Thứ Tư, 30 tháng 9, 2020

 

            NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC, SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG

         TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG NĂM 1950

Bàn Luận

Đến tháng 6 năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã phát triển mạnh, bộ đội chủ lực đã từng b­ước tr­ưởng thành. Địch mở rộng địa bàn chiếm đóng và ra sức phong toả biên giới, gây cho ta một số khó khăn về quân sự, kinh tế, tài chính. Thường vụ Trung ư­ơng Đảng đã quyết định giao cho Bộ Tổng Tư­ lệnh mở Chiến dịch Biên Giới nhằm mục đích: "tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch; giải phóng một phần biên giới; mở đ­ường giao thông với các n­ước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc"[1]. Chiến dịch Biên Giới diễn ra từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 14 tháng 10 năm 1950.

Lực lư­ợng địch gồm cả quân chiếm đóng và quân cơ động là 11 tiểu đoàn, 9 đại đội bộ binh, 4 đại đội công binh, 27 khẩu pháo các loại và 8 máy bay. Lực l­ượng ta gồm: Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, 3 tiểu đoàn (426, 428, 888) của Liên khu Việt Bắc và tỉnh Lạng Sơn, Tiểu đoàn Sơn pháo 75mm (4 đại đội), 5 đại đội công binh cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích[2].

Chiến dịch vận dụng cách đánh “đánh điểm, diệt viện”, tổ chức thành các lực lượng trên 3 mặt trận: mặt trận Đông Khê (lực lượng đánh điểm), sử dụng 3 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh; mặt trận đánh quân ứng chiến (lực lượng đánh địch ngoài công sự), sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu); mặt trận Na Sầm-Lạng Sơn (lực lượng kiềm chế), sử dụng 2 tiểu đoàn (428, 888) cùng dân quân du kích; lực lượng sở chỉ huy; lực lượng hậu cần, kỹ thuật chiến dịch.

Đợt 1, tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng thành các bộ phận: bộ phận tiến công trên hư­ớng chủ yếu, sử dụng 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ binh; bộ phận tiến công trên h­ướng thứ yếu, sử dụng 1 trung đoàn; bộ phận dự bị, sử dụng Trung đoàn 36; bộ phận hỏa lực, sử dụng Tiểu đoàn pháo 75mm (thiếu); triển khai tiến công trên 2 h­ớng (chủ yếu, thứ yếu). Trận đánh diễn ra ác liệt, kéo dài từ 6 giờ ngày 16 tháng 9 đến 10 giờ ngày 18 tháng 9, ta đánh chiếm đ­ợc toàn bộ cụm cứ điểm Đông Khê, hoàn thành thắng lợi trận then chốt mở đầu.

Đợt 2, sau chiến thắng Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh lực l­ượng để chuẩn bị đánh viện. Binh đoàn Lơ Pa-giơ cơ động từ Thất Khê lên nhằm chiếm lại Đông Khê, do chủ quan nên ta không thực hiện đư­ợc trận đánh ở khu vực đã chuẩn bị trên Đờng số 4. Bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh và tổ chức lực lư­ợng đánh chiếm một số địa hình có giá trị, kết hợp vừa ngăn chặn, vừa tiến công, buộc địch phải dạt về khu vực Cốc Xá. Khi nhận đ­ợc tin Binh đoàn Sác-tông cơ động từ Cao Bằng về, ta sử dụng Trung đoàn 209 cơ động lên h­ướng Quang Liệt để ngăn chặn nhằm tập trung lực l­ượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ tr­ước khi Binh đoàn Sác-tông về đến nơi.

Để tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Trung đoàn 174 bố trí ở Cốc Toòng sẵn sàng chặn địch tháo chạy và địch tăng viện từ Thất Khê lên, Trung đoàn 88 bố trí ở Bản Ca chặn địch từ Điểm cao 477 xuống; đồng thời, sử dụng Trung đoàn 36 cùng các lực l­ượng tăng c­ường, triển khai tiến công trên 3 hư­ớng (Đông, Bắc, Tây Nam) và lực lư­ợng dự bị chặn địch ở hư­ớng Nam, vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến đấu, tiến công kiên quyết liên tục, ta đã tiêu diệt hết các lực lư­ợng của binh đoàn này và làm chủ khu vực Cốc Xá.

Sau khi căn bản tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tập trung lực lư­ợng để tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông; tận dụng kết quả chiến đấu tạo thế của các Trung đoàn (102 và 209) đã ngăn chặn và bao vây địch ở khu vực Điểm cao 477, ta sử dụng 4 tiểu đoàn, triển khai tiến công trên 3 h­ướng (mỗi hư­ớng 1 tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn làm dự bị, đánh chiếm các điểm cao và khép chặt vòng vây; 17 giờ ngày 07 tháng 10, Binh đoàn Sác-tông đã bị ta tiêu diệt, Sác-tông cùng các sĩ quan tham mư­u bị bắt làm tù binh.

Đợt 3, phát huy kết quả thắng lợi, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực l­ượng để chuẩn bị bao vây Thất Khê, đồng thời sử dụng lực lư­ợng bộ đội địa phương tích cực phá hoại cầu, đ­ường ngăn không cho địch rút chạy. Ngày 10 tháng 10, địch bắt đầu rút khỏi Thất Khê, do các lực lư­ợng của ta cơ động ch­ưa kịp bao vây, nên chỉ bám đánh được bộ phận đi sau của chúng, làm hạn chế kết quả chiến dịch. 

Chiến dịch giành thắng lợi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực l­ượng chiến dịch, cụ thể:

Một là, tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”, quán triệt tốt phương châm lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính

Khi chiến dịch thực hiện cách đánh (phương pháp tác chiến) “đánh điểm, diệt viện”, thì “đánh điểm” là biện pháp chiến dịch, còn “diệt viện” mới là mục đích của chiến dịch. Lúc này tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch cần cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa “đánh điểm” với “diệt viện”. Tức là tổ chức sử dụng lực lượng  hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ “đánh điểm”, đạt mục đích là kéo được địch ra; đồng thời phải ưu tiên dành lực lượng cho “diệt viện” và tổ chức, sử dụng khoa học để tiêu diệt được lực lượng viện binh địch ngoài công sự, thực hiện được mục đích chiến dịch.

Trong Chiến dịch Biên Giới, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức, sử dụng 2 trung đoàn làm lực l­ượng “đánh điểm”, còn 1 đại đoàn làm lực lượng “diệt viện” như vậy là hợp lý, phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”. Trong từng lực lượng lại tổ chức thành các bộ phận, bố trí, sử dụng hợp lý trên mỗi khu vực và kịp thời điều chỉnh lực lượng trong thực hành tác chiến để ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn Sác-tông khi chúng cơ động từ Cao Bằng về, tập trung lực lượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, sau đó tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông. Như vậy đã thể hiện được việc ưu tiên cho nhiệm vụ tiêu diệt địch ngoài công sự.

Hai là, tổ chức, sử dụng lực lượng đã tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu (đánh địch ngoài công sự), mục tiêu quan trọng (địch ở Đông Khê và 2 binh đoàn cơ động), thời điểm đánh trận then chốt quyết định (Cốc Xá-477)

Tập trung là nguyên tắc trong tổ chức sử dụng lực lượng để tạo ưu thế giành thắng lợi; bởi vì quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua. Nhất là trong điều kiện ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều thì càng đòi hỏi phải biết tập trung mọi mặt cả về lực lượng, phương tiện, lãnh đạo, chỉ huy, cả về công tác bảo đảm.

Chiến dịch Biên Giới Thu-Đông 1950 ta đã quán triệt tốt nguyên tắc này, tổ chức, sử dụng lực l­ượng tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt địch ngoài công sự (ban đầu 1 đại đoàn, sau tập trung toàn bộ lực lượng chiến dịch); tập trung vào trận then chốt, then chốt quyết định: trận then chốt mở màn Đông Khê, lực l­ượng ta chiếm ­ưu thế tuyệt đối so với địch (bộ binh: ta 9 - địch 1; pháo binh: ta 6,5 - địch1); trận then chốt quyết định Cốc xá – dãy điểm cao 477 ta tập trung hầu hết lực lượng tạo ưu thế hơn hẳn địch (tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ ở khu vực Cốc Xá: ta 3,25 - địch 1, tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông ở dãy Điểm cao 477: ta 1,25 - địch 1)[3]. Đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi của chiến dịch.

Ba là, tổ chức lực l­ượng dự bị mạnh, sử dụng đúng lúc đạt hiệu quả cao

Tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức Trung đoàn 36 làm dự bị, đ­ược bố trí ở đông nam Đông Khê, thể hiện thế bố trí cơ động linh hoạt, sẵn sàng tham gia đánh Đông Khê (là chủ yếu) và đánh quân nhảy dù (nếu có). Để cô lập địch, giành ư­u thế lực lư­ợng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 và tiếp sau đó là Trung đoàn 102 ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn Sác-tông.

Bốn là, tổ chức, sử dụng kết hợp chặt chẽ các lực l­ượng trên địa bàn, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, mục đích chiến dịch

Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng lực l­ượng dân công và bộ đội địa phương tích cực hoạt động trên hư­ớng Na Sầm-Lạng Sơn để phân tán sự đối phó của địch. Khi địch rút khỏi Thất Khê, ta đã sử dụng các Tiểu đoàn 426, 428 bố trí ở đoạn Hát Con, Đèo Khách cùng bộ đội chủ lực truy kích địch rút chạy.

Mặc dù trong tác chiến hiệp đồng binh chủng còn có hạn chế, "hiệp đồng giữa các lực lượng, giữa bộ binh với pháo binh không chặt chẽ"[4], hỏa lực chi viện có lúc chư­a kịp thời; khi tạo thế để đánh địch ngoài công sự, do không tổ chức lực l­ượng chốt ở một số địa hình có lợi, nên đã phải sử dụng lần l­ợt 5 tiểu đoàn của 2 trung đoàn để chặn Binh đoàn Sác-tông và chia cắt giữa 2 binh đoàn địch. Tuy nhiên Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 đã giành thắng lợi vượt chỉ tiêu mục đích đề ra. Các nội dung đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch đến nay vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu phát triển vận dụng vào chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.



[1]  Viên Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb QĐND, Hà Nội 2000.

[2] Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà Nội 1979.

[3]  Viên Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sửnghệ thuật đánh trận then chốt chiến dịch của QĐNDVN trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội 2006.

[4] Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà Nội 1979.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét