố
gắng của địch đã đặt cuộc kháng chiến của nhân dân ta trước những khó khăn mới.
Tuy nhiên, đến giữa năm 1950, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển
biến có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cách mạng Trung Quốc thành
công (1/10/1949), nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng với hàng loạt nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời. Đầu năm 1950, Liên Xô và các nước xã hôi chủ nghĩa lần
lượt công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trước thực tế đó, yêu cầu chiến lược
của ta lúc này là đánh bại âm mưu phong tỏa biên giới phía Bắc của địch, mở
đường giao lưu giữa nước ta với các nước để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc
tế. Trong bối cảnh đó, tháng 6 năm 1950, Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương
Đảng quyết định mở chiến dịch trên hướng biên giới Đông Bắc thuộc hai tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn, nhằm mục đích: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch;
giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông với các nước XHCN, mở rộng
và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Thực hiện nhiệm vụ Trung ương Đảng giao, ngày 7-7-1950,
Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh mở chiến dịch Biên giới Cao - Lạng, lấy mật danh
là Chiến dịch Lê Hồng Phong. Ngày 27-7-1950, Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết
định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên
Giáp được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy mặt trận và Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy
chiến dịch. Đảng ủy viên chiến dịch gồm các đồng chí: Hoàng Văn Thái - Tham mưu
trưởng chiến dịch; Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm cung cấp; Lê Liêm - Chủ nhiệm
Chính trị và Bùi Quang Tạo. Cùng với đó, các cơ quan giúp việc cho Đảng ủy, Bộ
Chỉ huy chiến dịch cũng gấp rút được thành lập…
Ngày 16 tháng 9, ta nổ súng tiến công
cụm cứ điểm Đông Khê, đến 10 giờ ngày 18 tháng 9 chiếm được Đông Khê, trận đánh
kéo dài hơn dự kiến. Đêm 30 tháng 9 rạng ngày 01 tháng 10, binh đoàn Le Page bí mật cơ
động
từ Thất Khê lên Đông Khê, ta bỏ lỡ trận phục kích lớn ở nam Đông Khê. Ngày 3 tháng 10 địch rút binh đoàn Charton từ Cao Bằng về. Từ ngày 04 đến ngày 08 tháng 10, bộ
đội ta lần lượt tiêu diệt binh đoàn Le Page và binh đoàn Charton ở Cốc Xá, dãy điểm cao 477 và 1 số
điểm cao khác. Đến ngày 14 tháng 10, hai binh đoàn địch hoàn toàn bị tiêu diệt.
Bị thất bại ở Đông Khê, Cốc Xá và điểm cao 477, địch hoang mang rút khỏi các cứ
điểm từ Thất Khê đến Lạng Sơn (ngày 17 tháng 10), Đình Lập (ngày 20 tháng 10), An Châu (ngày 23 tháng 10). Đường số 4 và biên giới
Việt- Trung hoàn toàn được giải phóng,
chiến dịch kết thúc thắng lợi.
Thắng lợi của chiến dịch là kết quả của rất nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nghệ thuật vận dụng cách đánh “đánh điểm diệt viện”. Đây là phương pháp tác chiến vừa mang tính truyền thống của các lực lượng vũ trang nhân dân vừa phù hợp với đặc điểm lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Với cách đánh này, ta tận dụng được thế có lợi của địa hình, thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, phát huy được nhân tố chính trị tinh thần, sở trường, cách đánh của bộ đội, khoét sâu chỗ yếu của địch. Thực hiện phương châm lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính mà chiến dịch biên giới Thu - Đông 1950 là một điển hình về vận dụng cách đánh “đánh điểm diệt viện” được thể hiện trên một số nội dung sau:
Một là, nghệ thuật chọn mục tiêu “đánh điểm”
Trên cơ sở phân tích tình hình lực lượng và thế bố trí
của địch: Địch chia Liên khu Biên Giới thành hai khu là khu Lạng Sơn, khu An
Châu và hai phân khu Cao Bằng, Thất Khê, với tổng số binh lực vừa chiếm đóng vừa
cơ động lên đến 11tiểu đoàn, 9
đại đội bộ binh, 4 đại đội cơ giới, 4 đại đội công binh, 27 khẩu pháo các loại
và 8 chiếc máy bay. Nhưng do lực lượng có hạn, địch chủ trương tổ chức phòng thủ
có trọng điểm ở một số vị trí, một số vùng quan trọng, án ngữ trên tuyến biên
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Ban đầu, Bộ chỉ huy chiến dịch có
ý định tiến công cụm quân địch ở Cao Bằng nhưng trong quá trình nghiên cứu chiến
trường cho thấy: Cao Bằng là một cụm cứ điểm tương đối vững chắc, địa hình bị
chia cắt bởi các con sông lớn; địch bố trí xung quanh thị xã 15 vị trí, tạo
thành vành đai bảo vệ vững chắc. Nếu ta tiến công Cao Bằng, phải đương đầu với
cụm cứ điểm vững chắc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, đánh vào thị xã Cao
Bằng khó đảm bảo yếu tố chắc thắng. Hơn nữa, Cao Bằng là một cụm cứ điểm đột xuất,
nằm cuối cùng ở đầu mút phía bắc của đường số 4, cách vị trí gần nhất là Đông
Khê 45km. Nếu Cao Bằng bị tiến công cũng không gây chấn động mạnh đến toàn tuyến
phòng thủ của địch. Khả năng địch quyết giữ và phải đưa lực lượng đến ứng cứu
giải tỏa là không lớn, do đó ta ít có cơ hội thực hiện được phương châm chiến dịch
là “đánh điểm để diệt viện".
Từ những đánh giá trên, Bộ chỉ huy đã chọn Đông Khê
làm mục tiêu “đánh điểm”, cũng là mục tiêu mở đầu, trận then chốt mở đầu chiến
dịch. Bởi vì, Đông Khê là mắt xích quan trọng nối liền thị xã Cao Bằng với thị
trấn Thất Khê, nếu mất Đông Khê tuyến phòng thủ đường số 4 bị chặt đứt, sẽ làm
cho Cao Bằng rơi vào thế bị cô lập, buộc địch phải đưa quân đến ứng cứu Đông
Khê, hoặc đón quân từ Cao Bằng rút về hỗ trợ.
Như vậy, khi ta chọn Đông Khê nơi địch “tương đối yếu
nhưng lại hiểm yếu”, vừa bảo đảm đánh chắc thắng trận then chốt mở đầu chiến dịch
cũng là trận đánh vào mục tiêu đánh điểm, vừa tạo điều kiện thuận lợi để đánh
quân tăng viện ứng cứu, kéo địch ra khỏi công sự để tiêu diệt. Đây là nét đặc sắc,
đầy sáng tạo của Bộ chỉ huy chiến dịch.
Hai là, nghệ thuật thực hành
“đánh điểm” chắc thắng, tạo thời cơ để “diệt viện”
Khi tiến công vào cụm cứ điểm Đông
Khê là ta đã chọc thẳng vào huyệt xung yếu cắt đứt mắt xích quan trọng, phá vỡ
thế trận trên tuyến phòng thủ biên giới của quân Pháp, đẩy chúng vào thế bị
chia cắt, bao vây, cô lập buộc chúng phải tăng viện ứng cứu để chiếm lại và giữ
vững Đông Khê, với quyết tâm cao, đánh chắc thắng trận mở đầu, Bộ chỉ huy chiến
dịch đã làm tốt những vấn đề như:
Tập trung ưu thế lực lượng vượt trội,
tạo ra sức mạnh lớn đánh chắc thắng. Sau nhiều lần bị ta tiến công, để giữ vững
được mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ, quân địch đã tăng cường lực lượng,
phương tiện xây dựng Đông Khê thành một cụm cứ điểm kiên cố, vững chắc gồm có 2
đại đội lê dương thiện chiến thuộc trung đoàn 3 lê dương, một trung đội ngụy,
hai khẩu pháo (105mm và 57mm), một trọng
liên, hai khẩu súng cối 81mm, bốn khẩu súng cối 60mm. Để đảm bảo chắc thắng
trong trận tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch, Bộ
chỉ huy chiến dịch đã vận sáng tạo quy luật chiến tranh “mạnh được yếu thua”
vào trận đánh, đã tập trung binh hỏa lực chiếm ưu thế gấp 9 lần quân địch, bộ
binh ta có 2 trung đoàn (174 và 209) của bộ và được tăng cường 2 tiểu đoàn(426,
11); 13 khẩu sơn pháo; ngoài ra còn có trung đoàn bộ binh 36 thuộc Đại đoàn
308, là lực lượng sẵn sàng đánh quân địch nhảy dù xuống nam Đông Khê và quân địch
rút chạy khỏi Đông Khê; được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện khi chiến đấu.
Chính vì vậy, sau 54 giờ chiến đấu ta đã hoàn toàn làm chủ Đông Khê, tiêu diệt
được 100 tên địch, làm bị thương 212 tên, bắn rơi một máy bay…
Chỉ đạo thực hiện cách đánh sáng tạo,
tiến công địch trong công sự vững chắc, trên cơ sở chọn mục tiêu đánh điểm
chính xác và tập trung được binh hỏa lực hợp lý, đặc biệt là chọn đúng điểm đột
phá; khi nổ súng trên các hướng tiến công, thực hiện vừa kiềm chế, vừa chia cắt,
đột phá tiến công chính diện kết hợp với bên sườn vào đội hình quân địch; vừa
tiến công vừa củng cố trong quá trình phát triển chiến đấu trong chiều sâu, hiệp
đồng chặt chẽ giữa bộ binh với pháo binh; nhanh chóng tổ chức đào công sự để giữ
vững được trận địa đã đánh chiếm, hạn chế được thương vong, với cách đánh sáng
tạo đã đưa trận chiến đấu giành thắng lợi, hoàn thành xuất sắc mục đích chiến dịch
đề ra, tạo ra đột biến chiến dịch, xuất hiện thời cơ, tạo thêm điều kiện thực
hiện ý định đánh điểm - diệt viện mà Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra ngay từ đầu.
Ba là, nắm thời cơ tiêu diệt
địch “tăng viện”
Dự kiến âm mưu, hành động của địch điều chỉnh thế trận đánh địch ứng cứu
tăng viện: Sau thắng lợi ở Đông Khê, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chủ động đánh
giá, dự kiến và nhận định địch có thể tổ chức hành quân bộ hoặc đổ bộ đường
không lên đón tàn quân ở Đông Khê, đồng thời thăm dò tình hình rồi rút; hoặc
tăng cường thêm lực lượng chiếm đóng lại Đông Khê; cũng có thể, địch sẽ tổ chức
lực lượng tiến công theo đường bộ để bảo vệ, đón quân từ Cao Bằng rút lui. Từ
những nhận định trên, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định quyết tâm, dù địch thực hiện
âm mưu gì ta cũng phải tiêu diệt được chúng, đồng thời tiến hành điều chỉnh lực
lượng, thế trận để sẵn sàng đánh địch tăng viện ngoài công sự. Đại đoàn 308, ở
khu vực Nà Pa, Lũng Phầy, Khâu Luồng. Trung đoàn 209 và trung đoàn 174, triển
khai xây dựng trận địa sẵn sàng đánh quân nhảy dù xuống khu vực Đông Khê và tổ
chức lực lượng trinh sát, liên tục bám sát nhằm phát hiện quân địch, kết hợp với
nghi binh, nhử địch vào khu vực chiến dịch đã chuẩn bị. Khi phát hiện địch tăng
cường 1 tiểu đoàn Bắc Phi cho Cao Bằng và 1 tiểu đoàn dù cho Thất Khê để chuẩn
bị đánh chiếm lại Đông Khê, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị củng cố
trận địa, sẵn sàng đánh địch trong khu vực từ Lũng Phầy đến nam Đông Khê, đồng
thời yêu cầu các lực lượng vũ trang địa phương tạm ngừng mọi hoạt động quân sự
phối hợp giữa khu vực Thất Khê và Lạng Sơn để dụ cho quân địch ở Thất Khê lên.
Có những nơi ta đã huy động đến hơn 500 dân công ra phá đường số 4, nhưng sau
đó lại giải tán.
Bốn
là, Nắm thời cơ điều chỉnh lực lượng, chuyển hóa thế thế trận nhanh đánh bại địch
tặng viện ứng cứu
Ngày 1/10/1950, giữa lúc ta đang chuẩn bị tiến công Thất Khê thì địch
sử dụng một binh đoàn, do Lơ-pa-giơ chỉ huy từ Thất Khê hành quân lên Đông Khê.
Do địch hành động bất ngờ, ta nắm tình hình không chắc nên bỏ lỡ cơ hội đánh địch.
Ta chuyển hóa thế trận nhanh, cơ động triển khai kịp thời từ chiều ngày 2 đến
sáng ngày 4 tháng 10 năm 1950, ta tiến hành trận đánh tiến công vào binh đoàn
Lơ-pa-giơ ở Khâu Áng, Khâu Luồng, Tróc Ngà, Nà Mục, buộc chúng phải chạy dạt về
thung lũng Cốc Xá. Khi phát hiện binh đoàn Sác-tông rút khỏi Cao Bằng qua Quang
Liệt về 477, hòng hợp quân với binh đoàn Lơ-pa-giơ ở Cốc Xá. Bộ chỉ huy chiến dịch
quyết định tạm dừng tiến công Thất Khê, điều chỉnh lực lượng, thế trận để đánh
địch cơ động ngoài công sự, tập trung đánh bại địch ở khu vực Cốc Xá, điểm cao
477. Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng trung đoàn 174 được tăng cường 12 khẩu đội
súng máy phòng không 12,7mm, sẵn sàng chặn quân địch tháo chạy và quân cứu viện
bằng đường bộ hoặc đường không từ Thất Khê lên nhằm tạo thế để tiêu diệt binh
đoàn Lơ-pa-giơ ở thung lũng Cốc Xá. Trung đoàn 209, cơ động lên triển khai lực
lượng trên hướng Quang Liệt, chặn bước tiến của binh đoàn Sác-tông từ Nậm Nàng
về 477. Chiến dịch đã kịp thời chuyển hóa thế trận và lập thế bao vây chặt ở
thung lũng Cốc Xá, chia cắt địch từ Cao Bằng về, Thất Khê lên, từ ngày 5 đến
ngày 7 tháng 10, chiến dịch đã tiến công tiêu diệt toàn bộ binh đoàn Lơ-pa-giơ ở
Cốc Xá và binh đoàn Sác-tông tại điểm cao 477.
Thắng lợi
của Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950 tạo nên sự thay đổi cục diện của
cuộc chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta
sang một giai đoạn mới, giai đoạn ta hoàn toàn nắm quyền chủ động tiến công chiến
lược. Thực tế chiến dịch để lại những kinh nghiệm quý, là cơ sở khoa học để ta
vận dụng sáng tạo vào các chiến dịch tiếp theo, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện
Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đến thắng lợi
hoàn toàn.
Nghệ thuật chiến dịch
Việt nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc ( nếu xảy ra), sẽ có sự phát triển mới
so với các chiến dịch trong chiến tranh giải phóng do sự phát triển của đối tượng
tác chiến, lực lượng, thế trận, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
quân sự… Tuy vậy, những bài học kinh nghiệm về nghệ thuật lựa chọn chính xác khu vực tác chiến chủ yếu, mục tiêu tiến
công mở đầu chiến dịch; nghệ thuật xác định đúng phương châm chiến dịch; nghệ
thuật tập trung ưu thế sức mạnh trong các trận then chốt; nghệ thuật bố trí và
chuyển hóa thế trận trong chiến dịch Biên Giới vẫn còn nguyên giá trị, cần được
tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong huấn luyện, nghiên cứu khoa học
trong thời bình cũng như thực hành tác chiến chiến dịch trong chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc.
Tài liệu tham khảo
1. Tóm tắt các chiến dịch chống thực dân Pháp (1945 -
1954), Nxb QĐND,
Hà Nội - 2000.
2. Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt
Nam 1945 - 1975, Nxb QĐND, Hà Nội - 1995.
3. Thống kê các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp,
kháng chiến chống Mỹ, tập 1, Hà Nội - 1993.
4. Lịch sử đánh trận then chốt chiến dịch của QĐND Việt Nam
trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội - 2006.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét