CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950:
BƯỚC NGOẶT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
Công
Bằng
Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng
đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân trên mặt trận Cao Bằng, Lạng Sơn cùng
với cả nước đã khắc phục mọi khó khăn, thử thách, dũng cảm, ngoan cường, thông
minh, sáng tạo mở Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950 và giành thắng lợi to lớn,
có ý nghĩa chiến lược.
Trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) đầy gian khổ, hy sinh
song rất đỗi hào hùng của dân tộc ta, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông năm 1950
có một vị trí đặc biệt quan trọng. Cùng với thắng lợi của quân và dân ta trên
khắp chiến trường cả nước, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 mở ra một giai
đoạn mới của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Chiến
dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng
sinh lực địch, khai thông biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa kháng chiến
Việt Bắc. Đây là chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ huy; Đại tướng, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm
Chính ủy, Bí thư Đảng ủy. Đây cũng là chiến dịch duy nhất đích thân Chủ tịch
nước - Hồ Chí Minh ra mặt trận, trực tiếp chỉ đạo. Trải qua 29 ngày đêm chiến
đấu vô cùng quyết liệt, anh dũng và mưu trí của quân và dân ta
(16-9/14-10-1950), Chiến dịch tiến công Biên Giới Thu - Đông 1950 đã giành được
thắng lợi to lớn.
1. Lần đầu tiên đánh lớn
Đây
là chiến dịch do Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ huy; Đại tướng, Bộ trưởng Quốc
phòng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy. Đây cũng
là chiến dịch duy nhất đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận trực tiếp chỉ
đạo. Trải qua 29 ngày đêm chiến đấu vô cùng quyết liệt, anh dũng và mưu trí của
quân và dân ta (từ ngày 16/9 - 14/10/1950), Chiến dịch Biên giới Thu - Đông
1950 đã giành được thắng lợi to lớn.
Sau
thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực
dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố hành lang Đông - Tây, đồng thời thực hiện kế hoạch
mở rộng phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc bộ, củng cố tuyến phòng
thủ biên giới Đông Bắc. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm mưu
phong tỏa biên giới phía Bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với các
nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế.
Trong chiến dịch này, ta đã thực hiện
thắng lợi trọn vẹn mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là giải phóng hoàn toàn khu vực
biên giới từ thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn), một địa bàn chiến
lược xung yếu, tạo nên một thế trận mới vững chắc.
Với thắng lợi của Chiến dịch Biên giới,
cuộc kháng chiến của ta chuyển mạnh từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên
chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở
trình độ cao hơn.
Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950
đối với Pháp là một thất bại cay đắng. Giới cầm quyền và tướng lĩnh Pháp cũng
phải thừa nhận rằng thất bại của quân đội Pháp ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn
trong Thu - Đông 1950 có ảnh hưởng quyết định đối với nửa cuối cuộc chiến
tranh, tình thế cuộc chiến đã thay đổi theo hướng bất lợi cho quân Pháp.
Thất bại đó đã làm phá sản âm mưu
“khóa chặt biên giới Việt-Trung” hòng cô lập cách mạng Việt Nam với các nước
anh em; tuyến phòng thủ Liên khu biên giới Đông Bắc bị xóa bỏ, “Hành lang
Đông-Tây” bị chọc thủng, chủ trương phòng thủ Đông Dương theo “Kế hoạch Rơve” của
Pháp tiêu tan.
Sau thất bại ở biên giới, quân Pháp
lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc
bộ. Lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trót “đâm lao phải theo lao”, thực
dân Pháp phải tăng thêm quân cho chiến trường Đông Dương, triệu hồi Cao ủy
Pignon và Tổng Chỉ huy, tướng Carpentier về nước và cử tướng De Latre de
Tassigny sang Đông Dương kiêm luôn cả chức Cao ủy lẫn Tổng Chỉ huy.
Không
những thế, Pháp phải cầu viện Mỹ về vũ khí, phương tiện chiến tranh và
chính vì vậy, Pháp phải thỏa hiệp, nhượng bộ quyền lợi cho Mỹ để Mỹ can thiệp
sâu vào Đông Dương, điều mà Pháp không muốn nhưng buộc phải làm.
Có
thể nói, Chiến dịch Biên giới mở ra và giành được thắng lợi đã đáp ứng kịp thời
những yêu cầu cấp thiết về chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một thời
kỳ mới - thời kỳ ta giành, giữ và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến
trường chính Bắc bộ, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô ngày
càng lớn và giải phóng nhiều vùng đất đai quan trọng, tạo được thế trận mới.
2. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới mang tầm chiến
lược, tạo bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sau
thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, thực
dân Pháp đẩy mạnh việc củng cố hành lang Đông - Tây, đồng thời thực hiện kế
hoạch mở rộng phạm vi chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, củng cố tuyến
phòng thủ biên giới Đông Bắc. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá tan âm
mưu phong tỏa biên giới phía bắc của địch, mở đường giao lưu giữa nước ta với
các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Chiến dịch Biên Giới
Thu - Đông 1950 mở ra và giành được thắng lợi đã biến quyết tâm chiến lược trên
đây thành hiện thực. Chiến thắng đó có ý nghĩa lịch sử to lớn, mang tầm chiến
lược; là kết tinh sức mạnh tổng hợp của cả nước, thành quả của quân và dân ta
suốt cả chặng đường 5 năm (1945-1950) chiến đấu trong vòng vây bốn bề của chủ
nghĩa đế quốc, thực dân. Trong chiến dịch này, ta đã thực hiện thắng lợi trọn
vẹn mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra là giải phóng hoàn toàn khu vực biên giới từ
thị xã Cao Bằng đến thị trấn Đình Lập (Lạng Sơn), một địa bàn chiến lược xung
yếu, tạo nên một thế trận mới vững chắc. Căn cứ địa Việt Bắc-Thủ đô kháng chiến
của cả nước được mở rộng và củng cố, trở thành vùng tự do an toàn. Đường giao
thông quốc tế được mở rộng nối liền căn cứ địa Việt Bắc với Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, qua đó đến Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu. Thế bị
bao vây, cô lập của cuộc kháng chiến được khắc phục. Sự nghiệp “kháng chiến,
kiến quốc” của ta có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận sự viện trợ về vật chất,
vũ khí, trang bị quân sự và học hỏi kỹ, chiến thuật của quân đội các nước anh
em, tiếp thu lý luận, kinh nghiệm xây dựng xã hội mới theo nguyên lý chủ nghĩa
Mác - Lê-nin.
Thắng
lợi này “làm cho toàn dân và toàn quân ta từ Nam chí Bắc vô cùng phấn
khởi, tinh thần của quân và dân ta tăng lên một cách nhảy vọt. Mọi người qua
thắng lợi đó đều thấy Đảng, Chính phủ, dân tộc mình, quân đội mình và chính
mình đã lớn mạnh lên nhiều, rằng kháng chiến lâu dài không phải là vô hạn độ,
triển vọng thắng lợi đã nhích lại gần chúng ta hơn trước nhiều, địch đã phải
chịu thất bại chua cay và không thể huênh hoang như trước nữa”!(1)
Với
thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới, cuộc kháng chiến của ta chuyển mạnh từ hình
thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh
chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn.
Biên
Giới Thu - Đông 1950, đối với phía Pháp là một thất bại cay đắng. Giới cầm
quyền và tướng lĩnh Pháp cũng phải thừa nhận rằng, thất bại của quân đội Pháp ở
biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950 có ảnh hưởng quyết định đối
với nửa cuối cuộc chiến tranh, tình thế cuộc chiến đã thay đổi theo hướng bất
lợi cho quân Pháp. Trong số các đơn vị bị loại khỏi vòng chiến đấu, có 5 tiểu
đoàn cơ động chiến lược, chiếm 55% lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc
Bộ (5/9 tiểu đoàn), 41% lực lượng toàn Đông Dương (5/12 tiểu đoàn). Thất bại đó
gây hiệu ứng dây chuyền, quân Pháp không chỉ phải rút khỏi toàn bộ Liên khu
Biên giới Đông Bắc, mà còn phải rút khỏi các vùng quan trọng khác như Lào Cai,
Hòa Bình, Thái Nguyên v.v..; thậm chí phía Pháp phải báo động toàn vùng Bắc Bộ
và bàn tính đến chuyện rút lui chiến lược về cố thủ từ miền Trung trở vào.
Thất
bại đó đã làm phá sản âm mưu “khóa chặt biên giới Việt - Trung” hòng cô lập
cách mạng Việt Nam với các nước anh em; tuyến phòng thủ Liên khu Biên giới
Đông Bắc bị xóa bỏ, “hành lang Đông-Tây” bị chọc thủng, chủ trương phòng thủ
Đông Dương theo “Kế hoạch Rơ-ve” của Pháp tiêu tan.
Sau
thất bại ở Biên Giới, quân Pháp lâm vào tình thế khó khăn, mất quyền chủ động
chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ. Tâm lý lo lắng về thất bại trên chiến
trường không chỉ diễn ra trong đội quân viễn chinh Pháp mà ngày càng lan tràn
đến giới cầm quyền chính trị và quân sự Pháp. Tại nước Pháp, phong trào đấu
tranh chống “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” của thực dân Pháp ở Đông Dương ngày
càng dâng lên mạnh mẽ. Nhiều nghị sĩ trong Quốc hội Pháp lên tiếng công kích
Chính phủ theo đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa, hao người, tốn của ở Đông
Dương. Cao ủy, Tổng chỉ huy và các tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương mâu thuẫn và
tranh cãi quyết liệt về vấn đề tập trung hay phân tán lực lượng để chiếm giữ
đất đai, bình định vùng chiếm đóng, giữa giữ đất, giành dân với thu hẹp phạm vi
chiếm đóng để bảo toàn lực lượng.
Lâm
vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, trót “đâm lao phải theo lao”, thực dân Pháp
phải tăng thêm quân cho chiến trường Đông Dương, triệu hồi Cao ủy Phi-nhông
(Pignon) và Tổng chỉ huy, tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier) về nước và cử tướng
Đờ Lát-đờ Tát-xi-nhi (De Latre de Tassigny) sang Đông Dương kiêm luôn cả chức
Cao ủy lẫn Tổng chỉ huy. Không những thế, Pháp phải cầu viện Mỹ về vũ khí và
phương tiện chiến tranh và chính vì vậy, Pháp phải thỏa hiệp, nhượng bộ quyền
lợi cho Mỹ, để Mỹ can thiệp sâu vào Đông Dương, điều mà Pháp không muốn nhưng
buộc phải làm.
Có thể
nói, Chiến dịch Biên Giới mở ra và giành được thắng lợi đã đáp ứng kịp thời
những yêu cầu cấp thiết về chiến lược, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang một
thời kỳ mới - thời kỳ ta giành, giữ và phát huy quyền chủ động chiến lược trên
chiến trường chính Bắc Bộ, liên tục tiến công địch, đánh tiêu diệt với quy mô
ngày càng lớn và giải phóng nhiều vùng đất đai quan trọng, tạo được thế trận
mới.
3. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới đánh dấu bước
trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau 6
năm kể từ ngày thành lập (22-12-1944) đến Thu - Đông năm 1950, Quân đội nhân
dân Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng trên mọi phương diện và đã giành được
nhiều chiến công xuất sắc. Chiến thắng Biên Giới đánh dấu một bước tiến nhảy
vọt của Quân đội ta về nhiều mặt, đặc biệt là về nghệ thuật chiến dịch, chiến
thuật. Từ những đợt hoạt động, những chiến dịch nhỏ, đến chiến dịch Biên Giới,
lần đầu tiên ta mở chiến dịch tiến công quy mô lớn, tập trung tới 4,5 vạn
người, kể cả bộ đội và dân, trong thời gian gần một tháng. Đây là chiến dịch
lớn, hiệp đồng một số binh chủng, tiến công vào hệ thống phòng ngự mạnh của
địch trên tuyến dài gần 100km. Trong chỉ đạo, ta đã đề ra phương châm tác chiến
chiến dịch đúng, lựa chọn chính xác hướng tiến công chủ yếu, kiên quyết và khéo
léo tập trung ưu thế binh, hỏa lực, tạo thế trận đánh hiểm, có cách đánh sáng
tạo và có hiệu quả. Chiến dịch Biên Giới là một điển hình về đánh vận động,
truy kích, nghệ thuật đánh điểm, diệt viện và đánh tiêu diệt trong nghệ thuật
tác chiến của quân đội ta. Thành công đó đánh dấu bước trưởng thành của quân
đội, chứng tỏ trình độ chỉ huy, kỹ thuật, chiến thuật của bộ đội ta có sự tiến
bộ vượt bậc. Bộ đội ta đã tác chiến tập trung với quy mô lớn hơn so với trước,
tiêu diệt được tiểu đoàn địch trong công sự vững chắc và binh đoàn địch trong
đánh vận động. Ta đã giữ quyền chủ động trong suốt quá trình chiến dịch, chuyển
hóa thế trận tốt, xử lý tình huống tập trung, chia cắt tiêu diệt từng bộ phận
dẫn tới tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch trên toàn chiến trường. Bên cạnh đó,
trong điều kiện phải chiến đấu dài ngày, tình huống diễn biến mau lẹ, chiến
dịch diễn ra trên địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, nhưng công tác bảo đảm
hậu cần, bảo đảm vũ khí đạn dược, thông tin liên lạc, cứu chữa và chăm sóc thương
bệnh binh, v.v.., vẫn được đảm bảo.
Không
chỉ bó hẹp trên chiến trường biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn, Chiến dịch Biên
giới Thu - Đông 1950 cho thấy sự chỉ đạo tác chiến đã phát triển lên tầm
cao mới. Khi bộ đội ta tiến công địch ở mặt trận chính Cao Bằng, Lạng Sơn thì
LLVT và nhân dân địa phương từ Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn, cả Liên
khu 3, Bình Trị Thiên, Nam Trung bộ đến Nam Bộ đều đẩy mạnh các hoạt động phối
hợp tiến công địch, “chia lửa” với hướng tiến công chính, buộc chúng phải căng kéo,
dàn mỏng lực lượng đối phó ở khắp nơi.
Chính
kẻ địch cũng thừa nhận Quân đội nhân dân Việt Nam đến cuối năm 1950 đã “có một
phương châm tác chiến vững vàng, điều khiển các trận đánh kế tiếp nhau, gắn bó
với nhau một cách mạch lạc và làm cho quân Pháp không kịp thở trên một chính
diện rộng lớn từ Đông Khê đến Thất Khê”(2). Trong quá trình Chiến
dịch Biên Giới, bộ đội ta đã “thực sự làm chủ tình thế, thay đổi bố trí ban đầu
rất nhanh, hướng sự cố gắng vào sự bao vây tiêu diệt quân Pháp”(3).
Với cuộc chiến đấu trên đường số 4, Cao Bằng - Lạng Sơn trong Thu - Đông 1950,
bộ đội ta “tỏ ra là một quân đội hiện đại, căn cứ vào hình thức tác chiến cũng
như sức mạnh trong chiến đấu”(4).
Sau
chiến thắng Biên Giới, phát huy thế chủ động chiến lược giành được trên chiến
trường chính Bắc Bộ, Bộ Tổng tư lệnh tập trung các trung đoàn chủ lực, thành
lập 3 đại đoàn bộ binh (312, 316, 320) và Đại đoàn công pháo 351; liên tiếp tổ
chức, chỉ huy các chiến dịch tiến công quy mô lớn ở trung du và đồng bằng, miền
núi Bắc Bộ. Đáng kể là: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25-12-1950/18-1-1951), tiến
công địch ở trung du Bắc Bộ, từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông
Cầu; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23-3/7-4-1951), tiến công vào tuyến phòng thủ
của Pháp trên đường số 18 từ Phả Lại đến Uông Bí; Chiến dịch Quang Trung
(28-5/20-6-1951) tiến công vào phòng tuyến sông Đáy của quân Pháp từ Nam Phủ Lý
(Hà Nam) đến Yên Mô (Ninh Bình); Chiến dịch Lý Thường Kiệt (29-9/31-10-1951),
tiến công địch ở Nghĩa Lộ (Yên Bái); Chiến dịch Hòa Bình cuối 1951 đầu 1952,
tiến công địch ở khu vực thị xã Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6, v.v.., đồng
thời đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích trên khắp chiến trường Bắc, Trung,
Nam và toàn Đông Dương.
Chiến
thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 thực sự là bước trưởng thành vượt bậc của Quân
đội ta, tạo nền tảng, cơ sở để LLVT ta cùng toàn Đảng, toàn dân giành được
thắng lợi to lớn hơn trong giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến, mà quan
trọng là trong Đông Xuân 1953-1954, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ.
Sau
những năm chiến đấu giữa vòng vây của quân thù, Chiến dịch Biên Giới mở ra và
giành thắng lợi đã góp phần quyết định đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân
ta bước sang một giai đoạn mới. Nói cách khác, chiến thắng Biên Giới Thu - Đông
1950 mang tầm vóc và ý nghĩa chiến lược đối với cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, đánh dấu bước thất bại chiến lược của địch; là bước ngoặt, mang lại thế
và lực mới cho cuộc kháng chiến, đánh dấu sự trưởng thành của Quân đội ta. Đảng
ta khẳng định: “Đi qua Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Trung Du, quân đội ta
đã tiến bộ vượt bậc trên con đường từ du kích chiến, chuyển sang chính quy
chiến. Do vận động chiến đã được đẩy mạnh, sự quan trọng của vận động chiến
trên chiến trường Bắc Bộ đã được đưa lên ngang hàng với du kích chiến”(5).
Thắng
lợi của Chiến dịch Biên Giới đã chứng minh tính đúng đắn đường lối kháng chiến
toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính mà Đảng ta đã vạch ra
ngay từ đầu cuộc kháng chiến. Với tinh thần “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình
là chính”, trong suốt những năm “chiến đấu trong vòng vây”, chúng ta đã nỗ lực
xây thế và lực cho cuộc kháng chiến, xây dựng quân đội ngày càng vững mạnh, đủ
sức tiến hành và giành thắng lợi trong những trận đánh lớn làm xoay chuyển cục
diện tình hình có lợi cho ta. Bài học về phát huy nội lực, xây dựng thực lực
kháng chiến, xây dựng quân đội để làm nên chiến thắng Biên Giới vẫn còn nguyên
giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Kỷ
niệm 70 năm chiến thắng Biên Giới (1950/2020) diễn ra trong bối cảnh đất nước
ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta
đang tập trung thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc
lần thứ XII, hướng tới Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Đây là dịp
chúng ta ôn lại chiến công vẻ vang của dân tộc, tôn vinh các anh hùng liệt sĩ,
những người con của đất nước đã cống hiến máu xương, tuổi xuân, công sức, trí
tuệ cho sự toàn thắng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, khơi dậy niềm
tự hào, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong
giai đoạn cách mạng mới. Thắng lợi của Chiến dịch
Biên giới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn
diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính mà Đảng ta đã vạch ra ngay từ đầu cuộc
kháng chiến. Bài học về phát huy nội lực, xây dựng thực lực kháng chiến, xây dựng
Quân đội để làm nên Chiến thắng Biên giới vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thượng tá, ThS Ngô Văn Sỹ
(1): Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Yếu tố tinh
thần của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trong
cuốn Điện Biên Phủ - Trận thắng thế kỷ, NXB Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2004, tr 600.
(2, 3, 4): Mác-săng (Marchand), Thảm kịch Đông Dương.
(5): Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đảng toàn tập, tập 12, 1951, NXB CTQG, Hà Nội, 2001, tr 271.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét