NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC, SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG
TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG NĂM 1950
Bàn Luận
Đến
tháng 6 năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta
đã phát triển mạnh, bộ đội chủ lực đã từng bước trưởng thành. Địch mở rộng địa
bàn chiếm đóng và ra sức phong toả biên giới, gây cho ta một số khó khăn về
quân sự, kinh tế, tài chính. Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định giao cho
Bộ Tổng Tư lệnh mở Chiến dịch Biên Giới nhằm mục đích: "tiêu diệt một bộ
phận sinh lực của địch; giải phóng một phần biên giới; mở đường giao thông với
các nước xã hội chủ nghĩa; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc"[1]. Chiến dịch Biên Giới diễn ra từ ngày 16 tháng 9 đến
ngày 14 tháng 10
năm 1950.
Lực
lượng địch gồm cả quân chiếm đóng và quân cơ động là 11 tiểu đoàn, 9 đại đội bộ
binh, 4 đại đội công binh, 27 khẩu pháo các loại và 8 máy bay. Lực lượng ta gồm:
Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, 3 tiểu đoàn (426, 428, 888) của
Liên khu Việt Bắc và tỉnh Lạng Sơn, Tiểu đoàn Sơn pháo 75mm (4 đại đội), 5 đại
đội công binh cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích[2].
Chiến dịch vận dụng cách
đánh “đánh điểm, diệt viện”, tổ chức thành các lực lượng trên 3 mặt trận: mặt
trận Đông Khê (lực lượng đánh điểm), sử dụng 3 trung đoàn và 2 tiểu đoàn bộ
binh, 1 tiểu đoàn pháo binh; mặt trận đánh quân ứng chiến (lực lượng đánh địch
ngoài công sự), sử dụng Đại đoàn 308 (thiếu); mặt trận Na Sầm-Lạng Sơn (lực lượng
kiềm chế), sử dụng 2 tiểu đoàn (428, 888) cùng dân quân du kích; lực lượng sở
chỉ huy; lực lượng hậu cần, kỹ thuật chiến dịch.
Đợt
1, tiến công cụm cứ điểm Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng
thành các bộ phận: bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu, sử dụng 1 trung đoàn
và 2 tiểu đoàn bộ binh; bộ phận tiến công trên hướng thứ yếu, sử dụng 1 trung
đoàn; bộ phận dự bị, sử dụng Trung đoàn 36; bộ phận hỏa lực, sử dụng Tiểu đoàn
pháo 75mm (thiếu); triển khai tiến công trên 2 hớng (chủ yếu, thứ yếu). Trận
đánh diễn ra ác liệt, kéo dài từ 6 giờ ngày 16 tháng 9 đến 10 giờ ngày 18 tháng
9, ta đánh chiếm đợc toàn bộ cụm cứ điểm Đông Khê, hoàn thành thắng lợi trận
then chốt mở đầu.
Đợt
2, sau chiến thắng Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh lực lượng để chuẩn
bị đánh viện. Binh đoàn Lơ Pa-giơ cơ động từ Thất Khê lên nhằm chiếm lại Đông
Khê, do chủ quan nên ta không thực hiện được trận đánh ở khu vực đã chuẩn bị
trên Đờng số 4. Bộ chỉ huy chiến dịch điều chỉnh và tổ chức lực lượng đánh chiếm
một số địa hình có giá trị, kết hợp vừa ngăn chặn, vừa tiến công, buộc địch phải
dạt về khu vực Cốc Xá. Khi nhận đợc tin Binh đoàn Sác-tông cơ động từ Cao Bằng
về, ta sử dụng Trung đoàn 209 cơ động lên hướng Quang Liệt để ngăn chặn nhằm tập
trung lực lượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ trước khi Binh đoàn Sác-tông về
đến nơi.
Để tiêu diệt Binh đoàn Lơ
Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Trung đoàn 174 bố trí ở Cốc Toòng sẵn
sàng chặn địch tháo chạy và địch tăng viện từ Thất Khê lên, Trung đoàn 88 bố
trí ở Bản Ca chặn địch từ Điểm cao 477 xuống; đồng thời, sử dụng Trung đoàn 36
cùng các lực lượng tăng cường, triển khai tiến công trên 3 hướng (Đông, Bắc,
Tây Nam) và lực lượng dự bị chặn địch ở hướng Nam, vận dụng linh hoạt các thủ
đoạn chiến đấu, tiến công kiên quyết liên tục, ta đã tiêu diệt hết các lực lượng
của binh đoàn này và làm chủ khu vực Cốc Xá.
Sau
khi căn bản tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch tập trung lực
lượng để tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông; tận dụng kết quả chiến đấu tạo thế của
các Trung đoàn (102 và 209) đã ngăn chặn và bao vây địch ở khu vực Điểm cao
477, ta sử dụng 4 tiểu đoàn, triển khai tiến công trên 3 hướng (mỗi hướng 1
tiểu đoàn), 1 tiểu đoàn làm dự bị, đánh chiếm các điểm cao và khép chặt vòng
vây; 17 giờ ngày 07 tháng 10, Binh đoàn Sác-tông đã bị ta tiêu diệt, Sác-tông
cùng các sĩ quan tham mưu bị bắt làm tù binh.
Đợt
3, phát huy kết quả thắng lợi, bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng để chuẩn
bị bao vây Thất Khê, đồng thời sử dụng lực lượng bộ đội địa phương tích cực
phá hoại cầu, đường ngăn không cho địch rút chạy. Ngày 10 tháng 10, địch bắt đầu
rút khỏi Thất Khê, do các lực lượng của ta cơ động chưa kịp bao vây, nên chỉ
bám đánh được bộ phận đi sau của chúng, làm hạn chế kết quả chiến dịch.
Chiến
dịch giành thắng lợi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tổ
chức, sử dụng lực lượng chiến dịch, cụ thể:
Một
là, tổ chức, sử dụng lực lượng phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”,
quán triệt tốt phương châm lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính
Khi
chiến dịch thực hiện cách đánh (phương pháp tác chiến) “đánh điểm, diệt viện”, thì
“đánh điểm” là biện pháp chiến dịch, còn “diệt viện” mới là mục đích của chiến
dịch. Lúc này tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch cần cần phải giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa “đánh điểm” với “diệt viện”. Tức là tổ chức sử dụng lực
lượng hợp lý để hoàn thành nhiệm vụ
“đánh điểm”, đạt mục đích là kéo được địch ra; đồng thời phải ưu tiên dành lực
lượng cho “diệt viện” và tổ chức, sử dụng khoa học để tiêu diệt được lực lượng
viện binh địch ngoài công sự, thực hiện được mục đích chiến dịch.
Trong
Chiến dịch Biên Giới, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức, sử dụng 2 trung đoàn
làm lực lượng “đánh điểm”, còn 1 đại đoàn làm lực lượng “diệt viện” như vậy là
hợp lý, phù hợp với cách đánh “đánh điểm, diệt viện”. Trong từng lực lượng lại
tổ chức thành các bộ phận, bố trí, sử dụng hợp lý trên mỗi khu vực và kịp thời
điều chỉnh lực lượng trong thực hành tác chiến để ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn
Sác-tông khi chúng cơ động từ Cao Bằng về, tập trung lực lượng tiêu diệt Binh
đoàn Lơ Pa-giơ, sau đó tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông. Như vậy đã thể hiện được
việc ưu tiên cho nhiệm vụ tiêu diệt địch ngoài công sự.
Hai
là, tổ chức, sử dụng lực lượng đã tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu (đánh địch
ngoài công sự), mục tiêu quan trọng (địch ở Đông Khê và 2 binh đoàn cơ động), thời
điểm đánh trận then chốt quyết định (Cốc Xá-477)
Tập
trung là nguyên tắc trong tổ chức sử dụng lực lượng để tạo ưu thế giành thắng lợi;
bởi vì quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua. Nhất là trong điều kiện
ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều thì càng đòi hỏi phải biết tập
trung mọi mặt cả về lực lượng, phương tiện, lãnh đạo, chỉ huy, cả về công tác bảo
đảm.
Chiến
dịch Biên Giới Thu-Đông 1950 ta đã quán triệt tốt nguyên tắc này, tổ chức, sử dụng
lực lượng tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là tiêu diệt địch ngoài công sự (ban
đầu 1 đại đoàn, sau tập trung toàn bộ lực lượng chiến dịch); tập trung vào trận
then chốt, then chốt quyết định: trận then chốt mở màn Đông Khê, lực lượng ta
chiếm ưu thế tuyệt đối so với địch (bộ binh: ta 9 - địch 1; pháo binh: ta 6,5
- địch1); trận then chốt quyết định Cốc xá – dãy điểm cao 477 ta tập trung hầu
hết lực lượng tạo ưu thế hơn hẳn địch (tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ ở khu vực
Cốc Xá: ta 3,25 - địch 1, tiêu diệt Binh đoàn Sác-tông ở dãy Điểm cao 477: ta
1,25 - địch 1)[3]. Đây là
một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi của chiến dịch.
Ba
là, tổ
chức lực lượng dự bị mạnh, sử dụng đúng lúc đạt hiệu quả cao
Tiến công cụm cứ điểm
Đông Khê, bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức Trung đoàn 36 làm dự bị, được bố
trí ở đông nam Đông Khê, thể hiện thế bố trí cơ động linh hoạt, sẵn sàng tham
gia đánh Đông Khê (là chủ yếu) và đánh quân nhảy dù (nếu có). Để cô lập địch,
giành ưu thế lực lượng tiêu diệt Binh đoàn Lơ Pa-giơ, bộ chỉ huy chiến dịch
đã sử dụng 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 và tiếp sau đó là Trung đoàn 102
ngăn chặn, kìm giữ Binh đoàn Sác-tông.
Bốn là, tổ chức, sử dụng
kết hợp chặt chẽ các lực lượng trên địa bàn, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ, mục
đích chiến dịch
Bộ chỉ huy chiến dịch đã
sử dụng lực lượng dân công và bộ đội địa phương tích cực hoạt động trên hướng
Na Sầm-Lạng Sơn để phân tán sự đối phó của địch. Khi địch rút khỏi Thất Khê, ta
đã sử dụng các Tiểu đoàn 426, 428 bố trí ở đoạn Hát Con, Đèo Khách cùng bộ đội
chủ lực truy kích địch rút chạy.
Mặc
dù trong tác chiến hiệp đồng binh chủng còn có hạn chế, "hiệp đồng giữa
các lực lượng, giữa bộ binh với pháo binh không chặt chẽ"[4],
hỏa lực chi viện có lúc chưa kịp thời; khi tạo thế để đánh địch ngoài công sự,
do không tổ chức lực lượng chốt ở một số địa hình có lợi, nên đã phải sử dụng
lần lợt 5 tiểu đoàn của 2 trung đoàn để chặn Binh đoàn Sác-tông và chia cắt giữa
2 binh đoàn địch. Tuy nhiên Chiến dịch Biên Giới Thu - Đông 1950 đã giành thắng
lợi vượt chỉ tiêu mục đích đề ra. Các nội dung đặc sắc về nghệ thuật chiến dịch,
nhất là nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng chiến dịch đến nay vẫn còn nguyên
giá trị nghiên cứu phát triển vận dụng vào chiến tranh nhân dân bảo vệ tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.
[1]
Viên Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm
tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb
QĐND, Hà Nội 2000.
[2] Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà
Nội 1979.
[3]
Viên
Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sửnghệ thuật
đánh trận then chốt chiến dịch của QĐNDVN trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
(1945-1975), Nxb QĐND, Hà Nội 2006.
[4]
Học viện quân sự cao cấp, Chiến dịch tiến công Biên Giới 1950, Hà
Nội 1979.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét