Thứ Ba, 8 tháng 9, 2020

 

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ BÁC HỒ,

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950

Bàn Luận

Cách đây đúng 70 năm, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong Chiến dịch Biên giới Thu- Đông 1950 (Chiến dịch Biên Giới). Chiến thắng này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tiêu diệt một bộ phận chủ lực của Pháp, giải phóng một khu vực rộng lớn mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, khai thông tuyến biên giới Việt- Trung từ Cao Bằng đến Lạng Sơn, mở cánh cửa giao lưu giữa nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tạo nên bước ngoặt quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta bước sang giai đoạn mới, giai đoạn ta giành thế chủ động phản công, tiến công. Chiến thắng Biên giới Thu- Đông 1950 xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự lãnh đạo sáng suốt của Thường vụ Trung ương Đảng và bác Hồ là nhân tố quyết định.

Chiến dịch Biên Giới đã được Đảng ta và Bác Hồ đặc biệt quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp, sâu sát và kịp thời. Thể hiện trước hết là sự sáng suốt của Đảng và Bác khi lựa chọn địa bàn biên giới Bắc Đông Bắc để quyết định mở chiến dịch.

Cuối năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, đến giữa năm 1950, nhiều nước trên thế giới công nhận nước ta, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã có bước phát triển mạnh và giành được nhiều thắng lợi quan trọng; có điều kiện chuyển sang giai đoạn phản công, tiến công giành quyền chủ động trên chiến trường. Tuy nhiên, việc quân Pháp ra sức củng cố phòng tuyến biên giới; mở rộng chiếm đóng ở Trung Du và đồng bằng Bắc Bộ, tăng cường đánh phá ta trên khắp các chiến trường đã ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến. Việt Bắc, hậu phương chính của kháng chiến lại nghèo và bị bao vây cô lập, nên không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày một tăng của cuộc kháng chiến. Yêu cầu chiến lược của ta lúc này là phá âm mưu địch phong tỏa biên giới phía Bắc, mở đường giao lưu giữa nước ta với các nước anh em để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế. Trong bối cảnh đó, tháng 6 năm 1950, Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch trên hướng biên giới Đông Bắc thuộc hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Đây là một quyết định đúng đắn, chính xác, thể hiện tài thao lược của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phân tích, nhận định tình hình, chọn hướng và vận dụng thời cơ chiến lược, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sự quan tâm lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ đối với chiến dịch còn được thể hiện ở quyết định lựa chọn nhân sự cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, tham mưu, bảo đảm của chiến dịch.

Xuất phát từ yêu cầu chiến lược và tầm quan trọng của Chiến dịch, ngày 25 tháng 7 năm 1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch để lãnh đạo, điều hành làm công tác chuẩn bị và chỉ huy Chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Đại tá Phan Phác, Quyền Tổng tham mưu phó làm Tham mưu phó chiến dịch. Đồng chí Lê Liêm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị làm Chủ nhiệm Phòng Chính trị chiến dịch. Đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Phòng Chính trị chiến dịch. Đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Phòng Cung cấp chiến dịch. Đồng thời điều động hơn 200 cán bộ của các cơ quan Trung ương và các liên khu tăng cường cho cơ quan cung cấp mặt trận. Đồng chí Bùi Quang Tạo, Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc làm Phó Chủ nhiệm Phòng Cung cấp chiến dịch.

Như vậy, Bộ chỉ huy Chiến dịch được tổ chức do Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp phụ trách và hầu hết các cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp, Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc được cử trực tiếp làm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan tham mưu, bảo đảm của chiến dịch. Điều đó thể hiện sự tập trung cao độ về lãnh đạo, chỉ huy, sử dụng những cán bộ ưu tú nhất vào lãnh đạo, chỉ huy, điều hành một chiến dịch quan trọng để đưa chiến dịch đến thắng lợi. Thực tiễn chiến dịch đã minh chứng sự sáng suốt của Thường vụ Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Để có đủ sức mạnh và bảo đảm đầy đủ các điều kiện cho thắng lợi, Đảng và Bác đã lãnh đạo huy động lực lượng, đồng thời chỉ đạo công tác bảo đảm cho chiến dịch

Là một chiến dịch quan trọng nên Thường vụ trung ương Đảng và Bác Hồ đã lãnh đạo huy động một lực lượng lớn (có thể nói là cao nhất có thể huy động) tham gia chiến dịch, bao gồm hầu hết các đơn vị chủ lực của Bộ (Đại đoàn 308, Trung đoàn 209 và Trung đoàn 174); tiểu đoàn độc lập (d 426, d 428) của Liên khu Việt Bắc; tiểu đoàn 888 của tỉnh Lạng Sơn. Quân số lên tới 29.500 người (các đơn vị là 25.000 người; Bộ chỉ huy chiến dịch và cơ quan 4.500 người). Chưa kể các đại đội bộ đội địa phương và du kích của hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Đây chính là biểu hiện nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh sáng suốt của Đảng ta trong tổ chức sử dụng tập trung lực lượng.

Do quy mô của Chiến dịch tương đối lớn, có nhiều lực lượng tham gia, trên địa bàn rộng, rừng núi hiểm trở, lại xa căn cứ hậu cần của ta, nên công tác bảo đảm cho Chiến dịch rất khó khăn. Thấy trước được điều đó, trong Hội nghị Quốc phòng ngày 02 tháng 9 năm 1950, Bác Hồ đã đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo tiếp tế cho Chiến dịch Biên Giới và chỉ thị cho các lực lượng tham gia Chiến dịch: “Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết đánh thắng trận này[1]. Thấm nhuần tư tưởng của Bác, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, công tác chuẩn bị của các cơ quan, địa phương và các bộ phận được tiến hành chặt chẽ, bí mật, khẩn trương và toàn diện trên tất cả các mặt. “Đến trung tuần tháng 9 công tác chuẩn bị hậu cần đã cơ bản hoàn thành. Gần 4.000 tấn lương thực, súng đạn đã được vận chuyển đến những địa điểm thích hợp, phù hợp với ý định chiến dịch”[2]. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi.

Đặc biệt, sự lãnh đạo sâu sát, cụ thể của Đảng và Bác Hồ được thể hiện đậm nét nhất ở việc lãnh tụ tối cao trực tiếp ra mặt trận phê duyệt phương án tác chiến, chỉ đạo chiến dịch, kịp thời động viên bộ đội và nhân dân đánh giặc.

Mặc dù bận trăm công nghìn việc của một Chủ tịch nước, nhưng do tính chất tối quan trọng của Chiến dịch Biên Giới, đầu tháng 9, Bác Hồ đã lên đường ra mặt trận để trực tiếp chỉ đạo, theo dõi và động viên các lực lượng tham gia Chiến dịch. Việc Người ra mặt trận làm cho mọi người càng thấm sâu ý nghĩa quan trọng của Chiến dịch sắp mở; là lời động viên mạnh mẽ nhất, xúc động nhất lan truyền trong sâu thẳm toàn thể đội ngũ dân công, bộ đội tham gia Chiến dịch.

Tại Quảng Uyên, ngày 10-9 Bác phê chuẩn quyết tâm tác chiến của Bộ chỉ huy Chiến dịch. Ban đầu, ý định tác chiến của Bộ chỉ huy Chiến dịch là đánh Cao Bằng trước, sau đó chuyển xuống đánh Đông Khê, Thất Khê. Nhưng sau khi tổ chức trinh sát thực địa Cao Bằng cho thấy, tuy là thị xã biệt lập, nhưng đó là quần thể kiến trúc phức tạp, có hệ thống đồn trại, pháo đài kiên cố do hai tiểu đoàn địch đóng giữ, nếu đánh Cao Bằng “ta chưa có thể nói chắc chắn bảo đảm thắng lợi”. Vì thế, Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch cân nhắc, quyết nghị một phương án tác chiến mới và báo cáo Hồ Chủ tịch. Nghe xong, Bác phân tích ngắn, đại ý: Phương án này có nhiều cái hay. Ta đánh vào Đông Khê trước là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu. Nhưng đây lại là điểm xung yếu trong hệ thống phòng thủ biên giới của giặc. Cứ điểm Đông Khê bị diệt, địch khác nào con thú bị đánh què cẳng, nhất định phải lồng lộn lên phản ứng, tìm mọi cách chiếm lại để giữ Cao Bằng, hoặc để đón quân ở Cao Bằng rút về. Ta sẽ dàn quân ở những nơi do ta lựa chọn, bủa lưới thép săn thú vào tròng. Quân viện của địch ta đã diệt được, lúc ấy muốn chiếm Cao Bằng không khó lắm. Nếu chúng lại tự rút bỏ Cao Bằng, càng tốt cho ta đánh địch trong vận động[3]. Đây là bài học sâu sắc về lối tư duy sát thực tiễn; sự phân tích, đánh giá tình hình một cách khách quan, khoa học, thể hiện nhãn quan quân sự xuất sắc và sự chỉ đạo thiên tài của Bác đối với chiến dịch. Thực tiễn Chiến dịch sau đó đã diễn ra đúng như nhận định của Người.

Sau đó, Bác dự Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn và đại đoàn do Bộ chỉ huy Chiến dịch triệu tập để nghe phổ biến kế hoạch tác chiến, Người nói: “Bộ chỉ huy chiến dịch nói là các chú họp lần cuối cùng để chuẩn bị trận đánh. Đây chưa phải là lần cuối cùng! Chưa đánh thắng thì chưa được coi là đã chuẩn bị xong... [4]. Đồng thời, Bác mong và yêu cầu cán bộ các cấp tuyệt đối không được chủ quan, khinh địch mà phải quán triệt và làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, nhất là liên tục củng cố quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong quá trình Chiến dịch.

Ngày 13 tháng 9, Bác rời Sở chỉ huy Chiến dịch đến mặt trận Đông Khê, trực tiếp theo dõi diễn biến và chỉ đạo trận mở màn Chiến dịch tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê tại đài quan sát Chiến dịch ở đỉnh Ngườm Cuông, núi Báo Đông. Khi trận đánh gặp khó khăn, Người đã đồng ý với đề nghị của Bộ chỉ huy Chiến dịch cho các đơn vị tạm lui ra ngoài rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại đội hình, củng cố thêm quyết tâm và chỉ thị: dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu. Thực hiện chỉ thị của Bác, bộ đội ta đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ anh dũng chiến đấu và làm nên chiến thắng Đông Khê, trận then chốt mở màn chiến dịch.

Ngay sau chiến thắng Đông Khê, Bác Hồ và Bộ chỉ huy Chiến dịch nhận định: có thể địch sẽ chiếm lại Đông Khê để đón quân ở Cao Bằng rút lui. Do vậy, ý đồ tác chiến của ta là “nhử thú dữ vào tròng” để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng. Đúng như dự kiến của ta, Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định rút lực lượng đồn trú ở thị xã Cao Bằng do Sác-tông chỉ huy về Đông Khê theo Đường số 4; đồng thời, sử dụng binh đoàn cơ động do Lơ Pa-giơ chỉ huy từ Thất Khê lên chiếm lại Đông Khê làm bàn đạp đón cánh quân từ Cao Bằng về. Cuộc chiến đấu vây đánh binh đoàn Lơ Pa-giơ diễn ra quyết liệt từ ngày 02 tháng 10 ở các khu vực Khâu Áng, Khâu Luông, Nà Mục, Xuân Hoà..., phía Tây Nam Đông Khê. Trong thư gửi các chiến sĩ ngày 06 tháng 10, Bác Hồ nhấn mạnh: “Hiện nay tình hình rất có lợi cho ta. Vậy các chiến sĩ phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để giành lấy toàn thắng. Bác theo dõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ[5]. Như được tiếp thêm sức mạnh, bộ đội ta nhất tề xông lên tiêu diệt địch. Kết quả là Lơ Pa-giơ cùng Ban tham mưu và tàn quân địch bị bắt gọn.

Khi binh đoàn Lơ Pa-giơ bị tiêu diệt về căn bản, có cán bộ thương bộ đội quá mệt, đề nghị xin nghỉ một ngày để lấy lại sức rồi sẽ đánh tiếp binh đoàn Sác-tông. Để không lỡ thời cơ diệt địch, Bác Hồ liền viết thư cho cán bộ, chiến sĩ trong chiến dịch: “Từ ngày kháng chiến đến nay, trận này là trận đầu tiên bộ đội ta đánh vận động liên tiếp luôn mấy ngày. Đó là một cuộc thử thách lớn. Các chú không quản mệt nhọc, đói rét, chỉ ra sức thi đua giết địch... Các chú đã hoàn thành bảy phần mười cuộc thử thách một cách dũng cảm. Các chú cố gắng mà tiêu diệt nốt binh đoàn Sác-tông nhé. Bác và Tổng Tư lệnh đã ra lệnh khao các chú một bữa thịt[6]. Nhận được thư Bác, quân ta vô cùng phấn khởi, quên hết mệt nhọc, nô nức tiến công địch. Đến 17 giờ ngày 07 tháng 10, phần lớn binh đoàn Sác-tông bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh, trong đó có Sác-tông cùng Ban tham mưu và tên Tỉnh trưởng Cao Bằng. Sau đó, địch ở Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc Bình, An Châu và Đình Lập lần lượt rút chạy. Đến ngày 14 tháng 10 năm 1950, chiến dịch Biên Giới kết thúc thắng lợi.

Chiến thắng Biên Giới năm 1950 để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá về vai trò lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Trong đó hình ảnh Bác Hồ ra trận không chỉ cho chúng ta càng thấy sự vĩ đại của người, vị lãnh tụ tối cao của Đảng, mà còn để lại cho chúng ta tấm gương sáng ngời về tác phong rất sâu sát, tỉ mỷ, gần gũi với bộ đội, với nhân dân.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, những bài học kinh nghiệm về lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ trong chiến dịch Biên Giới vẫn còn nguyên giá trị. Nhất là sự sáng suốt, tài tình của Thường vụ Trung ương Đảng và Bác trong việc hạ quyết tâm chính xác, huy động sức mạnh, công tác sử dụng cán bộ và tác phong sâu sát, cụ thể, tỉ mỷ, dân chủ của người đứng đầu là những bài học vô giá để chúng ta nghiên cứu học tập vận dụng vào thực tiễn cách mạng hiện nay và trong tương lai./.

 



[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 6, tr. 86, Nxb CTQG, H. 2002.

[2] Viện LSQSVN, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tr.273, Nxb.QĐND, H.2000.

[3] Trận đánh ba mươi năm, Tập 1, tr. 390, Nxb QĐND,  H.1995,

[4] Chủ tịch Hồ Chí Minh- Hành trình kháng chiến, Tr. 122, Nxb.CAND, H.2007.

[5] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 6, tr.102, Nxb.CTQG, H.2002.

[6] Hồ Chí Minh - Toàn tập Sđd, tr. 103

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét