Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2020



BÁO CÁO TIP 2020 CHƯA NHÌN NHẬN
KHÁCH QUAN ÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG
MUA BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM
BÀN LUẬN
Mới đây, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có báo cáo đánh giá về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2019 (báo cáo TIP 2020).
Đáng nói, đây là năm thứ hai liên tiếp, báo cáo có những đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về vấn đề phòng, chống mua bán người ở Việt Nam, trong đó có công tác điều hành, chỉ đạo của Chính phủ và những hiệu quả trên thực tế.
Trong bản báo cáo năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách theo dõi nhóm 2. Báo cáo thừa nhận một số kết quả như: Các nỗ lực này bao gồm cho nạn nhân buôn người có quyền được đại diện pháp lý trong các quy trình tố tụng tư pháp; tăng thời gian nạn nhân có thể ở lại trong cơ sở tạm lánh thêm một tháng và tăng hỗ trợ tài chính cho họ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu; tiếp tục tổ chức các chiến dịch nâng cao nhận thức quy mô lớn ở các cộng đồng có nguy cơ cao về buôn người, trong đó có người lao động di cư ra nước ngoài; đào tạo các cán bộ thực thi pháp luật.
Tuy nhiên, báo cáo đánh giá: “Chính phủ Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người”. Báo cáo đưa ra nhận định sai lệch khi cho rằng, Chính phủ không thể hiện các nỗ lực cao hơn so với kỳ báo cáo trước. Báo cáo cũng đưa ra những nhận định không đúng thực tế như: Chính phủ không cung cấp con số thống kê các vụ việc buôn người theo hình thức buôn người, tuổi hoặc giới tính của nạn nhân, quốc gia nguồn hoặc quốc gia đích của việc buôn người (thực tế, các con số thống kê này được cơ quan chức năng nêu chi tiết). Đồng thời cho rằng, quy trình xác định nạn nhân vẫn còn quá rắc rối và phức tạp, yêu cầu sự xác nhận của nhiều bộ để nạn nhân có thể chính thức được xác định và hỗ trợ. Cùng với đó là nhiều nhận định, đánh giá sai lệch khác.
Sau khi bản báo cáo được công bố, nhiều tờ báo, trang mạng có quan điểm thù địch với Việt Nam đã đăng tải, đưa ra các bình luận, phỏng vấn cổ suý và suy diễn. Người được phỏng vấn, lấy ý kiến là những cá nhân từng bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, có các hành động chống phá Nhà nước Việt Nam. Trên mạng xã hội, nhân cớ này, các đối tượng bấu víu mặc sức “chém gió”, dùng những câu từ miệt thị, đả kích Nhà nước, chế độ XHCN ở Việt Nam, thậm chí xuyên tạc Việt Nam “dung túng” tội phạm buôn người.
Để hiểu rõ bản chất vấn đề, cần thấy thực trạng tệ nạn buôn người trên thế giới hiện nay. Đây là vấn đề xuyên quốc gia và loại tội phạm này đang lan rộng khắp thế giới chứ không phải là vấn đề riêng của quốc gia nào. Liên hợp quốc ước tính rằng, mỗi năm 700.000 đến 4 triệu phụ nữ và trẻ em bị buôn bán trên toàn thế giới với mục đích ép buộc bán dâm, lao động và các hình thức bóc lột khác. Buôn bán người được ước tính lên tới 7 tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Buôn người là vấn nạn có tính toàn cầu, nhất là khu vực Á, Phi, Mỹ la tinh. Ngay cả các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ, điều này cũng không ngoại lệ. Theo báo cáo của UNODC, thời gian gần đây, nổi lên tình trạng di cư từ các nước Trung Mỹ qua Mexico vào Mỹ. Nghĩa là chính Mỹ cũng chịu tác động mạnh từ hệ quả nạn mua bán người, di cư bất hợp pháp. Ở khu vực Đông Nam Á, tại Hội nghị quan chức cấp cao ASEAN và Hội nghị cấp Bộ trưởng ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia đều đánh giá tình hình tội phạm mua bán người và di cư trái phép tiếp tục diễn biến phức tạp. Do đó, không thể cáo buộc Việt Nam trong vấn đề có tính toàn cầu và phức tạp như buôn người. 
Việc báo cáo cho rằng Chính phủ Việt Nam không thể hiện các nỗ lực cao hơn so với kỳ báo cáo trước là không nhìn nhận đúng thực tế công tác điều hành, chỉ đạo ứng phó của Chính phủ, các bộ, ban, ngành, địa phương trong vấn đề này. Thực tế, Chính phủ đã rất nỗ lực, bằng các chương trình hành động cụ thể để phòng, chống hoạt động buôn người. Để thể hiện cam kết và nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trước cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống lại nạn mua bán người, ngày 10-5-2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định lấy ngày 30-7 hằng năm, trùng với ngày Liên hợp quốc chọn làm “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người”, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc. Mới đây, ngày 20-3-2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 402/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp an toàn và trật tự của Liên hợp quốc. Quyết định thể hiện quyết tâm và trách nhiệm của Việt Nam trong việc triển khai Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự của Liên hợp quốc (Global Compact for Safe, Orderly and Regular Migration - Thỏa thuận GCM) phù hợp với chính sách, pháp luật và điều kiện của Việt Nam nhằm quản lý di cư hiệu quả vì mục tiêu phát triển bền vững. Xác định các lĩnh vực, mục tiêu ưu tiên, nội dung cụ thể và lộ trình triển khai Thỏa thuận GCM; huy động tối đa các nguồn lực sẵn có trong nước và tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Quyết định nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di cư quốc tế thông qua cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm tạo môi trường di cư minh bạch, dễ tiếp cận, tôn trọng nhân phẩm của người di cư, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ, đặc biệt là các nhóm đặc thù, phụ nữ và trẻ em.
Trong những năm qua, Việt Nam tích cực hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người và được ghi nhận là điểm sáng với nhiều giải pháp hữu hiệu. Ngày 21-12-2019, tại Hà Nội, Cục Đối ngoại (Bộ Công an) đã chủ trì tổ chức Hội thảo thiết lập hệ thống đầu mối quốc gia triển khai Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP). Phát biểu tại Hội thảo, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Sơn đánh giá cao mục đích của Hội thảo và tin tưởng rằng “Với vị trí và vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 và Chủ tịch ASEAN năm 2020 sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp tục thực thi có hiệu quả các nội dung của Công ước ACTIP trong giai đoạn tới”.
Tại các phiên đối thoại thường niên giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) về quyền con người, nạn buôn bán người được quan tâm đặc biệt. Phía EU đã ghi nhận các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống luật pháp về quyền con người; bày tỏ mong muốn tăng hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực cải cách tư pháp, thực hiện Công ước chống tra tấn, phòng chống tệ nạn buôn bán người và bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Nhiều cuộc hội thảo quốc tế, vấn đề này được các đại biểu đề cập và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam.
Việc phòng chống mua bán người được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tiến hành trên rất nhiều lĩnh vực. Trong đó, về công tác thực thi pháp luật, lực lượng Công an, chủ công là Cảnh sát hình sự phối hợp với Bộ đội Biên phòng các cấp xây dựng và phối hợp triển khai các kế hoạch nghiệp vụ, điều tra theo tuyến, địa bàn trọng điểm (đảm bảo 100%), triển khai các biện pháp nghiệp vụ, kết hợp với tuần tra, kiểm soát và quản lý xuất nhập cảnh qua biên giới; tổ chức triển khai thực hiện cao điểm tấn công trấn áp tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 138 của Chính phủ, 6 tháng đầu năm 2020, toàn quốc phát hiện 74 vụ, liên quan đến 104 đối tượng, lừa bán 98 nạn nhân. So cùng kỳ năm 2019, giảm 16,85% số vụ, 26,76% số đối tượng và 42,01% số nạn nhân. Đáng chú ý, tình trạng mang thai hộ để bán cho người nước ngoài hoặc dụ dỗ phụ nữ mang thai ngoài ý muốn, bán cho người khác. Các lực lượng chức năng đã tiếp nhận hàng trăm tin, xử lý kịp thời. Lực lượng Công an, Biên phòng khám phá 61 vụ, bắt 79 đối tượng. VKSND các cấp truy tố 34 vụ với 51 bị can. TAND các cấp thụ lý 57 vụ với 92 bị cáo phạm các tội về mua bán người, trong đó tuyên phạt tù có thời hạn đối với 52 bị cáo, trong đó có 1 bị cáo lĩnh án tù trên 15 năm, 24 bị cáo lĩnh án tù từ 7 đến 15 năm, 23 bị cáo lĩnh án 3 đến 7 năm…
Liên quan tới báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2019, ngày 2-7, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2019 đã không phản ánh khách quan, chính xác về tình hình và những nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam”. Bà Lê Thị Thu Hằng khẳng định: “Chính phủ Việt Nam chủ trương thúc đẩy di cư hợp pháp, an toàn và trật tự, kiên quyết đấu tranh phòng chống di cư trái phép, mua bán người và đã ban hành, triển khai nhiều chính sách, pháp luật nhằm thực hiện chủ trương này. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhấn mạnh, Việt Nam sẵn sàng trao đổi, phối hợp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trong đó có Mỹ, để tăng cường hơn nữa hiệu quả hợp tác phòng, chống loại hình tội phạm này.
Như vậy, việc phòng chống tệ nạn mua bán người được Việt Nam đặc biệt coi trọng, sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, toàn xã hội chứ không phải “lơ là” như đánh giá của bản báo cáo và những cá nhân thiếu thiện chí suy diễn trên mạng internet. Với sự thực hiển nhiên như thế, rõ ràng bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã nhìn nhận, đánh giá sai lệch, gây những hiểu lầm và điều này tạo cớ để các thế lực xấu suy diễn, xuyên tạc tình hình.



SỰ NGÔNG CUỒNG CỦA NHỮNG CON RỐI
BÀN LUẬN
Mặc dù công cuộc phòng, chống đại dịch COVID-19 hiệu quả của Việt Nam đã nhận được sự ghi nhận và đánh giá rất cao của cộng đồng quốc tế nhưng một số đối tượng chống đối núp bóng dân chủ, nhân quyền vẫn luôn tìm mọi lý do để chê bai, phủ nhận thành tựu đó bằng cách xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Việt Nam.
Điển hình, liên quan đến trường hợp của bệnh nhân 91 là phi công người Anh mới được xuất viện vừa qua. Chỉ với một chi tiết nhỏ bắt nguồn từ thông tin rằng bệnh nhân người Anh “chảnh” vì đã từ chối các báo đài chụp ảnh, quay phim, phỏng vấn, ngay lập tức, trên mạng xã hội, một số đối tượng chống phá núp bóng dân chủ đã bám nội dung trên để tung hứng, diễn xiếc, bày trò nói xấu Việt Nam bằng những luận điệu hết sức phi lý.
Thủ đoạn của các đối tượng dân chủ giả hiệu rất tinh vi, xảo quyệt khi quy chụp chủ đề là bệnh nhân 91 “vô ơn”, từ chối phỏng vấn để tìm cách bẻ lái dư luận nhằm nói xấu Việt Nam. Vì trên thực tế, bệnh nhân người Anh là trường hợp mắc bệnh nặng nhất, tưởng chừng không qua khỏi. Chính vì vậy, bệnh nhân này luôn giành được nhiều nhất sự quan tâm và kỳ vọng của dư luận kể từ khi ông ta nhập viện điều trị cho đến khi được chữa khỏi và xuất viện ngày 11-7 vừa qua. 
Điển hình như đối tượng M.V (sinh năm 1992, một thành viên của tổ chức tự xưng “Hội anh em dân chủ” do Nguyễn Văn Đài cầm đầu, từng bị tuyên án 18 tháng tù giam về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước” quy định tại Điều 258 Bộ luật Hình sự) đã sử dụng trang Facebook cá nhân để tán phát bài viết “Tuyên giáo hèn hạ” 
với những nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật xung quanh thông tin cho rằng “bệnh nhân người Anh chảnh”, trong đó nhấn mạnh rằng “Việt Nam đang lợi dụng bệnh nhân 91 để quảng bá cho chiến dịch chống COVID–19”.
Đúng là giọng điệu trơ trẽn, bởi lẽ, V và các đối tượng dân chủ “giả hiệu” khác đã và đang được hưởng môi trường hòa bình ở Việt Nam, được bảo vệ không bị dịch bệnh đe dọa. Có được hạnh phúc đó chính là nhờ công sức của toàn dân đồng lòng cùng Chính phủ chiến thắng đại dịch COVID-19 với hình ảnh đẹp như: các chiến sỹ bộ đội lập lán ở rừng nhường doanh trại cho người cách ly; các chiến sĩ Công an khu vực “đến từng ngõ, gõ từng nhà” phòng chống dịch COVID-19 hay như hình ảnh từ các bà mẹ Việt Nam anh hùng, cháu bé học tiểu học, người nông dân chân lấm tay bùn ủng hộ quả trứng, mớ rau, khẩu trang, những đồng tiền tiết kiệm, rồi “sự tích” ATM gạo… 
Tất cả những điều đó đều được truyền thông thế giới ghi nhận và người dân ca ngợi chứ đâu cần Ban Tuyên giáo “quảng cáo”. Thế nhưng, trong từng câu chữ xuất phát từ ngòi bút của kẻ “bán trời không văn tự” không có một lời cảm ơn những người hết mình chống lại đại dịch mà ngược lại còn cố tình phớt lờ công sức của toàn dân, nhất là những người trên tuyến đầu, không quản ngày đêm, gian khó chiến đấu đẩy lùi dịch bệnh. Trái lại, họ lúc nào cũng chỉ nhăm nhe đào bới, khai thác những tiểu tiết, hòng dựng nên những câu chuyện không có thật nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Bên cạnh đó, chúng ta cần lên án mạnh mẽ bản chất của V khi đối tượng này cố tình nghĩ ra một câu chuyện hoang đường nhằm bôi nhọ y đức của đội ngũ y, bác sỹ. Xin được trích một đoạn trong bài viết “Tuyên giáo hèn hạ” của V: “Các bác sỹ, y tá trực tiếp điều trị ông phi công người Anh than thở rằng làm người Việt phải chăng là một định mệnh? Sự tận tình chu đáo, nhiều đêm nhiều ca trực họ không dám ngả lưng vì sợ buồn ngủ nếu có mệnh hệ gì với tay phi công đó không chỉ bệnh viện mà lãnh đạo chính quyền họ chửi và đuổi việc, vì áp lực của chính quyền rất lớn không phải vì tiền 3,5 tỷ mà vì cứu được người Anh…”.
Một tâm trạng chung khi đọc những dòng trạng thái trên, đó là sự phẫn nộ, bức xúc. Những người ngày đêm chăm lo, điều trị cho phi công người Anh, các y, bác sỹ tại Bệnh viện Chợ Rẫy sẽ cảm thấy bị tổn thương vì danh dự, tài năng, công sức của mình bị xúc phạm.
Trong khi đó, để cứu chữa thành công cho bệnh nhân 91 trong 100 ngày, đưa bệnh nhân người Anh từ “quỷ môn quan” trở về là một kì tích rất lớn của y học Việt Nam trong bối cảnh các nước có nền y tế tiên tiến như: Mỹ, Pháp, Anh… với số ca tử vong lên đến hàng trăm nghìn ca, thì ở một đất nước nhỏ bé, với nền y học còn khó khăn, thiết bị còn hạn chế mà cứu chữa một bệnh nhân nhiễm COVID-19 có nhiều bệnh nền, lúc khó khăn nhất bị suy đĩa tạng, tổn thương toàn bộ 2 bên phổi, đến mức người lạc quan nhất còn không tin vào một kết quả tích cực. Đến nay, bệnh nhân đã khỏi bệnh, được xuất cảnh về nước. 
Một cách khiêm tốn nhưng cũng thật trân trọng khi chúng ta nói về quá trình điều trị cho bệnh nhân người Anh là nói đến một câu chuyện “cổ tích” với cái tâm, cái tầm của người bác sỹ đã nỗ lực cố gắng để đem đến sự vi diệu cho cuộc đời bệnh nhân. 
Với những người luôn sẵn ý đồ, hành vi chống phá thì chẳng có gì là họ không nghĩ ra để bồi bút xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam. Trong câu chuyện này, bất luận xuất phát từ lý do nào đi chăng nữa, việc bệnh nhân 91 từ chối trả lời truyền thông Việt Nam thì đó là quyền riêng tư, quyền được bảo đảm về thông tin sức khỏe cá nhân. Cho nên, chỉ có những thành phần “tự nhục” trong xã hội mới chú ý đến tiểu tiết đó để nói xấu Việt Nam.
Qua câu chuyện này, chúng ta càng cảm thấy rõ sự ngông cuồng của những đối tượng dân chủ giả hiệu trong âm mưu, hoạt động lợi dụng dịch bệnh COVID-19 để chống phá Việt Nam trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Thêm một lần nữa, bản chất của những kẻ làm con rối cho các thế lực thù địch được phơi bày trước dư luận.


GẬY ÔNG ĐẬP LƯNG ÔNG
BÀN LUẬN
Phân tích kỹ hơn, TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban biên giới Chính phủ nêu rõ: “Tôi cho rằng Trung Quốc sẽ chuốc lấy hậu quả rất lớn về mặt pháp lý nếu đưa ra một sự vận dụng, giải thích mà cố tình bất chấp tất cả những nguyên tắc luật pháp quốc tế có liên quan hoạt động hàng không, trong lúc Trung Quốc vẫn đang là thành viên của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO). Tôi cho rằng, tuyên bố đó về ADIZ nếu đưa ra sẽ bị vô hiệu hóa, bởi vì các nước lớn có một nền hàng không mạnh chắc chắn sẽ có những biện pháp để không chấp hành tất cả những điều phi lý mà Trung Quốc đưa ra". 
Trong trường hợp Trung Quốc vẫn cố tình thiết lập ADIZ một cách bất hợp pháp để bảo vệ yêu sách phi lý của mình trên Biển Đông, thì theo TS Trần Công Trục, hành động này càng làm cho quốc tế nhận rõ hơn âm mưu, bản chất hoạt động của Trung Quốc và nước này sẽ rơi vào thế yếu về mặt pháp lý, về mặt chính trị cũng như ngoại giao và đặc biệt về mặt an ninh quốc phòng. 
“Trong trường hợp ấy, Trung Quốc có thể bị "gậy ông đập lưng ông", vừa không đạt được những bài bản đã tính toán của họ trên Biển Đông, khu vực, kể cả vùng trời ở trên đó, lại vừa bị thua thiệt, đuối lý, bất lợi và mất uy tín", TS Trần Công Trục nhấn mạnh.
Nói thêm về khía cạnh quan hệ ngoại giao trong vấn đề này, học giả Peter Layton, Đại học Griffith, Australia thì nhận định, trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ở Mỹ và các nước phương Tây, Trung Quốc đang muốn tranh thủ để giễu võ, giương oai trong khu vực. 
Tuy nhiên, những động thái của Mỹ như cử tàu chiến, máy bay chiến đấu và tàu sân bay tới Biển Đông, tập trận chung với Philippines khiến Bắc Kinh hơi chùn, nhất là vào thời điểm quan hệ hai nước khá căng thẳng. Cho nên, Trung Quốc cũng sẽ cân nhắc nhiều hơn tới quan điểm của Mỹ trong vấn đề này. 
Còn theo Giám đốc cơ quan Sáng kiến Minh bạch Hàng hải (AMTI) Greg Poling, những hành động vừa qua của Bắc Kinh ở Biển Đông là sự tiếp nối cách tiếp cận hung hăng hơn để khẳng định các yêu sách lãnh thổ nhưng nó đang gây ra sự phẫn nộ hơn bao giờ hết của các nước láng giềng Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, một tuyên bố về ADIZ sẽ gây tổn hại nghiêm trọng trong quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á.




KHÔNG CÓ CƠ SỞ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
BÀN LUẬN
Thực tế, ADIZ là không phận trên một khu vực, ở đó việc giám sát và kiểm soát máy bay qua lại được thực hiện vì lợi ích an ninh quốc gia của nước tuyên bố ADIZ. Điều đó có thể có nghĩa là các máy bay dân sự sẽ cần báo cáo sự hiện diện của họ với kiểm soát không lưu Trung Quốc, và có khả năng bị chặn nếu không làm. Trong khi nhiều quốc gia đưa ra ADIZ, khái niệm này không được xác định hoặc quy định bởi bất kỳ điều ước hoặc cơ quan quốc tế nào. 
Trung Quốc đã thiết lập ADIZ đầu tiên vào năm 2013 trên biển Hoa Đông, bao trùm cả quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật Bản. Khi đó, Mỹ đã cấp tốc cho 2 oanh tạc cơ bay ngang vùng này mà không hề xin phép, mục đích là chứng tỏ Mỹ không quan tâm gì đến quyết định về ADIZ của Trung Quốc.
Tuy nhiên, việc Trung Quốc định thiết lập ADIZ trên Biển Đông lại đi ngược với trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc, cũng như cản trở tự do hàng hải và hàng không. 
Tướng Charles Brown, người sắp kế nhiệm Tướng David Lee Goldfein làm Tham mưu trưởng Không quân Mỹ bày tỏ: “Nó tác động đến tất cả các quốc gia và nó thực sự chống lại một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở, ảnh hưởng đến việc bay, đi tàu và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế". 
Giám đốc Viện nghiên cứu hàng không vũ trụ Trung Quốc có trụ sở tại Alabama (Mỹ), ông Brendan Mulvaney thì cho rằng, tuyên bố thành lập ADIZ trên Biển Đông sẽ làm gia tăng căng thẳng quan hệ với Mỹ và gây ra những rạn nứt không thể khắc phục trong quan hệ với các nước láng giềng. 
"Một ADIZ mới có thể mang lại một số lợi ích chiến lược khiêm tốn cho Trung Quốc bằng cách kiểm soát một khía cạnh khác của Biển Đông. Nhưng một tuyên bố như vậy về Biển Đông - vốn là trọng tâm của một cuộc tranh chấp lãnh thổ 6 chiều, dường như khó hiểu đối với vùng biển, đảo và rạn san hô trên đại dương - sẽ củng cố nhận thức rằng Trung Quốc đang viết ra các quy tắc riêng bất chấp luật pháp quốc tế. Đây sẽ là một ví dụ khác về việc Trung Quốc coi thường luật pháp quốc tế, không tuân theo trật tự thế giới và các chuẩn mực quốc tế hiện nay", ông Brendan Mulvaney nhấn mạnh.
Đồng ý với quan điểm này, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana hồi cuối tháng 6 khẳng định: "Nếu Trung Quốc tuyên bố ADIZ với toàn bộ Biển Đông, điều đó đồng nghĩa họ đã cướp lấy một vùng biển rộng lớn vốn luôn rộng mở cho các hoạt động đánh bắt cá và tự do đi lại. Nếu Trung Quốc vẫn nhất quyết hành động, nguy cơ xảy ra các tính toán sai lầm trên biển sẽ lên cao, dẫn tới các căng thẳng leo thang trong khu vực". 
Ông Delfin Lorenzana khẳng định, Trung Quốc cũng sẽ vi phạm quyền của các nước liên quan đến những vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà nước này đã ký kết. 
“UNCLOS cung cấp một khuôn khổ cho việc quản lý các đại dương. Nhiều quốc gia sẽ coi ADIZ này là bất hợp pháp và vi phạm luật pháp quốc tế”, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Lorenzana nói. 
Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Taro Kono cũng lên tiếng về các hành xử của Trung Quốc trên Biển Đông, gọi những hoạt động của Bắc Kinh trong khu vực chiến lược quan trọng này là "vô cùng đáng báo động".


ÂM MƯU MỚI
BÀN LUẬN
Mối quan tâm về khả năng Trung Quốc thành lập ADIZ gia tăng mạnh mẽ vào tháng 6 khi các chiến đấu cơ Trung Quốc liên tiếp xâm nhập vào ADIZ của Đài Loan 5 lần trong 10 ngày - một động thái chưa từng có tiền lệ. Đáng chú ý, việc máy bay quân sự Trung Quốc áp sát Đài Loan diễn ra sau khi chiếc máy bay vận tải quân sự C-40A thuộc hải quân Mỹ nhận được sự cho phép và bay vào không phận Đài Loan ngày 9/6. 
Trước đó, vào ngày 31/5, tờ South China Morning Post đã dẫn nguồn tin từ quân đội Trung Quốc cho hay, Bắc Kinh đang lên kế hoạch thiết lập ADIZ ở Biển Đông. ADIZ được Trung Quốc đề xuất bao trùm cả quần đảo Đông Sa (Pratas) ở phía Bắc Biển Đông, và cả 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cũng theo nguồn tin này, Trung Quốc chỉ đang chờ thời điểm công bố.
Tờ The Economist dẫn lời một cựu giảng viên Học viện hải quân Đài Loan tại Cao Hùng cho biết, việc thiết lập ADIZ trên Biển Đông đã được giới chức Trung Quốc "nhăm nhe" từ năm 2010, cùng thời điểm nước này thông báo với Nhật Bản về việc cân nhắc thành lập ADIZ trên biển Hoa Đông. 
Xây dựng và phát triển trái phép các đảo nhân tạo, đặc biệt là các đường băng và hệ thống radar được xây dựng trên các đá Chữ Thập, Subi và Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam diễn ra nhiều năm qua là một phần kế hoạch ADIZ của Bắc Kinh. 
Và một khi các máy bay chiến đấu của quân đội Trung Quốc được đưa đến, chúng có thể tham gia cùng máy bay cảnh báo sớm và chống ngầm để thực hiện các hoạt động tuần tra ADIZ.



CON DAO HAI LƯỠI
BÀN LUẬN
Các chuyên gia cho rằng sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông làm tổn hại danh tiếng quốc tế của nước này. Ian Storey, thành viên cao cấp tại Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore đánh giá, "trước sự cố thủ của Trung Quốc ngay cửa nhà", giờ đây dường như là thời điểm để các quốc gia ASEAN đang kết hợp với nhau và sẵn sàng đối mặt với Bắc Kinh. 
"Cho dù Trung Quốc có thúc đẩy mạnh mẽ như thế nào, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ thấy các thành viên ASEAN hợp nhất và trình bày mặt trận thống nhất mạnh mẽ chống lại Trung Quốc", ông Ian Storey nói và chỉ rõ, Malaysia từ lâu đã thực hiện chính sách vừa cân bằng lợi ích của mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc với việc điều hành chính sách đối ngoại độc lập của riêng mình. Đó là lý do tại sao các cuộc đụng độ trước đây với các tàu Trung Quốc ở vùng biển Malaysia bị ngăn chặn nhiều nhất có thể. 
Còn Indonesia trong quá khứ đã nổ súng vào các tàu cá Trung Quốc không rời khỏi vùng biển của nước này và hành vi cứng rắn của Tổng thống Widodo vào tháng 1 cho thấy ông sẽ không ngồi yên trong khi Bắc Kinh di chuyển vào quần đảo Natuna. 
Trong khi đó, Mỹ đã tăng cường tự do hoạt động hàng hải ở Biển Đông, nắm giữ một nửa số lượng hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2020. Washington cũng đang nỗ lực để hỗ trợ trực tiếp các quốc gia ASEAN như việc chuyển giao cho hải quân Malaysia lô máy bay không người lái giám sát đầu tiên hồi tháng 5. Và gần đây, các tàu chiến của Hải quân Mỹ đã thực hiện cái gọi là "hoạt động hiện diện" gần các giàn khoan đang bị tàu Trung Quốc theo dõi. Nhiều quốc khác thì thì tỏ thái độ phản ứng, không ủng hộ hành động của Bắc Kinh ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. 
GS James Holmes thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ khẳng định: "Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã thực sự chơi quá tay một cách nghiêm túc bằng cách bắt nạt và quá hung hăng. Điều đó bắt đầu thúc đẩy các quốc gia trong khu vực gia tăng lo lắng về sự xâm lược của Trung Quốc... Trung Quốc càng thúc đẩy thì họ càng có khả năng đoàn kết và đẩy lùi. Bất kỳ sự đẩy lùi nào cũng có thể khiến Bắc Kinh phải trả giá. Trung Quốc có quan hệ thương mại chặt chẽ với nhiều nước láng giềng trong khu vực như Philippines, Malaysia và Indonesia, và cần họ cho các phần trong chương trình "Sáng kiến Vành đai và Con đường". Đã có rất nhiều khó chịu trong khu vực về cách Trung Quốc sử dụng COVID-19 để thúc đẩy các yêu sách của mình ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ không muốn phá hủy hoàn toàn mối quan hệ với ASEAN bằng cách đẩy quá mạnh”. 


LIÊN TỤC TIẾN HÀNH CÁC HÀNH VI SAI TRÁI
BÀN LUẬN
Theo bà Sumathy Permal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển Malacca, Malaysia, những hành vi gây hấn nói trên cùng với việc Trung Quốc từ nhiều năm qua liên tục cải tạo phi pháp các bãi đá ở Biển Đông và xây dựng các công trình trái phép trên đó đồng thời ngang nhiên tuyên bố yêu sách Tứ Sa và thành lập cái gọi là “khu Nam Sa” và “khu Tây Sa” trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam là những bước đi đầy toan tính. 
“Khi yêu sách Tứ Sa được công khai tức là Trung Quốc đã chuẩn bị cho một chiến lược dài hơi nhằm độc chiếm Biển Đông một cách trái với pháp luật quốc tế. Dịch COVID-19 với diễn biến phức tạp tại các nước trong khu vực tạo cơ hội cho Trung Quốc có thêm những hành động leo thang căng thẳng khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan ngại”, bà Sumathy Permal nói. 
Nhắc đến vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá QNg 90617 TS với 8 ngư dân của Việt Nam ngày 2/4, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển Malacca chỉ rõ, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc có hành vi hết sức nguy hiểm và đáng lên án như trên. Hồi tháng 6 năm 2019, tàu cá mang số hiệu F/B GIMVERQ của Philippines với 22 ngư dân trên tàu cũng đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở gần bãi Cỏ Rong trên Biển Đông. 
“Một trong những chiến thuật chính mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng là triển khai các nhóm tàu hỗn hợp gồm tàu cá, tàu hải cảnh và tàu hải giám tới vùng biển của các quốc gia trong khu vực nhằm thực hiện hành vi khai thác trái phép, quấy rối, thậm chí gây hấn và tấn công tàu các nước khác. Điều tôi lo ngại là hành vi này của Trung Quốc không những duy trì liên tục trong suốt nhiều năm qua mà còn tăng cường cả về tần suất, mức độ và số lượng tàu tham gia. Riêng trong những tháng đầu năm 2020 thì đã đạt ngưỡng chưa từng có trong tiền lệ”, bà Sumathy Permal phân tích. 
Chuyên gia từ chương trình An ninh hàng hải thuộc Đại học Nanyang của Singapore, Collin Koh cũng nhận định: “Các hành vi của Bắc Kinh mà chúng ta đang thấy trên Biển Đông đã từng diễn ra trước đó và chắc chắn sẽ lặp lại trong tương lai. Rõ ràng là sau khi hoàn tất việc bồi đắp trái phép các đảo nhân tạo, tăng cường được sự hiện diện thường xuyên trên Biển Đông, Bắc Kinh bắt đầu lập kế hoạch khác để củng cố yêu sách chủ quyền vô lý và liên tục bổ sung các chiêu thức mới. Giờ đây, Trung Quốc “đánh mạnh” vào kinh tế các nước bằng việc dùng tàu hải cảnh và tàu khảo sát cản trở các hoạt động khai thác dầu khí của quốc gia khác trên Biển Đông. 
Quả thực, như đối với Việt Nam, nếu trong vòng 30 năm qua, Trung Quốc chỉ tiến hành gần chục hoạt động trái phép nghiêm trọng ở Biển Đông như đưa tàu thăm dò dầu khi vào bãi Tư chính năm 1994, đưa tàu Kan Tan-3 vào khảo sát ở khu vực chồng lấn trong vịnh Bắc Bộ năm 1997, thực hiện một số vụ cắt cáp tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam trong đó có tàu Bình Minh năm 2011, đưa giàn khoan HD981 vào vùng biển Việt Nam năm 2014, đưa tàu đến cản phá hoạt động dầu khí ở cực Nam thềm lục địa Việt Nam (năm 2017 và 2018) và đưa tàu vào vùng biển Nam Biển Đông của Việt Nam (năm 2019) thì riêng trong 6 tháng đầu năm 2020, các vụ cản trở kiểu này đã chiếm gần ½ con số này. 
Với các quốc gia khác, Trung Quốc cũng không nể nang. Sau cuộc đụng độ với tàu của Malaysia hồi đầu năm, tháng 4 vừa qua, tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc lại bám theo tàu thăm dò dầu khí West Capella của Malaysia và hoạt động cách bờ biển Malaysia chỉ hơn 300km. Chưa hết, tàu cá của Trung Quốc cũng đã gây rối gần quần đảo Natuna của Indonesia khiến quân đội Indonesia phải điều máy bay chiến đấu và tàu chiến tới tuần tra. 
Tổng thống Indonesia Joko Widodo cũng bay tới khu vực này và tuyên bố “không thương lượng chủ quyền” với Trung Quốc. Greg Poling, Giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh bạch hàng hải (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) ở Washington (Mỹ) cho rằng, Trung Quốc sẽ không dừng lại và tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông, lập thêm các đội tàu hải cảnh để bảo vệ tàu cá ở Biển Đông và giao thêm nhiệm vụ cho các tàu cá không chỉ đánh cá mà còn quấy rối ngư dân của các nước trong khu vực. 
“Mỗi ngày các nước đều chứng kiến có tới gần 100 tàu cá Trung Quốc hoạt động cùng các tàu hải cảnh. Các đảo nhân tạo sẽ được Trung Quốc dùng như căn cứ quân sự và giúp Trung Quốc mở rộng việc kiểm soát trên Biển Đông. Những đảo này được trang bị radar và khả năng giám sát, giúp Trung Quốc quan sát mọi thứ diễn ra ở Biển Đông. Trước đây Trung Quốc có thể không biết quốc gia khác khai thác tài nguyên ở đâu. Nhưng giờ thì họ biết rõ điều đó”, ông Greg Poling lo ngại. 
Rõ ràng, Trung Quốc giờ không còn úp mở mà thẳng thừng công khai quan điểm ngăn chặn, khống chế các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí của các quốc gia khác trên Biển Đông. Nghĩa là, trong quan hệ ngoại giao với những nước ở Đông Nam Á, Bắc Kinh đã chuyển hướng về chính sách. Bình luận về những vấn đề liên quan đến Biển Đông, hãng CNN hồi đầu tháng 6 còn có bài viết khẳng định, Trung Quốc đang gia tăng áp lực, gây nguy cơ xung đột trên Biển Đông. 


SỰ THẬT SAU LỚP ÁO NGỤY TRANG

BÀN LUẬN

Lấy danh nghĩa đấu tranh đòi dân chủ, tiến bộ, vì nhân quyền, tự do, vì một xã hội văn minh, không ít đối tượng đã khoác vỏ bọc ngụy trang để thực hiện các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá đất nước. Khi tấm áo “xã hội dân sự” được rũ bỏ, họ buộc phải hiện hình.

Điển hình nhất trong các hội nhóm tự xưng, tự hoạt động trái pháp luật với chiêu bài xã hội dân sự (XHDS) là Hội Nhà báo độc lập do Phạm Chí Dũng đứng đầu. Danh xưng hoạt động vì XHDS, vì sự tiến bộ đất nước, song bản chất của tổ chức này lại làm điều ngược lại.
Ngày 21-11-2019, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Phạm Chí Dũng (53 tuổi, quê quán tỉnh Đồng Tháp, thường trú tại P.1, Q.Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Theo Công an TP Hồ Chí Minh, thời gian qua, bị can Phạm Chí Dũng có nhiều hoạt động công khai vi phạm pháp luật nghiêm trọng và rất nguy hiểm, tác động xấu đến sự ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh trật tự thành phố. Do đó, việc khởi tố để điều tra đối với Phạm Chí Dũng là rất cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Theo tài liệu của cơ quan chức năng, ngày 4-7-2014, Phạm Chí Dũng (Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Việt Nam - IJAVN) ra “Tuyên bố thành lập IJAVN” với số lượng ban đầu hàng chục thành viên, nội dung điều lệ hoạt động của hội thể hiện rõ quan điểm là tổ chức XHDS... Việc ra tuyên bố nói trên và hoạt động của IJAVN là trái với quy định của luật pháp. Ngoài ra, IJAVN còn vi phạm pháp luật về lập, quản lý tên miền “Việt Nam thời báo” không đăng ký, xin phép cơ quan chức năng theo quy định tại Nghị định 72/NĐ-CP của Chính phủ.
Mặc dù không được pháp luật công nhận nhưng IJAVN vẫn đề ra điều lệ, nguyên tắc sinh hoạt, tiêu chuẩn hội viên, ban điều hành, cơ cấu tổ chức, các chi hội, ban chuyên môn... IJAVN ra tuyên bố vào hội là không phân biệt quan điểm chính trị, giữ quan điểm làm báo ôn hòa, sự thật và khách quan về chính trị và xã hội nhưng hầu hết các bài viết đều mang màu sắc cá nhân, tư tưởng thù địch; đều có chung quan điểm là chống Đảng, Nhà nước.
Như vậy, cái mà Phạm Chí Dũng vẽ ra về một XHDS tiến bộ chỉ là cái cớ nhằm che đậy hoạt động chống phá đất nước, nhân dân. 
Cũng như Phạm Chí Dũng, các “chân rết” của ông ta cũng thực hiện các hoạt động tương tự, núp bóng XHDS. Cơ quan ANĐT Công an TP Hồ Chí Minh cho biết, tiếp tục mở rộng điều tra vụ án “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” do Phạm Chí Dũng cầm đầu, ngày 18-5-2020, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Nguyễn Tường Thụy.
Bị can Nguyễn Tường Thụy (sinh ngày 5-9-1950 tại Nam Định, trú tại phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội) bị bắt về tội quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự. Các quyết định, lệnh trên đã được Viện KSND TP Hồ Chí Minh phê chuẩn. Ngày 23-5, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP đã thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam và khám xét nơi ở đối với Nguyễn Tường Thụy. Quá trình bắt, khám xét đã được tiến hành theo đúng quy định pháp luật và đã thu giữ nhiều tài liệu, vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội phục vụ công tác điều tra vụ án.
Khoác áo XHDS, trên mạng, ông Thụy tung ra các bài viết, các luận điệu đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, câu kết với các tổ chức chống phá bên ngoài, gây bất ổn cho xã hội. Trước đây ông từng tự ứng cử đại biểu Quốc hội, tuy nhiên lai lịch của ông thì nhân dân địa phương không lạ. Theo dõi trên Facebook, blog cá nhân của Nguyễn Tường Thụy và website của “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” trong những năm qua cho thấy, Nguyễn Tường Thụy đã viết, phát tán nhiều bài viết có nội dung phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trường hợp khác có thể kể đến là Nguyễn Năng Tĩnh. Tại phiên phúc thẩm vừa qua, các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan chức năng điều tra, thu thập một lần nữa đã chứng minh bị cáo Nguyễn Năng Tĩnh thông qua trang Facebook cá nhân đã viết nhiều bài có nội dung xuyên tạc bản chất của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc; phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc lịch sử, xâm phạm chính quyền nhân dân và chế độ. Bị cáo là người có nhận thức, có hiểu biết nhưng thể hiện sự coi thường pháp luật, có hành vi chống đối Nhà nước trong thời gian dài.
Chống lưng cho những người núp bóng XHDS để hoạt động chống phá Nhà nước là các tổ chức thù địch, phản động, các phần tử cơ hội. Chẳng hạn như khi cơ quan điều tra khởi tố, bắt giam bị can Nguyễn Tường Thụy, trên một số trang mạng ngoài nước và Facebook đối tượng chống phá trong nước đã ngay lập tức lan truyền các thông tin thất thiệt, bóp méo bản chất sự việc. Một số đối tượng đến khu vực nhà riêng bị can, quay clip để các trang mạng nước ngoài “tường thuật trực tiếp”, phỏng vấn người nhà, người “chứng kiến” với nội dung vu cáo chính quyền, công an “tra tấn”, “bắt người vô cớ”... Những clip, bài viết này nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội, gây nhiễu thông tin.
Các trang mạng thù địch ngoài nước giật những tít như “nhà báo độc lập Nguyễn Tường Thụy bị bắt trong đợt trấn áp của công an”, nói rằng nhà báo Thụy bất ngờ “bị trấn áp” trong hoàn cảnh nhà báo và gia đình không hay biết vì sao bị bắt. Thậm chí, những bài viết này còn đôn thêm các câu từ gây sốc cho người đọc như “bị tra tấn dã man”, “bị xốc nách đi mà không cần lệnh, không cần biên bản”...
Cũng như một số vụ việc gần đây, các đối tượng cố tình gán ghép các chữ “nhà yêu nước”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ” để vu cáo “bị bắt vì bày tỏ lòng yêu nước”! Các thông tin này xâu chuỗi một số đối tượng phạm pháp bị bắt gần đây rồi xuyên tạc rằng đang có đợt trấn áp, bắt người “bất đồng chính kiến” trước Đại hội Đảng, từ đó suy diễn những vấn đề này có liên quan đến “đấu đá chính trị trước đại hội”.
Thực tế, việc khởi tố, bắt giam trong bất cứ vụ án nào, CQĐT đều phải tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong các vụ án Phạm Chí Dũng và những bị can có liên quan cũng vậy. Không có chuyện Cơ quan An ninh điều tra vô cớ bắt giam, không lệnh, không biên bản, kiểu hỏa mù “bắt bất chấp” như luận điệu các đối tượng tung lên. Cơ quan An ninh điều tra đã thông tin rõ: Bị can Nguyễn Tường Thụy bị bắt về tội quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
Về thủ tục tố tụng, các quyết định, lệnh trên đã được Viện KSND TP Hồ Chí Minh phê chuẩn. Quá trình bắt, khám xét đã được tiến hành theo đúng quy định pháp luật và đã thu giữ nhiều tài liệu, vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội phục vụ công tác điều tra vụ án. Như vậy, không hề có việc mập mờ, bắt giữ vô cớ như các trang mạng xấu rêu rao.
Theo GS, TS Bùi Quảng Bạ, tuy có nhiều cách tiếp cận nhìn nhận, đánh giá và quan niệm khác nhau về “XHDS” (civil society) tùy thuộc và mỗi giai đoạn lịch sử và những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử đó, nhưng các quan điểm của các học giả phương Tây đều gặp nhau ở những điểm cốt lõi. Về bản chất, XHDS là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Đó là sự khác biệt giữa “XHDS” với “xã hội quân sự” hay “xã hội chính trị” (nhà nước) nhưng XHDS có thể được nhà nước hậu thuẫn.
Tuy  nhiên, như đã phân tích trên, các đối tượng chống phá thường núp bóng XHDS để thực hiện các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại sự ổn định của đất nước và mục tiêu cuối cùng là nhằm lật đổ chế độ. Chiêu trò của các tổ chức hoạt động phi pháp này là vờ tung vai trò “phản biện xã hội”, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, hướng lái hoạt động của các tổ chức khoác áo “XHDS” để kích động chống phá. Các đối tượng thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đưa ra các yêu sách, đòi hỏi phi lý...
Những người lập ra một số tổ chức mang danh XHDS thường khi bị bắt, xử lý theo luật pháp thì được các thế lực thù địch chụp cái mũ là nhà “bất đồng chính kiến” hay “tù  nhân lương tâm”. Phương thức hoạt động của họ luôn nêu cao dân chủ, nhân quyền, tự do, tôn giáo... để lấy cớ khoét sâu vào các vấn đề nội bộ, các vụ việc trong đời sống xã hội, tạo ra các nhân tố gây bất ổn định từ bên trong để kẻ địch bên ngoài lấy cớ can thiệp.



SỰ VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG LUẬT PHÁP
CỦA NHÀ XUẤT BẢN TỰ DO
BÀN LUẬN
Mặc dù số đối tượng hoạt động dưới danh nghĩa Nhà xuất bản Tự do sinh sống, làm việc tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam nhưng lại đưa ra quan điểm hoạt động: “Chúng tôi hoạt động độc lập, với hoạt động chính là xuất bản và phát hành các ấn phẩm không chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam…”. Vậy, họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam trên các phương diện như sau:
- Vi phạm Luật Xuất bản (Luật số: 19/2012/QH13, ngày 20 tháng 11 năm 2012) trong đó Khoản 2, Điều 6 Luật Xuất bản quy định:
“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước.
Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản”.
Luật cũng quy định rõ điều kiện thành lập nhà xuất bản, các hành vi bị nghiêm cấm.
Rõ ràng, đối chiếu với Luật Xuất bản, cái gọi là Nhà xuất bản Tự do là vi phạm, trái pháp luật.
Trước các hành vi, hoạt động tuyên truyền các thông tin sai sự thật của Nhà xuất bản Tự do, để phòng tránh những tác động tiêu cực về mặt nhận thức, chính trị tư tưởng, ảnh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội Việt Nam, mỗi người dân chúng ta nên:
Thứ nhất, cần nhận thức rõ âm mưu tuyên truyền sai sự thật, phá hoại tư tưởng của cái gọi là Nhà xuất bản Tự do. Các hoạt động của số đối tượng kêu gọi áp dụng chế tài của luật Magnitsky với mục tiêu, ý đồ “áp đặt” lên Việt Nam với các chế tài bất hợp lý cần phải bị lên án.
Hai là, mỗi công dân Việt Nam thể hiện đúng đắn lòng yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ, không bị các đối tượng chống đối nói chung, số đối tượng tham gia Nhà xuất bản Tự do nói riêng tuyên truyền, kích động; khơi dậy niềm tự hào của thanh niên, sinh viên về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; đồng thời giúp họ hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của Nhà xuất bản Tự do trong bối cảnh hiện nay; chủ động nâng cao tinh thần cảnh giác khi tiếp cận thông tin bên ngoài, thông tin từ Internet, không để các đối tượng lợi dụng kích động người dân.

 



ÂM MƯU KÊU GỌI ÁP DỤNG MAGNITSKY VỚI VIỆT NAM
BÀN LUẬN
Với thủ đoạn “Ấn phẩm này sẽ hướng dẫn bạn cách sử dụng một công cụ pháp lý đặc biệt được tạo ra và thực thi ở các quốc gia như Mỹ, Anh, Canada,…để trừng phạt những kẻ vi phạm nhân quyền hoặc tham nhũng tại Việt Nam”, các đối tượng đưa ra ấn phẩm bộc lộ mục đích, âm mưu, ý đồ trong việc kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài vào Việt Nam thông qua các vấn đề liên quan đến “dân chủ”, “nhân quyền”.
Các đối tượng đưa ra quan điểm cho rằng, dựa vào Magnitsky “Mỹ có thể trừng phạt một quan chức Việt Nam sống ở Việt Nam vì đã có hành động vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với công dân Việt Nam (như tra tấn, giết hại...), bằng cách phong tỏa tài sản của y ở Mỹ và cấm nhập cảnh vào nước Mỹ...”. Ý đồ của số đối tượng Nhà xuất bản Tự do là nhằm tạo ra một làn sóng mới để “áp đặt” vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” ở Việt Nam, đồng thời nó được xem như là một công cụ để cung cấp bằng chứng mà theo họ là “vi phạm nhân quyền” để cung cấp cho phía Mỹ nhằm đưa ra các chế tài áp đặt đối với Việt Nam.
Như vậy, nếu hoạt động vừa xuyên tạc trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, vừa tìm cách kêu gọi phía nước ngoài, thực thi Luật Magnitsky để áp đặt vào Việt Nam thì chẳng khác gì hành động “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của các đối tượng.
Hơn nữa, Việt Nam là quốc gia luôn khẳng định sự tôn trọng quyền con người, luôn mở rộng các quyền tự do, dân chủ và được các quốc gia trên thế giới đánh giá cao. Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định: Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền con người, quyền công dân.
Có thể nói rằng, mối quan hệ giữa các quốc gia cần phải dựa trên nguyên tắc hợp tác, bình đẳng, tôn trọng lợi ích của các bên liên quan mới có thể giải quyết được các vấn đề mấu chốt, bảo đảm theo tinh thần nhân đạo, nhân văn. Muốn cho quyền cơ bản của con người được nâng lên, điều cốt lõi là phải có sự tôn trọng về điều kiện kinh tế, hoàn cảnh lịch sử, giá trị văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia chứ không phải là việc áp đặt, đưa ra các chế tài ràng buộc như quan điểm áp dụng luật Magnitsky đối với Việt Nam.


"NHÀ XUẤT BẢN TỰ DO" LÀ AI?
BÀN LUẬN
Tự xưng là “Nhà xuất bản Tự do” theo mô hình của một tổ chức phi lợi nhuận tuyên bố thành lập ngày 14-2-2019. Nhà xuất bản Tự do tiến hành một số hoạt động chính là xuất bản, in và phát hành các ấn phẩm có nội dung kích động bạo lực, chống đối quốc gia sở tại. Mặc dù là một tổ chức tự xưng không lợi nhuận, nhưng số đối tượng cầm đầu vẫn công khai hình thức bán sách với giá khá cao, một số sản phẩm theo hình thức cho/tặng sách in miễn phí; đăng tải các bản ebook công khai và miễn phí.
Với phương thức, thủ đoạn là thiết lập các kênh thông tin qua Internet như website, Facebook, Youtube... dựa trên nền tảng các ứng dụng mạng xã hội để lan tỏa tin tức tới cộng đồng phục vụ mục đích, ý đồ chống đối của các đối tượng.
Một số ấn phẩm vi phạm của Nhà xuất bản Tự do đã công khai trên website như: “Chính Trị Bình Dân,” “Cẩm Nang Nuôi Tù,” “Phản Kháng Phi Bạo Lực”... đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình chính trị - xã hội tại Việt Nam. Vậy, mục đích ra đời của Nhà xuất bản Tự do là gì?
Thứ nhất, cái gọi là Nhà xuất bản Tự do ra đời với mục đích để phục vụ nhu cầu của một bộ phận chống đối, bất mãn trong xã hội. Những ấn phẩm của các đối tượng chủ yếu nói về các bất mãn cá nhân, tiêu cực, thậm chí là “giả tạo tình huống, cảm xúc” để đánh lừa cộng đồng bằng những ngôn từ mỹ miều.
Nhà xuất bản Tự do tụ tập những thành phần chống đối bất hảo, viết bài vu cáo chế độ để kêu gọi các quốc gia can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đặc biệt là kêu gọi áp dụng Magnitsky đối với Việt Nam trong thời gian vừa qua. Nhiều bài viết của các đối tượng lộng ngôn, xuyên tạc sự thật, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam, tạo ra sự hiểu nhầm, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai, nhiều ấn phẩm đăng tải trên Nhà xuất bản Tự do tập trung vào tuyên truyền, kích động, lôi kéo lực lượng tham gia biểu tình, gây rối an ninh, trật tự. Sự thật là, các đối tượng đã có nhiều bài viết kích động với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.
Các đối tượng triệt để lợi dụng các sự kiện chính trị xã hội phức tạp, nhạy cảm ở trong nước, tâm lý bất ổn của một bộ phận quần chúng để tuyên truyền kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân tham gia xuống đường biểu tình, tuần hành, gây rối an ninh trật tự, tập dượt cho các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Nhà xuất bản Tự do đăng tải những ấn phẩm bằng những thủ đoạn xảo quyệt, lừa bịp, dối trá để đánh lừa một bộ phận quần chúng nhân dân.
Thứ ba, các thành phần tham gia vào Nhà xuất bản Tự do đăng tải các thông tin để định hướng Việt Nam phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây. Vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền” để tìm kiếm sự hậu thuẫn của các chính giới nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động móc nối, tạo dựng lực lượng chống đối.
Thứ tư, các nội dung, ấn phẩm của Nhà xuất bản Tự do ra đời với các nội dung tuyên truyền nhằm tạo ra các tiền đề, nhân tố, điều kiện cho việc xóa bỏ chế độ XHCN, định hướng Việt Nam đi theo quỹ đạo Tư bản chủ nghĩa, tạo dựng các trào lưu, khuynh hướng đối lập và thù địch cách mạng trong lòng xã hội.
Thứ năm, tuyên truyền các luận điệu phi Cộng sản, tấn công vào Hiến pháp, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ chính trị tại Việt Nam. Các đối tượng này sử dụng sức mạnh của công cụ tuyên truyền để gây sức ép tước bỏ công cụ chuyên chính của Đảng là lực lượng Công an và Quân đội. Theo thuyết âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.