LIÊN
TỤC TIẾN HÀNH CÁC HÀNH VI SAI TRÁI
BÀN LUẬN
Theo
bà Sumathy Permal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển Malacca,
Malaysia, những hành vi gây hấn nói trên cùng với việc Trung Quốc từ nhiều năm
qua liên tục cải tạo phi pháp các bãi đá ở Biển Đông và xây dựng các công trình
trái phép trên đó đồng thời ngang nhiên tuyên bố yêu sách Tứ Sa và thành lập
cái gọi là “khu Nam Sa” và “khu Tây Sa” trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt
Nam là những bước đi đầy toan tính.
“Khi
yêu sách Tứ Sa được công khai tức là Trung Quốc đã chuẩn bị cho một chiến lược
dài hơi nhằm độc chiếm Biển Đông một cách trái với pháp luật quốc tế. Dịch
COVID-19 với diễn biến phức tạp tại các nước trong khu vực tạo cơ hội cho Trung
Quốc có thêm những hành động leo thang căng thẳng khiến cộng đồng quốc tế hết
sức quan ngại”, bà Sumathy Permal nói.
Nhắc
đến vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá QNg 90617 TS với 8 ngư dân của
Việt Nam ngày 2/4, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển Malacca chỉ
rõ, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc có hành vi hết sức nguy hiểm và
đáng lên án như trên. Hồi tháng 6 năm 2019, tàu cá mang số hiệu F/B GIMVERQ của
Philippines với 22 ngư dân trên tàu cũng đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở gần
bãi Cỏ Rong trên Biển Đông.
“Một
trong những chiến thuật chính mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng là triển khai
các nhóm tàu hỗn hợp gồm tàu cá, tàu hải cảnh và tàu hải giám tới vùng biển của
các quốc gia trong khu vực nhằm thực hiện hành vi khai thác trái phép, quấy
rối, thậm chí gây hấn và tấn công tàu các nước khác. Điều tôi lo ngại là hành
vi này của Trung Quốc không những duy trì liên tục trong suốt nhiều năm qua mà
còn tăng cường cả về tần suất, mức độ và số lượng tàu tham gia. Riêng trong
những tháng đầu năm 2020 thì đã đạt ngưỡng chưa từng có trong tiền lệ”, bà
Sumathy Permal phân tích.
Chuyên
gia từ chương trình An ninh hàng hải thuộc Đại học Nanyang của Singapore,
Collin Koh cũng nhận định: “Các hành vi của Bắc Kinh mà chúng ta đang thấy trên
Biển Đông đã từng diễn ra trước đó và chắc chắn sẽ lặp lại trong tương lai. Rõ
ràng là sau khi hoàn tất việc bồi đắp trái phép các đảo nhân tạo, tăng cường
được sự hiện diện thường xuyên trên Biển Đông, Bắc Kinh bắt đầu lập kế hoạch
khác để củng cố yêu sách chủ quyền vô lý và liên tục bổ sung các chiêu thức
mới. Giờ đây, Trung Quốc “đánh mạnh” vào kinh tế các nước bằng việc dùng tàu
hải cảnh và tàu khảo sát cản trở các hoạt động khai thác dầu khí của quốc gia
khác trên Biển Đông.
Quả
thực, như đối với Việt Nam, nếu trong vòng 30 năm qua, Trung Quốc chỉ tiến hành
gần chục hoạt động trái phép nghiêm trọng ở Biển Đông như đưa tàu thăm dò dầu
khi vào bãi Tư chính năm 1994, đưa tàu Kan Tan-3 vào khảo sát ở khu vực chồng
lấn trong vịnh Bắc Bộ năm 1997, thực hiện một số vụ cắt cáp tàu khảo sát dầu
khí của Việt Nam trong đó có tàu Bình Minh năm 2011, đưa giàn khoan HD981 vào
vùng biển Việt Nam năm 2014, đưa tàu đến cản phá hoạt động dầu khí ở cực Nam
thềm lục địa Việt Nam (năm 2017 và 2018) và đưa tàu vào vùng biển Nam Biển Đông
của Việt Nam (năm 2019) thì riêng trong 6 tháng đầu năm 2020, các vụ cản trở
kiểu này đã chiếm gần ½ con số này.
Với
các quốc gia khác, Trung Quốc cũng không nể nang. Sau cuộc đụng độ với tàu của
Malaysia hồi đầu năm, tháng 4 vừa qua, tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của
Trung Quốc lại bám theo tàu thăm dò dầu khí West Capella của Malaysia và hoạt
động cách bờ biển Malaysia chỉ hơn 300km. Chưa hết, tàu cá của Trung Quốc cũng
đã gây rối gần quần đảo Natuna của Indonesia khiến quân đội Indonesia phải điều
máy bay chiến đấu và tàu chiến tới tuần tra.
Tổng
thống Indonesia Joko Widodo cũng bay tới khu vực này và tuyên bố “không thương
lượng chủ quyền” với Trung Quốc. Greg Poling, Giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh
bạch hàng hải (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) ở
Washington (Mỹ) cho rằng, Trung Quốc sẽ không dừng lại và tiếp tục xây dựng các
đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông, lập thêm các đội tàu hải cảnh để bảo vệ tàu
cá ở Biển Đông và giao thêm nhiệm vụ cho các tàu cá không chỉ đánh cá mà còn
quấy rối ngư dân của các nước trong khu vực.
“Mỗi
ngày các nước đều chứng kiến có tới gần 100 tàu cá Trung Quốc hoạt động cùng
các tàu hải cảnh. Các đảo nhân tạo sẽ được Trung Quốc dùng như căn cứ quân sự
và giúp Trung Quốc mở rộng việc kiểm soát trên Biển Đông. Những đảo này được
trang bị radar và khả năng giám sát, giúp Trung Quốc quan sát mọi thứ diễn ra ở
Biển Đông. Trước đây Trung Quốc có thể không biết quốc gia khác khai thác tài
nguyên ở đâu. Nhưng giờ thì họ biết rõ điều đó”, ông Greg Poling lo ngại.
Rõ
ràng, Trung Quốc giờ không còn úp mở mà thẳng thừng công khai quan điểm ngăn
chặn, khống chế các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí của các quốc gia
khác trên Biển Đông. Nghĩa là, trong quan hệ ngoại giao với những nước ở Đông
Nam Á, Bắc Kinh đã chuyển hướng về chính sách. Bình luận về những vấn đề liên
quan đến Biển Đông, hãng CNN hồi đầu tháng 6 còn có bài viết khẳng định, Trung
Quốc đang gia tăng áp lực, gây nguy cơ xung đột trên Biển Đông.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét