Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2025

 

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9

Hướng Dương

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Việt Nam mà còn là thắng lợi của cách mạng giành chính quyền chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất, nhưng mang lại thành công lớn nhất và triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cao đẹp, là kết quả của sự phát huy các nguồn lực con người, trí tuệ và cả của cải của chính nhân dân; là hội tụ của các nguồn xung lực mạnh mẽ của toàn dân tộc, trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của Mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã phá vỡ một mảng quan trọng của chủ nghĩa đế quốc tại khâu yếu nhất của nó là chế độ thuộc địa-nửa phong kiến; mở ra thời kỳ sụp đổ, tan rã không cách gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trước năm 1945, nước ta chỉ là một xứ thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, 95% dân số mù chữ, thậm chí tên nước “Việt Nam” còn chưa có trên bản đồ thế giới. Dưới ách áp bức của phát xít và thực dân, nhân dân ta bị bóc lột, đàn áp thậm tệ; riêng nạn đói năm 1945 do phát xít Nhật gây ra đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào. Trình độ dân trí rất thấp, với 95% dân số không biết viết, không biết đọc-một con số thể hiện sự tàn phá ghê gớm của chế độ thực dân. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám và sự lãnh đạo của Đảng, khó có thể hình dung viễn cảnh dân tộc ta tiếp tục chịu thân phận nô lệ cùng cực kéo dài như thế nào. Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa dân tộc ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, đưa nhân dân ta từ thân phận người dân mất nước trở thành chủ nhân đất nước. Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, trước tình thế “thù trong giặc ngoài”, "ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng loạt nhiệm vụ cấp bách vì dân sinh, dân trí đã được tiến hành quyết liệt, phong trào “diệt giặc đói, diệt giặc dốt” được triển khai trên khắp cả nước. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, nạn đói cơ bản được đẩy lùi và hơn 2,5 triệu người đã thoát nạn mù chữ nhờ các lớp bình dân học vụ được mở khắp nơi. Những thành quả đầu tiên ấy đã chứng tỏ tính ưu việt của chế độ mới, nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin, tinh thần đoàn kết của nhân dân vào chính quyền cách mạng non trẻ.

Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta không thể có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; nhân dân ta cũng không thể có được quyền làm chủ vận mệnh của mình. 80 năm qua, từ một xứ thuộc địa đói nghèo, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia độc lập, tự cường, phát triển mạnh mẽ. Những thực tế đó là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi sự phủ nhận và xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, giá trị vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU CỦA “KẺ ĂN THEO” LẠC LÕNG

Hướng Dương

Trong không khí cả nước sôi nổi kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, đâu đấy trên nền tảng giải trí, mạng xã hội như TikTok, YouTube lại xuất hiện các luận điệu “ăn theo” nhằm xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa lịch sử của sự kiện vĩ đại này. Lần này, chúng tập trung phủ nhận bản chất cách mạng và thành quả lịch sử khi rêu rao rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Luận điệu này nhằm phủ nhận hoàn toàn tính chất và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám. Thứ hai, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng cho rằng: “Những thắng lợi mà Việt Nam giành được là sự ăn may”; “do khoảng trống quyền lực nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”. Những luận điệu này cố tình phủ nhận quá trình chuẩn bị lâu dài và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Thứ ba, đổ lỗi và bôi nhọ Cách mạng Tháng Tám “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”, “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu”- đây quả thật là luận điệu đặc biệt độc hại, đảo ngược nhân quả lịch sử. Tuy nhiên những luận điệu này giờ đã trở nên quá quen thuộc, quen thuộc đến mức lạc lõng, nực cười vì có lẽ đến thời điểm này thì chẳng ai còn bận tâm đến những kẻ đã dốt nát còn tỏ ra nguy hiểm này nữa. 

 

CÁO BUỘC VÔ CĂN CỨ VỀ “ĐÀN ÁP TỰ DO TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG” Ở VIỆT NAM

                                                                                                                                 NMT

Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí như Tổ chức Vận động cho Đức tin và Công lý tại Việt Nam (AFJV), Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) hay các phần tử cực đoan lưu vong đã liên tục đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về việc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo; ngăn chặn tụ tập tôn giáo; xâm phạm tài sản tôn giáo; cưỡng ép từ bỏ tôn giáo; từ chối đơn đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân, v.v. Đây là những cáo buộc mang tính suy diễn, một chiều, bóp méo sự thật nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cần được đấu tranh, bác bỏ trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với pháp luật quốc tế

Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 khẳng định quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng quy định rõ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 26 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo và trên 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Các hoạt động tôn giáo diễn ra phong phú, đa dạng, từ lễ hội, nghi lễ tôn giáo đến các hoạt động từ thiện, nhân đạo, đều được tôn trọng và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật. Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và thực hiện báo cáo định kỳ trước các cơ chế của Liên hợp quốc như: UPR, ICCPR,… và chủ động đối thoại với các tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, minh bạch.

2. Nhận diện và phản bác các luận điệu vu cáo về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

Một là, luận điệu “Hình sự hóa hoạt động tôn giáo” là hoàn toàn sai lệch. Nhà nước Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật như: Kích động bạo lực, tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không bao giờ xử lý đơn thuần vì lý do tôn giáo. Trường hợp linh mục Đặng Hữu Nam mà AFJV đề cập không liên quan đến quyền tự do tôn giáo mà xuất phát từ việc ông này có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc sự kiện Formosa, kích động biểu tình, gây rối trật tự. Hơn nữa, chính Giám mục Nguyễn Hữu Long - người có đầy đủ thẩm quyền trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã áp dụng các biện pháp quản lý đối với linh mục Nam hoàn toàn theo nội bộ giáo luật Công giáo, không phải là sự can thiệp của chính quyền.

Hai là, luận điệu “Ngăn chặn tụ tập tôn giáo” là sự bóp méo bản chất. Việt Nam tạo điều kiện cho các hoạt động tụ tập tôn giáo hợp pháp. Việc kiểm soát một số hoạt động tụ tập trái phép, không tuân thủ quy định là nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều áp dụng. Không thể nhân danh tôn giáo để bao biện cho các hành vi lợi dụng tụ tập gây rối, phá hoại như những gì xảy ra tại Nghệ An giai đoạn sau sự cố môi trường biển miền Trung.

Ba là, luận điệu “Xâm phạm tài sản tổ chức tôn giáo” là cáo buộc vô căn cứ. Thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ tài sản hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới với sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. Nếu có mâu thuẫn liên quan đến đất đai, tài sản, đều được giải quyết theo pháp luật chung, không có sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Bốn là, luận điệu “Cưỡng ép từ bỏ tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Không có chính sách, văn bản nào của Nhà nước Việt Nam quy định hoặc khuyến khích việc cưỡng ép từ bỏ tôn giáo. Đây là thủ đoạn tuyên truyền nhằm hạ thấp hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, luận điệu “Từ chối đơn xin đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân” là vu cáo trắng trợn. Việc đăng ký tổ chức tôn giáo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tránh bị lợi dụng để hoạt động trái pháp luật. Những trường hợp không được cấp phép thường do không đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc có dấu hiệu hoạt động trái pháp luật, chứ không phải vì lý do kỳ thị tôn giáo.

Tóm lại, AFJV được thành lập tại Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “bảo vệ công lý”, nhưng thực chất là công cụ chính trị nhằm xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF - tổ chức liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo - cũng đã nhiều lần bị các chuyên gia quốc tế và ngay cả nội bộ Mỹ chỉ trích về sự thiên lệch, thiếu khách quan, sử dụng tiêu chí kép để gây sức ép chính trị. Những cáo buộc cho rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” là thiếu căn cứ, bóp méo bản chất sự việc, phục vụ ý đồ chính trị của một số tổ chức, cá nhân cực đoan. Việt Nam kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái này, đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo hợp pháp, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước./.

MT

 

 

NGHỊ QUYẾT 68 LÀ ĐỘNG LỰC, BỆ PHÓNG, KHÔNG PHẢI TẤM BĂNG RÔN

NMT

Ngày 12/8/2025, trang facebook Việt Tân có bài viết cho rằng: Nghị quyết 68, ngày 04/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân không phải là động lực phát triển đất nước, chỉ là khẩu hiệu treo cho đẹp ?

Thực tế, tiếp sau đại dịch Covid-19, là các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh thương mại, cộng với quá trình biến đổi khí hậu làm khủng hoảng chuỗi cung ứng, tác động mạnh đến kinh tế mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, trong năm 2024 và những tháng đầu năm 2025, các quốc gia đều tập trung tái cấu trúc nền kinh tế, lấy tư nhân quốc tế đóng vai trò chính trong đổi mới - sáng tạo, đầu tư, chuyển dịch nền kinh tế số. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước đang hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao trước 2030 và phát triển thịnh vượng, công bằng, bền vững; đồng thời, kinh tế tư nhân đã và đang chứng tỏ tính năng động, sáng tạo, bù đắp khoảng trống mà khu vực nhà nước chưa thể tiếp cận nhanh nhạy, nhất là trong các ngành mới, như: công nghệ thông tin, kinh tế số, năng lượng sạch, logistics, v.v. Nên Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025, về “phát triển kinh tế tư nhân” ra đời là phù hợp bối cảnh, đánh dấu bước ngoặt khẳng định kinh tế tư nhân không chỉ là một thành phần kinh tế, mà còn là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tính động lực được thể hiện trên nhiều khía cạnh.

1. Đổi mới tư duy phát triển. Trước đây, kinh tế tư nhân dù được thừa nhận về mặt chính thức thì vẫn bị coi là thành phần nền kinh tế “có điều kiện”. Nghị quyết 68 chính thức nâng tầm kinh tế tư nhân thành “động lực quan trọng” - điều này không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có giá trị chiến lược, tạo xung lực phát triển.

2. Khẳng định vai trò trong cơ cấu kinh tế. Việc khẳng định vai trò đó giúp xóa bỏ tư tưởng “thiệt thòi”, giúp kinh tế tư nhân trở thành đối tác bình đẳng trong liên kết công - tư, góp phần xây dựng nền kinh tế đa thành phần cởi mở, linh hoạt và phát triển toàn diện.

3. Đột phá hỗ trợ, nâng tầm kinh tế tư nhân, như: (1). Về tầm nhìn chiến lược và mục tiêu, đã gắn phát triển kinh tế tư nhân: với xây dựng chính phủ kiến tạo, phục vụ; với hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, và phát triển xanh. Và kinh tế tư nhân không còn là “bộ phận phụ trợ”, mà là nhân tố trung tâm, động lực chủ đạo của nền kinh tế thị trường. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp một tỉ trọng đáng kể trong GDP, tạo thêm hàng triệu việc làm chất lượng, tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả, có quy mô ngang tầm khu vực và quốc tế góp phần đưa đất nước có trên 2 triệu doanh nghiệp. (2). Giảm gánh nặng hành chính; đơn giản hóa các loại giấy phép, rút ngắn thời gian, minh bạch hóa quy trình; doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận vốn, đất đai, nguồn lực công như doanh nghiệp nhà nước,… tạo sân chơi bình đẳng. (3) Khuyến khích đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đào tạo và phát triển năng lực; ưu đãi thuế cho nghiên cứu, phát triển, khởi nghiệp, chuyển đổi số; hỗ trợ kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp, các quỹ đầu tư, trường đại học; nâng cao kỹ năng quản trị, chuyển giao công nghệ, quản trị quốc tế. (4). Tạo khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu, đầu tư và cạnh tranh lành mạnh; chống độc quyền, lãng phí, lạm quyền; minh bạch thông tin; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ...

4. Thúc đẩy thực tiễn phát triển. Nghị quyết 68 cho doanh nghiệp cảm nhận rõ: “Chính phủ và Đảng đồng hành lâu dài” đã tác động mạnh đến tâm lý và niềm tin; nó củng cố niềm tin cho các doanh nhân, nhất là người trẻ, sáng tạo, khởi nghiệp; xóa bỏ rào cản tâm lý “không dám”, “ngại rủi ro chính sách”. Đồng thời, môi trường kinh doanh cải thiện mạnh; thủ tục đăng ký doanh nghiệp giảm từ hàng chục ngày xuống vài ngày với chi phí giảm đáng kể; các doanh nghiệp tư nhân được đưa vào trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nên số lượng startup tăng nhanh, góp phần bảo toàn nguồn nhân lực công nghệ. Với niềm tin được khẳng định, dòng vốn đầu tư tư nhân, trong nước, lẫn từ kiều hối được huy động mạnh hơn; các doanh nghiệp trong nước - đặc biệt các tập đoàn lớn - mạnh dạn tiếp cận công nghệ cao, M&A, liên doanh với tập đoàn toàn cầu,… góp phần nâng tầm năng lực ngành.

Nhờ đó, tăng trưởng GDP bình quân đạt mức cao hơn trung bình giai đoạn trước, (quý 2/2025 tăng trưởng gần 08%); tỷ lệ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP tăng từ 40% lên 50 - 60%; thương mại quốc tế phát triển, theo hướng xuất khẩu giá trị gia tăng, sản phẩm công nghệ - chuyển dịch dần khỏi xuất khẩu lao động chân tay; văn hóa đổi mới, khởi nghiệp lan rộng từ đô thị ra vùng nông thôn, vùng kinh tế mới, v.v. Như vậy, Nghị quyết 68 mở ra cơ hội để các doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư, đổi mới, tạo việc làm, đóng thuế, thúc đẩy hội nhập, phát triển nguồn nhân lực tại địa phương,… góp phần gắn kết cộng đồng, lan tỏa trách nhiệm xã hội, là động lực mới, quan trọng đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng - ổn định kinh tế quốc gia./.

 

 

PHẢN BÁC CÁO BUỘC VIỆT NAM HẠN CHẾ TỰ DO BÁO CHÍ VÀ INTERNET

NMT

 Trong thời gian gần đây, một số tổ chức quốc tế như FIDH hay CSW đã liên tục đưa ra các cáo buộc cho rằng Việt Nam kiểm soát chặt chẽ báo chí và hạn chế tự do internet. Những thông cáo này không chỉ thiếu cơ sở mà còn cố tình bóp méo sự thật, nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị không trong sáng. Thực tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thúc đẩy tự do tiếp cận thông tin, đồng thời xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh cho người dân.

Trước hết, cần khẳng định rằng cáo buộc Việt Nam hạn chế tự do báo chí và internet là hoàn toàn không chính xác. Với hơn 70 triệu người dùng internet, chiếm khoảng 70% dân số, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ tiếp cận mạng cao nhất khu vực Đông Nam Á. Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024, Việt Nam hiện có hơn 800 cơ quan báo chí, bao gồm hàng trăm tờ báo in, báo điện tử và các kênh truyền hình, hoạt động sôi nổi trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội. Các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube hay TikTok cũng thu hút hàng chục triệu người dùng hoạt động hàng ngày, với hàng tỷ bài đăng, video và bình luận được chia sẻ. Những con số này là minh chứng sống động cho một môi trường thông tin cởi mở, đa dạng, trái ngược hoàn toàn với bức tranh u ám mà các tổ chức như FIDH cố tình vẽ nên.

Hơn nữa, Luật An ninh mạng 2018, thường bị các báo cáo quốc tế viện dẫn như một công cụ kiểm soát tự do ngôn luận, thực chất được ban hành để bảo vệ người dùng trước các mối đe dọa như tin giả, lừa đảo trực tuyến và các nội dung độc hại. Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024 chỉ rõ rằng luật này không hề cấm đoán các hoạt động bày tỏ quan điểm hợp pháp, mà tập trung vào việc ngăn chặn thông tin sai lệch, kích động bạo lực hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Những quy định này tương đồng với các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như Luật An ninh Trực tuyến 2023 của Anh, vốn cũng yêu cầu các nền tảng số kiểm soát nội dung bất hợp pháp. Thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này được quốc tế ghi nhận, khi Báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) năm 2024 xếp Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về chỉ số tiếp cận internet, vượt qua nhiều quốc gia phát triển.

Đằng sau những cáo buộc sai lệch là các động cơ chính trị rõ ràng. Một số tổ chức như FIDH hay CSW dường như đang tìm cách kích động dư luận quốc tế, làm suy yếu các chính sách an ninh mạng của Việt Nam để phục vụ các lợi ích không minh bạch. Thủ đoạn của họ thường là bóp méo các quy định pháp luật, gắn mác “kiểm soát tự do ngôn luận” cho những nỗ lực bảo vệ an ninh quốc gia của Việt Nam. Hành vi này không phải lần đầu được ghi nhận. Năm 2022, tờ Jakarta Post từng chỉ trích FIDH vì đưa ra báo cáo sai lệch về tự do báo chí tại Indonesia, trong đó cố tình thổi phồng các hạn chế để gây áp lực lên chính phủ nước này. Tương tự, CSW lại giữ im lặng trước những quy định nghiêm ngặt về internet tại Anh, như Luật An ninh Trực tuyến 2023, vốn bị chỉ trích vì trao quá nhiều quyền kiểm soát nội dung cho chính phủ. Sự thiếu nhất quán này cho thấy tiêu chuẩn kép trong cách các tổ chức này đánh giá các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam.

Một chiêu trò khác thường được sử dụng là lợi dụng các sự kiện ngoại giao để khuếch đại các cáo buộc. Chẳng hạn, trong dịp chuyến thăm của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đến Việt Nam, một số tổ chức đã cố tình tung ra các báo cáo hoặc tuyên bố nhằm gây áp lực lên chính sách truyền thông của Việt Nam. Hành vi này không mới. Năm 2018, Global Witness từng lợi dụng Diễn đàn Kinh tế Thế giới được tổ chức tại Việt Nam để phát tán các thông tin xuyên tạc về tự do báo chí, khiến VnExpress phải lên tiếng bác bỏ. Những hành động này không chỉ thiếu thiện chí mà còn cố tình làm phức tạp hóa các mối quan hệ ngoại giao, gây hiểu lầm trong cộng đồng quốc tế về thực trạng tự do thông tin tại Việt Nam.

Quan trọng hơn, các cáo buộc này còn vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mọi quốc gia có quyền tự quyết trong việc xây dựng các chính sách phù hợp với bối cảnh văn hóa, chính trị và xã hội của mình. Việc các tổ chức như FIDH can thiệp vào chính sách truyền thông của Việt Nam, thông qua các báo cáo sai lệch hoặc áp lực quốc tế, là hành vi xâm phạm quyền tự quyết của một quốc gia có chủ quyền. Hành động tương tự đã từng bị Nga lên án mạnh mẽ vào năm 2022, khi FIDH bị cáo buộc đưa ra các báo cáo sai sự thật về tự do báo chí, được RT mô tả như một hình thức “tấn công chủ quyền”. Những tiền lệ này cho thấy các tổ chức như FIDH không chỉ thiếu khách quan mà còn đang lạm dụng danh nghĩa bảo vệ nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.

Những cáo buộc rằng Việt Nam hạn chế tự do báo chí và internet là hoàn toàn thiếu cơ sở, đi ngược lại với thực tế về một đất nước có môi trường thông tin sôi động và cởi mở. Các con số về người dùng internet, số lượng cơ quan báo chí và xếp hạng quốc tế của Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển của tự do tiếp cận thông tin. Đằng sau những luận điệu sai trái là các động cơ chính trị, tiêu chuẩn kép và các chiêu trò lợi dụng sự kiện ngoại giao nhằm gây áp lực lên Việt Nam. Hơn thế nữa, các hành vi này vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa quyền tự quyết của một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam, với những nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng một không gian mạng an toàn và một nền báo chí đa dạng, xứng đáng được nhìn nhận công bằng thay vì trở thành mục tiêu của những cáo buộc thiếu thiện chí./.

 

TẠI SAO BÁC HỒ LẠI CHỌN NGÀY 2/9/1945 ĐỂ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 

TẠI QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH

                                                                                                                       LMH

Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử thế giới một chút. Vào năm 1940, quân đội của Đức chỉ trong vòng hơn 1 tháng đã xâm lược nước Pháp, tận dụng cơ hội này thì Nhật Bản một đồng minh của Đức đã nhanh chân “nhảy” vào xâm chiếm Đông Dương. Từ đó, Nhật Bản bóc lột Pháp, Pháp bóc lột người dân mình khiến dân ta lâm vào tình cảnh lầm than, đói kém. Thuật ngữ “một cổ hai tròng” đã được ra đời từ đó. Đến năm 1945, Nhật đang gặp bất lợi trong thế chiến thứ hai, lo sợ Pháp ngả về phe của Mỹ, Anh và Liên Xô để “đánh” mình, lúc đấy không thể nào kiểm soát Đông Dương được nữa. Chính vì vậy, Nhật đã đảo chính Pháp để giành chính quyển về tay mình. Vào ngày 8/5/1945, Đức đã đầu hàng phe Đồng Minh, lúc này còn mỗi nước Nhật là ngoan cố trong khi Mỹ và Liên Xô đều muốn kết thúc chiến tranh.

Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh ngày 6 tháng 8 năm 1945, Mỹ đã thả quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, cùng lúc đó Liên Xô cũng đánh quân đội của Nhật ở Trung Quốc. Sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Sau khi hai quả bom được thả xuống,  Mỹ dự kiến sẽ thả thêm quả thứ ba vào ngày 19 tháng 8, vì tổn thất quá lớn Nhật Bản đã đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện.

Nhận thấy thời cơ đã chín muồi, không còn lúc nào tốt hơn lúc này, chính quyền Nhật tại Đông Dương đang suy yếu, vào ngày 18 tháng 8 năm 1945, Bác đã viết thư kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa và cách mạng tháng tám năm 1945 đã nổ ra.

Sáng ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, Nhật Bản hạ cờ xuống  làm biểu tượng chứng minh cho sự đầu hàng trước quân Đồng Minh. Vì thế khi đó ta đã kéo lá cờ đỏ sao vàng của mình lên, khẳng định cho cả thế giới biết rằng Việt Nam đã giành được chính quyền từ tay của Phát xít Nhật chứ không phải là từ tay của thực dân Pháp. Ý nghĩa của việc đó vô cùng lớn, đây không phải là một sự trao trả hay một sự chuyển giao từ thực dân Pháp mà chúng tôi giành được độc lập thông qua sự đấu tranh chính mình, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kì thế lực ngoại bang nào cả.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, Bác Hồ thừa hiểu rằng bọn Mỹ, Anh thể nào cũng đem quân vào thay thế trong nay mai. Chính vì vậy, vào 2h chiều ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, tại tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước 50.000 đồng bào đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam, Chủ Tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Khẳng định với cả thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, phải khẳng định tính chính danh của mình. Đây không phải là một nước vô chủ, ai muốn vào xâm lược cũng được, đây là một quốc gia có chủ quyền, một quốc gia có quyền tham gia vào cộng đồng quốc tế với tư cách một thành viên bình đẳng. Chỉ có như vậy thì mình mới chính danh đứng lên chống lại quân xâm lược Pháp và Mỹ, sau này lúc đó mình mới có được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.

                           NHỮNG HÀNH ĐỘNG THIẾU Ý THỨC TRONG NGÀY HỘI NON SÔNG

LMH

Những ngày tháng 8 lịch sử này, nhân dân mọi miền Tổ quốc đổ về thủ đô Hà Nội - trái tim của cả nước, để tận hưởng không khí tưng bừng mà cách đây 80 năm dân tộc Việt Nam và nhân loại trên thế giới chứng kiến cuộc Tổng khởi nghĩa thành công và Chủ tịch Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Đi trong không khí ngập tràn niềm vui và tự hào thì đâu đó vẫn còn những người vô ý thức, gây phản cảm, làm bẩn bức tranh đẹp (cố tình đi xe vào đường cấm rồi gây tai nạn; xô đẩy, vượt qua hàng rào an ninh chỉ vì muốc có chỗ ngồi, chỗ quan sát, xem buổi lễ sơ duyệt tố nhất, xả rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường…).

Đã đến lúc chúng ta phải tự nhắc nhở bản thân bởi đại lễ không chỉ là ngày vui của mọi người mà còn là thể diện, tầm vóc của quốc gia Việt Nam, nên từng người cần nâng cao ý thức vì quốc thể và không để làm khó cho lực lượng làm nhiệm vụ ở đây. Đừng vì một mục tiêu cá nhân của mình mà làm vấy bẩn lá cở Tổ quốc mang trên mình.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2025

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Trung Lập

Gần đây, trên trang blog phản động Tiếng Dân News xuất hiện bài viết “Công nhân Việt Nam đã đến lúc phải tự đứng lên” với những luận điệu xuyên tạc trắng trợn, bóp méo sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với giai cấp công nhân. Chúng cố tình dựng lên hình ảnh công nhân Việt Nam đang sống trong cảnh “tầng lớp bị bóc lột”, “chịu đựng đầu tiên và cuối cùng” khi có sự thay đổi chính sách. Nguy hiểm hơn, chúng hô hào công nhân “xây dựng phong trào ngầm trước khi ra công khai”, tranh thủ sự hậu thuẫn từ truyền thông quốc tế và tổ chức lao động nước ngoài để chống lại Đảng, Nhà nước ta. Đây là một âm mưu thâm độc, nhằm kích động tư tưởng phản kháng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu nền tảng chính trị – xã hội của đất nước.

Trước hết cần khẳng định: Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, có truyền thống yêu nước, cách mạng và là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, từ phong trào công nhân những năm 20 thế kỷ XX đến các cuộc kháng chiến và công cuộc đổi mới, công nhân Việt Nam luôn giữ vai trò nòng cốt, kiên trung, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần quan trọng vào mọi thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Thực tiễn phát triển đất nước hơn 35 năm đổi mới khẳng định, vị thế chính trị – xã hội của công nhân ngày càng được củng cố, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng cải thiện, quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật và các chính sách an sinh xã hội.

Luận điệu cho rằng công nhân Việt Nam bị “bóc lột”, “chịu đựng chính sách” là sự xuyên tạc trắng trợn. Thực tế, Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh về số lượng, chất lượng và bản lĩnh chính trị. Hệ thống pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội… không ngừng hoàn thiện, bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của người lao động. Các chương trình phúc lợi, chính sách tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn lao động, đào tạo nâng cao trình độ đã và đang được triển khai đồng bộ, tạo điều kiện để công nhân yên tâm lao động, cống hiến.

Thủ đoạn kích động công nhân “xây dựng phong trào ngầm” là vô cùng nguy hiểm, phản động. Đây thực chất là âm mưu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để hình thành các tổ chức “công đoàn độc lập” nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước, nhằm phá vỡ hệ thống chính trị ở cơ sở, biến công nhân thành công cụ chống phá từ bên trong. Những lời lẽ “tranh thủ truyền thông quốc tế”, “tận dụng các tổ chức quốc tế” thực chất là chiêu bài mời gọi sự can thiệp từ bên ngoài, đe dọa trực tiếp đến chủ quyền, ổn định và an ninh quốc gia.

Âm mưu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch càng làm sáng tỏ chân lý: chỉ có dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân mới thực sự có vị thế lịch sử và phát huy đầy đủ vai trò của mình. Công nhân Việt Nam hôm nay không chỉ là lực lượng sản xuất nòng cốt, mà còn là chủ thể sáng tạo, đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia. Họ không bị “bóc lột” như luận điệu thù địch rêu rao, mà đang ngày càng khẳng định vị trí làm chủ trong xã hội, gắn bó máu thịt với dân tộc, với Đảng và chế độ.

Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ các luận điệu sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề công nhân để chống phá. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công nhân về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần để công nhân yên tâm lao động, sản xuất. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức phải chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời định hướng dư luận, không để công nhân bị lợi dụng, lôi kéo.

Giai cấp công nhân Việt Nam mãi mãi là lực lượng trung thành, tin cậy của Đảng, là nền tảng chính trị – xã hội vững chắc của Nhà nước, là chủ thể trực tiếp kiến tạo tương lai đất nước. Mọi luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá đều nhất định thất bại trước niềm tin son sắt của công nhân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa mà dân tộc ta đã lựa chọn.


  

 HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoằng Tháo

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau”.

Tổng kết, khái quát về hệ giá trị gia đình Việt Nam, Đảng ta khẳng định: “Trải qua nhiều thế hệ, gia đình việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn học dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thuỷ chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất, kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua nhiều thời kỳ phát triển, cấu trúc và quan hệ trong gia đình Việt Nam có những thay đổi, nhưng chức năng cơ bản của gia đình vẫn tồn tại và gia đình vẫn là một nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”(3). Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”

Trong bối cảnh mới, tiếp tục tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới là một yêu cầu cấp thiệt. Đại hội XIII xác định: “Thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ và văn minh. Đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 24 - 6 - 2021 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới” khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, môi trường lưu giữ, giáo dục, trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc cho các thành viên trong gia đình. Xây dựng gia đình hạnh phúc chính là tạo nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, là vấn đề hết sức hệ trọng của dân tộc ta. Công tác xây dựng gia đình vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước”.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thực hiện đúng chức năng, vai trò của gia đình Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đến yêu cầu kết hợp các hệ giá trị: “xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới”.

 


 

 CHÚ TRỌNG CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

 Hoằng Tháo

Xây dựng môi trường làm việc thân thiện, chú trọng thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động; phòng, chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; phát triển các phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao; chú trọng chăm lo đời sống tinh thần... là những giải pháp được các cấp chính quyền, ngành chức năng, doanh nghiệp triển khai nhằm cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ sức khỏe cho người lao động.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp chỉ đạo các bộ, ngành liên quan chú ý tới việc cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Việc làm này đã góp phần nâng cao năng suất lao động, bảo đảm sức khoẻ thể chất, tinh thần cho người lao động. Mặt khác đây cũng là cơ sở để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, phản động xuyên tạc về môi trường làm việc ở Việt Nam.

Để cỉa thiện điều kiện làm việc cho người lao động trong thời gian tới, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện các quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh lao động cùng với quy phạm, quy trình kỹ thuật sản xuất

Trong sản xuất, mọi công việc đều đòi hỏi phải tuân theo quy trình công nghệ, quy trình làm việc nhất định. Trong tổ chức sản xuất cũng đòi hỏi phải tuân theo những yêu cầu về kỹ thuật nhất định. Nói một cách khác là phải tuân theo quy phạm kỹ thuật thì mới bảo đảm sản xuất tốt. Muốn bảo đảm an toàn và sức khoẻ cho người lao động thì phải căn cứ vào quy trình sản xuất, vào kỹ thuật sản xuất, mà đề ra các biện pháp về kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động và các quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động thích hợp. Trong doanh nghiệp phải có đầy đủ các quy trình về kỹ thuật an toàn và thực hiện đúng các biện pháp làm việc an toàn. Các quy trình kỹ thuật an toàn phải được sửa đổi cho phù hợp mỗi khi thay đổi phương pháp công nghệ, cải tiến thiết bị.

Hai là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật bảo hộ lao động

 

Công tác bảo hộ lao động bao gồm nhiều nội dung về khoa học và kỹ thuật nên đòi hỏi nhiều đến công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Những vấn đề về vệ sinh lao động như: thông gió, chiếu sáng, hút bụi, giảm tiếng ồn, cải thiện môi trường làm việc,... đều là những nội dung của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động đòi hỏi phải nghiên cứu công phu và sử dụng các biện pháp kỹ thuật phức tạp mới giải quyết được. Những vấn đề về kỹ thuật an toàn như: an toàn sử dụng điện, sử dụng các loại máy móc, thiết bị, sử dụng các loại hoá chất, các chất nổ, chất cháy, an toàn trong thi công xây dựng,... đều đòi hỏi phải đi sâu vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật.

Ba là, tổ chức nơi làm việc hợp lý đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động

Nơi làm việc hợp lý là một khoảng không gian nhất định của diện tích sản xuất, được trang bị máy móc, thiết bị, dụng cụ, vật liệu theo đúng yêu cầu các quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động để người lao động thực hiện nhiệm vụ sản xuất và công tác của mình một cách thuận lợi và bảo đảm an toàn.

Bốn là, thông tin tuyên truyền và huấn luyện về công tác bảo hộ lao động và tổ chức thực hiện tốt các chế độ về bảo hộ lao động

Công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về bảo hộ lao động có mục đích truyền tải đến tất cả các đối tượng những thông tin, hiểu biết cần thiết, hướng dẫn cho họ những kỹ năng, nghiệp vụ, những kiến thức về khoa học kỹ thuật, về pháp luật để mọi đối tượng, đều phải biết chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, phòng tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Việc nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền và huấn luyện về công tác bảo hộ lao động, việc áp dụng các phương pháp phương tiện có hiệu quả để tuyên truyền, huấn luyện về bảo hộ lao động, xây dựng một hệ thống chương trình giảng dạy, đề cương bài giảng về bảo hộ lao động phù hợp với từng đối tượng là yêu cầu bức thiết hiện nay./.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ “CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG” TẠI VIỆT NAM

Trung Lập

        Gần đây, một số tổ chức phản động như “Việt Tân” đã lợi dụng bảng xếp hạng “Chỉ số chất lượng cuộc sống” của một tổ chức nước ngoài để xuyên tạc tình hình Việt Nam, cố tình thổi phồng những đánh giá tiêu cực nhằm hạ thấp uy tín và thành tựu phát triển của đất nước. Cụ thể, chúng đưa ra số liệu cho rằng Việt Nam “đứng thứ 81/89 quốc gia” với điểm số 96,6, rồi suy diễn rằng đời sống người dân “bị khống chế”, “thiếu tự do dân chủ”, “không minh bạch” và “bị độc tài quyền lực”. Đây là một thủ đoạn quen thuộc, vừa bóp méo sự thật, vừa bỏ qua toàn bộ bối cảnh, nỗ lực và thành tựu mà nhân dân Việt Nam đã đạt được.

        Trước hết, các bảng xếp hạng quốc tế thường dựa trên nhiều tiêu chí mang tính chủ quan, chịu ảnh hưởng lớn từ quan điểm, phương pháp và nguồn dữ liệu của đơn vị khảo sát. Việc trích dẫn một con số đơn lẻ, không kiểm chứng nguồn gốc, rồi gắn cho nó những kết luận phiến diện là hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học. Hơn nữa, bất kỳ đánh giá khách quan nào cũng cần đặt trong bối cảnh lịch sử, điều kiện xuất phát và đặc thù của từng quốc gia. Việt Nam là một nước đang phát triển, vừa thoát khỏi chiến tranh chưa đầy nửa thế kỷ, đang nỗ lực vươn lên trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng đã đạt được những thành tựu ấn tượng: tốc độ tăng trưởng GDP ổn định, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hệ thống y tế - giáo dục được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng cải thiện.

        Trên thực tế, các quyền tự do cơ bản của người dân Việt Nam, bao gồm quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền được tham gia quản lý nhà nước, quyền được học tập, chăm sóc sức khỏe… đều được pháp luật bảo đảm và ngày càng được mở rộng. Mọi hành vi lợi dụng “tự do” để kích động bạo loạn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật - đây là nguyên tắc phổ biến ở bất kỳ quốc gia nào để bảo vệ an ninh, trật tự xã hội.

        Luận điệu của “Việt Tân” không nhằm phản ánh đúng thực trạng, mà chỉ là một phần trong chiến dịch tuyên truyền chống phá, hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, gây hoang mang trong nhân dân, tạo cớ để can thiệp từ bên ngoài. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phá vỡ ổn định chính trị - xã hội, từ đó biến Việt Nam lệ thuộc vào quỹ đạo và lợi ích của các thế lực thù địch.

        Trước những luận điệu xuyên tạc này, mỗi người dân cần tỉnh táo, tiếp nhận thông tin từ các nguồn chính thống, có kiểm chứng; đồng thời kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi thông tin sai lệch về tình hình đất nước. Thực tiễn hơn bảy thập kỷ qua đã chứng minh: con đường mà nhân dân Việt Nam lựa chọn là đúng đắn, phù hợp với lợi ích dân tộc; mọi nỗ lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sự thật và thành quả phát triển của đất nước chính là câu trả lời đanh thép nhất đối với mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt.

 CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CHẤP HÀNH NGHIÊM QUY ĐỊNH VỀ KỶ LUẬT PHÁT NGÔN,  ỨNG XỬ LÀNH MẠNH TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG

                                                                                                                NQĐ

Trên môi trường mạng, thói quen tiếp nhận, lan truyền, cổ xúy thông tin theo hiệu ứng domino làm cho người ta lạc vào “ma trận thông tin” không lối thoát, từ đó dễ bị lôi kéo, kích động theo tâm lý đám đông lợi bất cập hại. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhóm người ở độ tuổi trung niên trở lên (trong đó có cán bộ, đảng viên) ít có kiến thức về công nghệ thông tin, song lại chịu sự tác động của tin giả, tin xấu nhiều hơn nhóm người trẻ tuổi. Trong khi đó, một số cán bộ, đảng viên trẻ am tường về công nghệ số, có kỹ năng dùng mạng xã hội (MXH) thành thạo nhưng lại hạn chế về nhận thức, bản lĩnh chính trị, vì thế cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những thông tin tiêu cực trên môi trường mạng. Đấy là chưa kể một số cán bộ, đảng viên “sống” trên MXH vẫn luôn “mũ ni che tai”, thấy thông tin đúng không bảo vệ, biết thông tin sai không phê phán, đấu tranh.

Sử dụng MXH là xu hướng trong thời đại công nghệ số và đây là một trong những quyền chính đáng của con người. Cán bộ, đảng viên cũng không ngoại lệ. Tuy vậy, cần  nhớ rằng, công dân có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm; còn cán bộ, đảng viên chỉ được làm những điều luật pháp cho phép. Điều này là hiển nhiên, bởi cán bộ, đảng viên được Nhà nước, nhân dân ủy quyền làm nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng, quản lý xã hội, do đó họ phải có bổn phận, nghĩa vụ tiên phong trong việc tạo ra và thực thi những quy ước, chuẩn mực đạo đức, pháp lý để góp phần nuôi dưỡng, duy trì, thúc đẩy những giá trị tiến bộ, văn minh của xã hội.

Cán bộ, đảng viên là “hình ảnh thể chế, hình ảnh quốc gia, hình ảnh chính quyền” thu nhỏ trong con mắt người dân, do đó họ phải có trách nhiệm chính trị là chung tay góp sức tạo dựng, lan tỏa “hình ảnh thể chế, hình ảnh quốc gia, hình ảnh chính quyền” ngày càng tốt đẹp trong xã hội. Ngoài đời thực đã vậy thì trên MXH cũng phải vậy. Để góp phần giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin và làm trong sạch môi trường mạng, hơn ai hết, cán bộ, đảng viên cần đề cao và thực hiện những quy tắc, chuẩn mực khi sử dụng MXH và chấp hành nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước và cơ quan, đơn vị về kỷ luật phát ngôn.

Trước hết cán bộ, đảng viên cần tuân thủ triệt để Quy định số 47-NQ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về những điều đảng viên không được làm”, đó là không được: “Nói trái cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước; viết bài, cho đăng tải tin, bài sai sự thật, vu cáo, bịa đặt; tán phát bài viết, hồi ký không đúng sự thật”. Cùng với chấp hành nghiêm các quy định về kỷ luật phát ngôn và quy định về cung cấp thông tin trên MXH theo Luật An ninh mạng 2018, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh Đề án Văn hóa công vụ năm 2018 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó có yêu cầu phải “tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng MXH để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ”.

MXH như một trong những tấm gương phản chiếu về chính bản thân người sử dụng nó. Để góp phần giữ gìn hình ảnh, tư cách của mình, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức sống, ứng xử ở ngoài đời chuẩn mực như thế nào thì cũng phải giao tiếp, cư xử, tương tác trên MXH thể hiện ý thức chuẩn mực như thế. Bên cạnh việc giữ gìn lời ăn tiếng nói lành mạnh của bản thân trên MXH, cán bộ, đảng viên rất nên và rất cần cổ vũ, khích lệ, lan tỏa những điều tốt đẹp, những giá trị nhân văn, những hình ảnh tràn đầy năng lượng tích cực để góp phần làm giàu những giá trị văn hóa trên môi trường mạng. Mặt khác, khi tham gia MXH, mỗi cán bộ, đảng viên cần thể hiện lập trường, chính kiến chính trị rõ ràng của mình để bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, qua đó góp phần giữ vững và tăng cường sự đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; đồng thời góp phần làm cho hình ảnh văn hóa Việt Nam và những phẩm chất, giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam ngày càng tỏa sáng trong lòng bạn bè thế giới./.

 

 

 MỘT SỐ KẾT QUẢ SAU MỘT THÁNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

                                                                                                       Nhân Trần

Ngày 28/7, tại Hà Nội, Chính phủ tổ chức hội nghị đánh giá kết quả thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và sơ kết sau 1 tháng vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Về kết quả đã đạt được có thể khái quát, sau khi chuyển từ trạng thái chính quyền hành chính thụ động nặng về quản lý sang trạng thái chủ động, tích cực phục vụ Nhân dân và kiến tạo phát triển, giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Chủ trương lớn, quan trọng này của Đảng là hợp lòng dân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước hiện nay nên được Nhân dân cả nước đồng tình, ủng hộ. Có thể khái quát kết quả nổi bật sau 1 tháng triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp là:

Thứ nhất, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp bước đầu vận hành ổn định, thông suốt. Tất cả các địa phương đã hoàn tất việc sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền, đảm bảo duy trì hoạt động hành chính không để gián đoạn. Chính quyền các tỉnh, thành mới hợp nhất và các xã, phường mới thành lập nhanh chóng đi vào hoạt động, không để “khoảng trống” trong công tác quản lý và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đến nay, cả nước đã đã thành lập 34 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, 3.321 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, phường. Hai địa phương Hà Nội và Quảng Ninh vận hành theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp và tổ chức các chi nhánh hoặc điểm phục vụ hành chính công.

Thứ hai, các dịch vụ hành chính công được duy trì liên tục, không để xảy ra gián đoạn trong quá trình chuyển đổi. Cổng Dịch vụ công quốc gia đã nâng cấp, kết nối thông suốt với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh và có thể đáp ứng yêu cầu của 120.000 người dùng đồng thời. Từ ngày 01/7 đến nay, trên hệ thống Cổng Dịch vụ công quốc gia đã ghi nhận số lượng người dùng cao nhất là 50.000 đồng thời (đạt 41,6% công suất). Như vậy, hệ thống hoàn toàn có thể đáp ứng tốt hơn, nhanh hơn các nhu cầu của người dân.

Thứ ba, công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính được giữ vững. Mặc dù phạm vi địa giới của nhiều đơn vị hành chính cả cấp tỉnh, cấp xã thay đổi lớn, song tình hình các địa phương cơ bản vẫn ổn định, người dân đồng thuận cao. Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; sự chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương luôn thông suốt, hiệu quả.

Thứ tư, sự chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương có sự thông suốt, đồng bộ. Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương đã vào cuộc đồng bộ, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các địa phương. Hơn 60 văn bản hướng dẫn, hàng chục tổ công tác kiểm tra thực địa đã được triển khai chỉ trong tháng đầu tiên. Đẩy mạnh việc cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ.

Thứ năm, đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát. Chính phủ đã ban hành 28 Nghị định; thực hiện phân cấp, phân quyền từ Trung ương xuống cho địa phương 556 thủ tục hành chính; phân định thẩm quyền từ cấp huyện cho cấp tỉnh 18 thủ tục hành chính, xuống cấp xã, phường 278 thủ tục hành chính; bãi bỏ 74 thủ tục hành chính. Đến nay, một số bộ, cơ quan ngang bộ đã phân cấp mạnh mẽ thủ tục hành chính từ Trung ương cho địa phương, số lượng thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của bộ còn khoảng dưới 30% như: Bộ Tư pháp (18,1%), Bộ Nội vụ (26,4%), Thanh tra Chính phủ (32,3%), Bộ Giáo dục và đào tạo (36%).

Những kết quả đạt được trên đây là cơ bản, chiến lược, lâu dài, thể hiện sự nỗ lực, quyết tâm lớn của các cấp, các ngành và sự ủng hộ, phấn khởi đón nhận của Nhân dân trong việc thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 tại Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục ngay. Một số công việc cần tiếp tục làm liên quan hệ thống thể chế, pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, nhiều văn bản dưới luật cần được ban hành hoặc cập nhật kịp thời; việc kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân sự, có tình trạng vừa thiếu vừa thừa; phân cấp, phân quyền vẫn còn giao thoa, vướng mắc. Cùng với đó, cơ chế tài chính, ngân sách chưa thực sự đồng bộ, thông suốt, nhiều địa phương phản ánh ngân sách cấp xã, phường còn hạn hẹp, trong khi phải quản lý địa bàn rộng hơn trước; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động của chính quyền hai cấp còn có bất cập, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin; công tác tuyên truyền, phổ biến về mô hình chính quyền địa phương hai cấp cần làm tốt hơn nữa./.

 

MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP Ở VIỆT NAM ĐÃ ĐI VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN THỰC

                                                                                                        Nhân Trần

 Từ ngày 01/7/2025 cả nước sẽ chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây không những sự thay đổi về mặt tổ chức hành chính mà còn là một cuộc cải cách thể chế sâu sắc và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử quản trị nhà nước hiện đại ở Việt Nam. Với việc bỏ cấp huyện, mô hình mới mở ra một thời kỳ mới trong điều hành và tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn hơn, hiệu lực hơn và gần dân hơn. Đằng sau quyết định mang tính lịch sử này là một tầm nhìn cải cách mạnh mẽ, một khát vọng kiến tạo nền hành chính phục vụ và một niềm tin đây là đòn bẩy chiến lược để thúc đẩy phát triển bền vững.

Trong suốt nhiều thập niên qua, mô hình ba cấp hành chính (tỉnh - huyện - xã) thực hiện trọn vẹn sứ mệnh lịch sử của mình. Trong bối cảnh mới mô hình này đã trở nên cồng kềnh, phân tán và thiếu rõ ràng về trách nhiệm. Việc bỏ cấp huyện là một bước đi táo bạo, thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn trong việc xây dựng bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả hơn; đồng thời, giảm bớt tầng nấc trung gian, đồng nghĩa với việc rút ngắn khoảng cách giữa người dân và người ra quyết định, tăng tốc độ xử lý công việc, giảm chi phí hành chính, nâng cao hiệu lực giám sát và trách nhiệm giải trình. Mô hình chính quyền hai cấp đặt cấp xã vào trung tâm công tác quản trị địa phương. Từ một cấp vốn chỉ quen “chấp hành” và “chờ chỉ đạo”, nay chính quyền cấp xã được giao quyền tổ chức thực hiện và trực tiếp ra quyết định trên nhiều lĩnh vực trên địa bàn, dịch vụ công, địa chính, dân cư, hộ tịch, quản lý xây dựng, môi trường, an sinh xã hội. Chính quyền xã, phường giờ đây không còn là “cánh tay nối dài” đơn thuần, mà thực sự trở thành “đầu não tại chỗ” với trách nhiệm vận hành bộ máy, thực hiện chính sách và giải trình trước người dân. 

Bất kỳ cải cách thể chế nào cũng đều hướng đến mục tiêu làm cho đời sống người dân tốt lên và chính người dân chứ không ai khác là những người đặt nhiều kỳ vọng nhất vào mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nhân dân mong muốn các thủ tục hành chính sẽ được giải quyết nhanh hơn, ít tầng nấc hơn; cơ quan công quyền sẽ trả lời rõ ràng, chịu trách nhiệm trực tiếp, thay vì vòng vo hoặc né tránh. Những khoản chi tiêu và đầu tư công sẽ trở nên minh bạch hơn và có cơ chế giám sát rõ ràng hơn. Tiếng nói của người dân sẽ được tiếp nhận và phản hồi thực chất hơn, không còn bị “đẩy lên, chuyển xuống” một cách lòng vòng như trước. Doanh nghiệp cũng trông đợi rất nhiều vào mô hình mới, nhất là môi trường hành chính đơn giản, minh bạch, không còn cơ chế “xin cho”, đặc biệt trong các thủ tục liên quan đến đất đai, xây dựng, đăng ký kinh doanh, đầu tư quy mô nhỏ tại địa phương. Về phía chuyên gia, trí thức và cán bộ hành chính, mô hình mới mở ra cơ hội để áp dụng các tư duy và phương pháp quản trị hiện đại, chuyển từ “quản lý con người” sang “quản lý công việc và kết quả đầu ra”, từ xử lý sự vụ sang tổ chức công vụ một cách chuyên nghiệp và khoa học hơn. Những kỳ vọng ấy không chỉ phản ánh nhu cầu cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền, mà còn thể hiện khát vọng rất chính đáng về một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại và thực sự phục vụ Nhân dân. Đó chính là động lực mạnh mẽ để cải cách thể chế; không dừng lại ở việc tổ chức lại bộ máy mà phải đi đến tận đích là thay đổi cách vận hành, cách phục vụ và cách tiếp cận người dân.

Dù kỳ vọng là rất lớn nhưng cũng cần nhìn thẳng vào những thách thức không nhỏ mà mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang và sẽ phải đối mặt trong quá trình triển khai thực tế. Trước hết là vấn đề năng lực cán bộ, nhất là ở cấp xã, phường. Không ít cán bộ trước đây chỉ quen xử lý các công việc hành chính thuần túy nay phải chuyển sang vai trò điều hành hoạt động, quản lý ngân sách, giải quyết các vấn đề xã hội. Những nhiệm vụ ấy không chỉ đòi hỏi trình độ chuyên môn mà còn cần kỹ năng quản lý, tư duy hệ thống và bản lĩnh chính trị. Việc chưa được đào tạo bài bản hoặc thiếu trải nghiệm thực tiễn có thể khiến nhiều cán bộ lúng túng, thậm chí bị động trước yêu cầu mới. Thách thức thứ hai là tăng cường nguồn lực cho cấp xã. Phân quyền mà không đi kèm với phân bổ nguồn lực thì quyền năng sẽ bị hạn chế. Để chính quyền cấp xã có thể thực sự gánh vác được công việc trên địa bàn cần nghiên cứu, sớm điều chỉnh lại cơ chế phân cấp ngân sách, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và bổ sung nhân lực. Một thách thức khác đến từ tâm lý e dè, ngại va chạm, sợ sai ở một bộ phận cán bộ, công chức. Cán bộ ở cấp gần dân nhất đồng thời cũng là cấp chịu áp lực xã hội nhiều nhất từ dư luận, truyền thông, thanh tra, kiểm tra. Nếu không có cơ chế bảo vệ hợp lý thì việc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm sẽ rất khó thành hiện thực. Cần có cơ chế để nỗi sợ không lấn át tinh thần cải cách, để bộ phận cán bộ này không rơi vào trạng thái làm việc cầm chừng, an toàn, hình thức. Những thách thức trên không thể xem nhẹ cần được nhận diện rõ ràng và thẳng thắn giải quyết để tìm ra giải pháp khả thi để mô chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động thực chất, hiệu quả, bền vững./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA NHỮNG KẺ PHẢN ĐỘNG

HSA

    Sự hi sinh của các anh để lại niềm tiếc thương vô hạn. Đảng ta mất đi những đảng viên trung kiên; Quân đội mất đi những chiến sĩ ưu tú tận trung với Đảng, tận hiếu với dân; địa phương mất đi những cán bộ nòng cốt, năng lực, trách nhiệm; các gia đình mất đi những người trụ cột kính yêu; đồng chí, đồng đội và bạn bè mất đi những người bạn, đồng đội chân tình, quý mến. Các gia đình, họ tộc mất đi một người con hiếu thảo, khiêm nhường, một người anh, người em quý mến; các chị mất đi người chồng thân thương, nghĩa tình, thủy chung, sâu sắc; các cháu mất đi người cha mẫu mực; làng xóm, khu phố, quê hương mất đi một công dân tiêu biểu, tâm huyết; bạn bè thân hữu mất đi một người bạn thân thiết, trọn nghĩa, vẹn tình. Sự hy sinh của các anh đã minh chứng cho truyền thống trung với nước, hiếu với dân, không sợ nguy hiểm, sẵn sàng hy sinh tính mạng, vì hạnh phúc của nhân dân, vì đồng chí, đồng đội cao cả, vì công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thế nhưng, trên các trang mạng, các blog của bọn phản động đã táng tận lương tâm khi đăng tải những bài viết, với nội dung nghi ngờ, mỉa mai, bôi nhọ sự hy sinh anh dũng của các cán bộ, chiến sĩ gặp nạn trên đường thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn. Chúng đặt ra nhiều câu hỏi về sự chân thật, lý do vì sao 13 cán bộ lại trèo đèo lội suối vào chốn ấy: “Theo lẽ thường, các cán bộ đảng- nhà nước và các sĩ quan cấp tá trở lên đã rất sợ chết, không dám để tay chân dính mưa hay bùn đất, nói gì đến chuyện cả đàn kéo nhau đi vào rừng mưa đang sạt lở” (?!!). Một sự bịa đặt, vu khống rất trắng trợn. Có lẽ chỉ có những kẻ chuyên “liếm gót giày”, tay sai cho bọn phá nước, hại dân mới đưa ra cái nhìn ấu trĩ, thiển cận như thế. Rồi chúng hả hê trước sự hy sinh cao cả ấy, cho rằng “rất đáng đời” (?!!). Một sự khốn nạn đến tận cùng của sự khốn nạn.

Giữa lúc mưa lũ hiểm nguy, đi lại vô cùng khó khăn, gian khổ, giữa vùng tâm dịch tất cả đều có thể đe dọa tính mạng bất cứ lúc nào mà cán bộ, chiến sĩ vẫn quyết tâm thực hiện nhiệm vụ, dù phải hy sinh tính mạng của mình cũng không chùn bước. Bởi lẽ, với trách nhiệm của người đảng viên, người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Cứu giúp nhân dân là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của “Bộ đội Cụ Hồ”. Với cán bộ, chiến sĩ quân đội, cứu giúp nhân dân không chỉ là nhiệm vụ đơn thuần, mà là mệnh lệnh từ trái tim. Chính mệnh lệnh trái tim đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ đạp bằng mọi hiểm nguy, gian khó để có mặt cứu giúp nhân dân ở những tuyến đầu chống lũ và nơi tâm dịch.

Khi thiên tai, bão lũ đổ tai ương xuống dải đất miền Trung hay Tây bắc ruột thịt không chỉ tàn phá của cải vật chất mà còn cướp đi nhiều sinh mạng người dân hay những tâm dịch nổ ra. Tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội đều nhận rõ trách nhiệm của mình phải tiên phong trong việc cùng cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng giúp nhân dân qua cơn hoạn nạn. Vì thế, dù ai cũng đớn đau, thương tiếc khi biết tin đồng chí, đồng đội mình hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu dân; ai cũng nghẹn lòng mỗi khi tìm thêm được thi thể của đồng đội trong bùn đất lấp vùi; ai cũng biết khi mình thực hiện nhiệm vụ cũng có thể gặp hiểm nguy, hy sinh như thế; nhưng tuyệt nhiên không cán bộ, chiến sĩ nào vì thế mà chùn lòng quyết tâm, thậm chí còn ngược lại!

Vậy mà, những kẻ phản động, táng tận lương tâm đã xuyên tạc, xúc phạm sự hy sinh cao cả của những cán bộ, chiến sỹ, đi ngược lại với truyền thống dân tộc, lợi ích của nhân dân. Đó là nhưng kẻ vo ơn bạc nhược không có lương tri, tình người. điều đó cho thấy chúng ta cần cảnh giác với mọi thông tin xuyên tác cảu các thế lực thù địch trên không gian mạng thời gian qua. Qua bài viết chỉ là một ví dụ minh chứng cho thấy sự xuyên tác của các thế lực thù địch là vô cùng xảo trá./.