Thứ Ba, 19 tháng 8, 2025

 

QUỐC KHÁNH 2/9 – DÒNG CHẢY HIỆN ĐẠI

Trịnh Danh Liêm

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một ngày trọng đại nhất. Tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Sự kiện này không chỉ chấm dứt hơn 80 năm ách đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm phong kiến, mà còn là bản lề, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên của độc lập, tự do và phát triển.

1. Dấu ấn lịch sử: Sự tiếp nối của ý chí độc lập ngàn đời

Ngày 2/9 không phải là một sự kiện đơn lẻ, mà là kết quả tất yếu của một quá trình đấu tranh trường kỳ, gian khổ của bao thế hệ người Việt. Từ các cuộc khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ 19 như Cần Vương, Yên Thế, đến những phong trào đấu tranh sôi nổi đầu thế kỷ 20, tất cả đều thể hiện khát vọng độc lập, tự do mãnh liệt của dân tộc.

Tuy nhiên, phải đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo, với sự xuất hiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng mới được tổ chức một cách khoa học, hiệu quả và có đường lối đúng đắn. Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định một cách rõ ràng sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn bằng việc trích dẫn những câu bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[1]. Bằng cách này, Người đã khéo léo đặt vấn đề độc lập của Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc phổ quát của nhân loại, thể hiện tầm vóc tư tưởng vĩ đại của một nhà lãnh đạo kiệt xuất.

Sau đó, Tuyên ngôn Độc lập đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ, khẳng định rằng: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”[2]. Đây là một sự khẳng định mạnh mẽ về việc nhân dân Việt Nam đã tự mình giành lấy độc lập, tự do, chứ không phải do bất kỳ một thế lực nào ban cho.

2. Tiền đề cho kỷ nguyên vươn mình

Ngày 2/9/1945 không chỉ là sự kiện kết thúc một giai đoạn lịch sử, mà còn là khởi điểm của một kỷ nguyên mới, đầy thách thức nhưng cũng tràn đầy hy vọng. Từ đây, Việt Nam chính thức bước vào một cuộc hành trình mới: xây dựng và bảo vệ đất nước độc lập, tự do. Với bản Tuyên ngôn Độc lập, Việt Nam đã chính thức tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để chúng ta đấu tranh chống lại mọi âm mưu tái chiếm của thực dân, đế quốc. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập đã tạo ra một vị thế mới cho Việt Nam trên bản đồ chính trị thế giới. Chúng ta không còn là một thuộc địa, mà là một quốc gia độc lập, bình đẳng với các dân tộc khác.

Bản Tuyên ngôn Độc lập và sự kiện 2/9 đã hun đúc, bồi đắp thêm tinh thần yêu nước, ý chí tự cường của toàn dân tộc. Kể từ thời điểm đó, người dân Việt Nam đã ý thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Tinh thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”[3] đã trở thành động lực to lớn, giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức trong các cuộc kháng chiến sau này. Chính tinh thần này đã giúp chúng ta làm nên những chiến thắng vĩ đại như Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Sau khi đất nước thống nhất, ngày 2/9/1945 vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng, là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Từ một quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã nỗ lực không ngừng để vươn lên. Công cuộc Đổi mới năm 1986 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới, đưa Việt Nam từ một nước nghèo, lạc hậu trở thành một nền kinh tế năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Những thành tựu kinh tế - xã hội mà chúng ta đạt được hôm nay, từ việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đến việc cải thiện đời sống nhân dân, đều bắt nguồn từ nền tảng vững chắc của độc lập, tự do mà ngày 2/9 đã mang lại. Nếu không có độc lập, không có tự do, thì mọi sự phát triển đều chỉ là ảo vọng.

3. Sức sống của ngày 2/9 trong dòng chảy hiện đại

Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, độc lập, vai trò và ý nghĩa của ngày 2/9 vẫn không hề mai một. Ngày này nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam về giá trị của độc lập, tự do, về công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cha anh đi trước. Chúng ta vẫn cần tiếp tục phát huy tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập, tinh thần tự lực, tự cường để đối phó với những thách thức mới. Đó là thách thức về hội nhập quốc tế, về bảo vệ chủ quyền biển đảo, về phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường.

Ngày Quốc khánh 2/9 không chỉ là một ngày lễ, mà còn là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[4]. Lời thề thiêng liêng ấy vẫn còn nguyên giá trị, thôi thúc mỗi người dân Việt Nam nỗ lực không ngừng để xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong ước./.

 



[1]  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 4, tr. 3

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 4, tr. 5

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 4, tr. 6

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tập 4, tr. 6

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét