Thứ Tư, 28 tháng 11, 2018


PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ”
TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN HIỆN NAY

Trước sự biến động của tình hình chính trị thế giới, khu vực và trong nước đặc biệt là âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay đã làm cho không ít cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân lúng túng trong nhận diện và đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa”. Thậm chí tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, từ đó làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đòng thời đó cũng là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, nội dung quan trọng hàng đầu trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và nhân dân ở nước ta hiện nay là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vì Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội ta, là cơ sở lý luận và phương pháp luận của Đảng ta trong xác định chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược cách mạng, trong xem xét, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình lãnh đạo toàn xã hội.
Tăng cường giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là nội dung đặc biệt quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã xác định. Bởi vì chỉ có trên cơ sở nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thì cán bộ, đảng viên, nhân dân mới củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, vào tương lai, tiền đồ của đất nước, không bị mắc mưu của các thế lực thù địch, không bị cuốn theo những nhận thức, quan điểm lệch lạc, sai trái của kẻ thù.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về tình hình thế giới, khu vực, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng. Bởi vì, hiện nay diễn biến nhiều mặt hết sức phức tạp, mau lẹ, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều khi rất khó phân biệt đúng - sai, phải - trái, chính nghĩa và phi nghĩa. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, lợi dụng sự kém hiểu biết của nhân dân để tung ra những luận điệu xuyên tạc gây hoang mang về nhận thức, tư tưởng, niềm tin của nhân dân. Vì vậy phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là những nội dung cơ bản trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 29 biểu hiện của sự uy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng. Từ đó củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng, khắc phục những biểu hiện dao động,mơ hồ, ngả nghiêng trước diễn biến của tình hình.
Bên cạnh những vấn đề nêu trên phải tích cực phát hiện, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, văn hóa- xã hội… làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân đều hiểu rõ về bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Nâng cao sức đề kháng, không mắc mưu kẻ địch, dẫn đến có những nhận thức sai trái, lệch lạc, hoặc bị sa ngã, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Làm tốt việc đấu tranh, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chính là để nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân.
TV



LỢI DỤNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ
XUYÊN TẠC ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Nhằm phủ nhận, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam kỳ họp thứ 6 QH khóa 14 thông qua Luật phòng chống tham nhũng, thời gian qua thông qua một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch tuyên truyền nhiều luận điệu sai trái thù địch.
1. Tuyên truyền luận điệu xuyên tạc nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam. Lợi dụng tình hình tham nhũng ở Việt Nam các thế lực thù địch đã nham hiểm gắn tham nhũng với chính trị, cho rằng “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”. Từ đó chúng đưa ra kết luận ở Việt Nam còn chế độ công hữu, chế độ độc đảng thì không chống được tham nhũng. Đây là luận điệu sai trái, bởi tham nhũng là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước; sự quản lý kinh tế - xã hội lỏng lẻo sẽ tạo ra sơ hở cho các hành vi tiêu cực nảy sinh, trong đó có tham nhũng. Thực tiễn cho thấy tham nhũng là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia thực hiện chế độ "đa nguyên, đa đảng". Trong các cuộc đàm phán về Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc, người ta đều khẳng định là nơi nào hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, các quy trình ra quyết định và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn rườm rà, lương công chức còn thấp,… thì ở đó tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ, đồng thời số vụ có tính chất xuyên quốc gia cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt là, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra những tiền đề khách quan làm cho tham nhũng phát triển. Như vậy, tham nhũng là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước, không phải là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu, chuyên chế độc đảng. Các thế lực thù địch cố tình đưa ra luận điệu sai trái xuyên tạc nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2. Xuyên tạc đấu tranh chống tham nhũng là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, trong đó điển hình như khởi tố, phát lệnh truy nã quốc tế đối với Trịnh Xuân Thanh và kỷ luật Đảng, truy tố theo pháp luật đối với nhiều cá nhân có liên quan, kể cả cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước.
Việc chống tham nhũng ở Việt Nam đã và đang được dư luận trong và ngoài nước hết sức đồng tình ủng hộ. Trước thực tiễn này, các thế lực thù địch thay đổi luận điệu. Trước đây chúng rêu rao, tuyên truyền luận điệu phê phán tham nhũng, cho rằng Việt Nam không chống được tham nhũng, thì nay trước quyết tâm và thành tựu chống tham nhũng ở Việt Nam chúng lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Trong nhiều bài viết trên blog cá nhân, trang mạng xã hội các thế lực thù địch dựng đứng lên câu chuyện đấu đá nội bộ, phe nhóm trong Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước, trong và sau Đại hội lần thứ XII hết sức ly kỳ, hơn cả tiểu thuyết kiếm hiệp, trinh thám… để câu kéo người đọc, tạo sự chú ý của dư luận.
Không chỉ vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở cấp Trung ương, các thế lực thù địch còn vẽ ra cảnh đấu đá nội bộ ở các địa phương, dựng lên cái gọi là “cuộc chiến chiếm lĩnh quyền thống trị”. Sự xuyên tạc không dừng lại ở đó, để cho ly kỳ, hấp dẫn hơn, chúng còn bịa ra những lực lượng, cá nhân được hưởng lợi từ sự đấu đá nội bộ trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự bịa ra những lực lượng, cá nhân này cũng không nằm ngoài âm mưu, thủ đoạn chia rẽ nội bộ, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng.
3. Lợi dụng chống tham nhũng để bôi nhọ, hạ thấp uy tín cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. Bôi nhọ, hạ thấp uy tín những người đứng đầu trong bộ máy Đảng, Nhà nước ta là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế thù địch. Thời gian qua, lợi dụng chống tham nhũng ở Việt Nam chúng tuyên truyền nhiều luận điệu sai trái nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, trong đó tập trung công kích Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Chúng luôn tìm cách xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu chủ trương trong đấu tranh chống tham nhũng sẽ “không có vùng cấm”, thì chúng xuyên tạc rằng đó là những toan tính của ông để lấy lại danh dự đã mất. Tinh vi hơn, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng chỉ là sự củng cố quyền lực, chiếc ghế của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Vừa qua, trên blog Danlambao đã đăng tải bài viết của Hải Âu với tiêu đề: “Cuộc chiến khốc liệt trong cái lò nhà sản”. Bài viết này xuyên tạc ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ngày 30 tháng 8 năm 2018, cho đó là thông điệp gửi đến tất cả đảng viên cộng sản rằng ông Nguyễn Phú Trọng là người nắm giữ quyền lực cao nhất và không cho phép bất cứ đối tượng nào gây nguy hại đến mình. Bài viết này còn đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng, để giữ bằng được chiếc ghế Tổng Bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng quyết thực hiện kế hoạch “đập chuột” dẫu cho vỡ bình. Thâm độc hơn, bài viết này còn trắng trợn vu khống rằng, để giữ vững chiếc ghế của mình Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ chống tham nhũng mà còn chống cả những đối tượng gây hại đến vị thế, chiếc ghế Tổng Bí thư của mình.
Tóm lại, trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tung ra những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Việt Nam nhằm bôi nhọ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước ta, kích động gây chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì vậy, chúng ta phải đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của chúng./.
MẶT TRỜI

















                                


MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” VÀ “TỰ CHUYỂN HOÁ” HIỆN NAY
Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể về "diễn biến hòa bình" “ tự chuyển hóa” làm cho quần chúng nhân dân nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Vì vậy, cuộc đấu tranh này dành được thắng lợi hay không phụ thuộc vào lực lượng cách mạng có nhận thức đúng và đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình hay không. Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, trên cơ sở nền tri thức được giáo dục, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm cao và niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc, làm cho họ không bị thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Đồng thời, mỗi người sẽ tự chủ động đoàn kết chặt chẽ trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình.
Hai là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” “tự chuyển hóa” Trước hết, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng cần phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình trong thực hiện các nhiệm vụ được giao và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, cần phát huy tốt vai trò của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách được giao nhiệm vụ phòng, chống diễn biến hòa bình. Duy trì thường xuyên hoạt động của ban chỉ đạo các cấp; củng cố, kiện toàn và nâng cao trách nhiệm của thành viên các ban chỉ đạo, nhất là Ban chỉ đạo Đề án 609 của Trung ương. Làm tốt công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình; đồng thời, phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong đề ra các chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể.
Ba là, tăng cường phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” “tự chuyển hóa”.Các tổ chức, các lực lượng có sự chỉ đạo chung thống nhất sẽ tạo nên sự thống nhất trong hành động, tạo nên sức mạnh của một khối thống nhất đủ sức để đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tác. Do đó,  đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cần phải được tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt công tác và phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phân công trách nhiệm hợp lý, bảo đảm sự phối hợp giữa các lực lượng một cách hợp lý nhất. Có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các Ban Chỉ đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các bộ phận trong từng ban chỉ đạo được đồng bộ, nhịp nhàng. Cần có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khăc phục những sự bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Bốn là, kết hợp giữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần giữ vững an ninh quốc gia, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN cần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với ngăn chặn có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo thường xuyên, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội. Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05/CT-TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thường xuyên đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Có chủ trương đúng trong việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Mặt khác, những người tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng cần được quan tâm thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đập tan các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Có chế độ thù lao tương xứng cho những công trình, chuyên đề chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" để thu hút những người tâm huyết tham gia viết bài đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay./.
MẶT  TRỜI



VẬN DỤNG KINH NGHIỆM LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀO PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG NGÀY NAY

1.Người xưa, chuyện xưa về phòng, chống tham nhũng
Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009 - 1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của giới quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. 
Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ Luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc. Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì được nhận thưởng bằng hiện vật thu được”.
Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông đã xây dựng và thực thi Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau. Bộ Luật có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng. Trong đó, có quy định: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức; thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ); “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ” - “lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…); “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén, hối lộ thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”. 
Dưới triều Lê, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch cũng được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu/ nghèo, sang/ hèn, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm được đất sống. Ngoài ra, còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể, như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa, dinh thự tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi, dễ dẫn đến cấu kết bè cánh, hội thuyền.
Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi Bộ Luật Gia Long (ban hành năm 1815). Trong số gần 400 điều của Bộ Luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham ô, nhũng nhiễu, trong đó, nhiều điều rất hà khắc, như: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ; “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội rất nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hóa, vật tư, tiền công thì tùy theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hóa, vật tư phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.
Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc, kiên quyết với tội tham nhũng và nạn tham nhũng. Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt.
Một số điều luật được các triều đại phong kiến ưa dùng là Luật Hồi tỵ. Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật Hồi tỵ. Luật quy định khi sắp xếp, bố trí các quan lại, không để họ nhậm chức ở quê nội, vì quan hệ họ tộc, láng giềng dễ nảy nở tình riêng; không bố trí hành chức cả ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày. Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án, trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người ngay, làm sai lệch cán cân công lý. 
Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy, đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần. Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời nhà Mạc dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) nhiều lần vạch mặt bọn quan tham trước triều đình; can gián nhà vua những việc làm không đúng…
Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, làm rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có người từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng; kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống dưới; không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.


 2.Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”
Ngay từ thời dựng Đảng, mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (năm 1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao “Tư cách một người cách mệnh”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Bất cứ hành vi lấy “của công” làm “của tư” nào cũng đều bị Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô, cần phải nghiêm trị. Ngày 17-3-1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950 khi Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình, thì Hồ Chủ tịch sau khi cân nhắc kỹ đã quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương phép nước, làm hư hỏng cán bộ... Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham nhũng) khó khăn, phức tạp hơn so với đánh giặc ngoại xâm. Nhân kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (03-02-1930 - 03-02-1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nêu: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng, trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư...”. 
3.Công cuộc phòng, chống tham nhũng hôm nay 
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu to lớn “có ý nghĩa lịch sử”, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí đã mắc phải một số yếu kém, khuyết điểm, trong đó, nạn tham nhũng có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp, nặng nề hơn. Để khắc phục tình trạng này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đạo luật cho công tác phòng, chống tham nhũng. Ngày 29-11-2005, Luật Phòng, chống tham nhũng được ban hành. Từ sau Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2014; thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, Nghị quyết Đại hội XI và Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp lớn về phòng, chống tham nhũng. Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07-12-2015, về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI xác định “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nhấn mạnh, “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Từ năm 2014 đến nay, Quốc hội đã xây dựng, bổ sung, sửa đổi và thông qua 94 luật, pháp lệnh, 88 nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, Quốc hội đã thông qua 36 luật, pháp lệnh, 45 nghị quyết, dự án Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi)… đang được tích cực chuẩn bị để trình Quốc hội. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành 694 nghị định, 518 nghị quyết, 281 quyết định; riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay đã ban hành 429 nghị định, 327 nghị quyết, 134 quyết định tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng. 
Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, làm rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có người từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng; kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống dưới; không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tổ chức 31 đoàn kiểm tra, giám sát việc thanh tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ tham nhũng tại 63 tỉnh, thành phố. Qua đó, kiến nghị chỉ đạo xử lý 452 vụ việc, vụ án tham nhũng.
Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra toàn diện nhiều dự án lớn; rà soát việc thanh tra 07 dự án gây thất thoát, thua lỗ nặng, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm. Từ năm 2014 đến nay, đã triển khai 29.429 cuộc thanh tra hành chính, 872.941 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua đó, đã kiến nghị thu hồi 188.476 tỷ đồng, hơn 12.000 ha đất, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 338 vụ/436 đối tượng; kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hơn 300 văn bản pháp quy không còn phù hợp. 
Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán 829 đơn vị đầu mối; kiến nghị thu hồi cho ngân sách nhà nước 74.897 tỷ đồng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ 522 văn bản của các cơ quan nhà nước; chuyển 08 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật sang cơ quan có thẩm quyền để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. 
Từ năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, làm rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có người từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng; kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống dưới; không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta cũng bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Đó là tình trạng thiếu quyết liệt, thiếu bền bỉ, thiếu toàn diện và thiếu đồng bộ; là “trên nóng dưới lạnh”; việc phát hiện và xử lý tham nhũng chưa đạt yêu cầu; công tác tự kiểm tra, tự phát hiện còn yếu; tình trạng tham nhũng ở các lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, ngân hàng, tài chính, thuế, hải quan, hành chính công, dịch vụ công… còn khá phổ biến. Nguyên nhân của tình trạng vừa nêu là do nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức sâu sắc nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của nạn tham nhũng ở nơi mình lãnh đạo, quản lý; thiếu gương mẫu, thiếu quyết liệt, thậm chí sa vào tham nhũng hoặc tiếp tay, làm ngơ cho nạn tham nhũng. Thể chế, chính sách, pháp luật trên một số lĩnh vực còn bất cập, thiếu đồng bộ; chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát quyền lực và chế tài thật mạnh mẽ để xử lý tội tham nhũng, nạn tham nhũng.
Để tiếp tục phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém, cần tập trung vào một số nhiệm vụ.
Một là, tiếp tục quán triệt và tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, Kết luận 21 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Kết luận số 10 của Bộ Chính trị khóa XII, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng; không “làm chậm” sự phát triển của đất nước, mà ngược lại, làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự cho bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân; tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, cần tập trung cao cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo; gắn công tác phòng, chống tham nhũng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn đảng. Khẩn trương cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng trong nội bộ Đảng, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả; hình thành hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức, liêm chính, trong sạch, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng. Xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích mạnh mẽ người đứng đầu cơ quan, đơn vị tự kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng; bảo vệ, khuyến khích người tố cáo, tích cực đấu tranh với tham nhũng.
Ba là, đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; khắc phục những sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, nhất là các lĩnh vực dễ xẩy ra tham nhũng, như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng (bao gồm cả đầu tư công và đầu tư theo hình thức BT, BOT); tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn...; các giải pháp về phòng, chống tham nhũng còn hình thức, hiệu quả thấp. Có cơ chế để kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng chính sách, pháp luật để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng ngay từ khi xây dựng chính sách. Hệ thống thể chế của Đảng và Nhà nước phải tạo ra được “một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng; một cơ chế đảm bảo để không cần tham nhũng” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công chức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ để phòng, chống tham nhũng; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Rà soát, hoàn thiện quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát quyền lực để PCTN. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn thực sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng theo nguyên tắc: Mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa”. Cùng với hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng để “nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế”, phải tăng cường giám sát việc thực thi thể chế thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử; giám sát của các cơ quan tư pháp; giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của báo chí, của nhân dân và của toàn xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng, nhằm ngăn ngừa tham nhũng chính ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Đưa công tác kiểm tra, giám sát về phòng, chống tham nhũng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, xử lý vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng vào chương trình công tác hằng năm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Khi đã xẩy ra tham nhũng thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ.
Năm là, hoàn thiện quy định và thực hiện có hiệu quả thực tế việc kiểm soát tài sản, thu nhập của các đối tượng phải kê khai, nhất là người có chức vụ, quyền hạn. Hoàn thiện quy định và hệ thống cơ sở hạ tầng để chuyển mạnh và tiến tới thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Sáu là, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng; từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng./.
BÀN LUẬN


THỦ ĐOẠN CHỦ YẾU CỦA “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”
TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG
1. Phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Các thế lực phản động vẫn ra rả đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn vì chúng cho rằng, đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Chúng ra sức lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết ở Liên xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cho rằng chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch sử; rằng nước ta kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là đi vào vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu. Chúng cố tình xuyên tạc: “Chủ nghĩa xã hội mà C. Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”. Hơn thế, chúng còn “chỉ dạy” Đảng ta cần phải đi theo con đường khác, theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”… Những luận điệu đó được nhắc đi, nhắc lại với cách lèo lái khác nhau, khi trắng trợn, lúc tinh vi, khi rầm rộ, lúc lặng lẽ, âm thầm, lúc thì mượn mồm của những người biến chất, “trở cờ”, “xám hối”, khi thì thô lỗ nhân danh, khoác áo những nhà chính trị sặc mùi tư sản phản động khẳng định sự “ưu việt” của xã hội tư bản. 
Khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, chúng tuyên truyền kích động, phủ nhận chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho rằng kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội như lửa với nước, không thể đồng hành, phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai… Tuy giọng điệu, cung bậc khác nhau, song chung một kiểu “mưa dầm thấm lâu”, được tung lên không gian mạng, trên internet dội vào nước ta hòng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Vì vậy, hơn lúc nào hết đòi hỏi mỗi công dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải kiên định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội - con đường đúng đắn mà chính lịch sử dân tộc và toàn thể nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đồng thuận lựa chọn từ những năm 20, 30 của thế kỷ trước. 
Sự thay thế của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa đối với hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là sự tiếp nối tất yếu trong dòng chảy phát triển của sự thay thế chế độ xã hội tiến bộ hơn đối với chế độ xã hội lỗi thời, lạc hậu. Vấn đề này đã được khẳng định bằng chính quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện, từ chế độ công xã nguyên thủy đến cộng sản chủ nghĩa. Đó là quy luật của sự phát triển. Nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng đã chỉ ra rằng, xét đến cùng, xã hội sau muốn chiến thắng xã hội trước, trước hết phải bằng năng suất lao động của nó. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp. Nay chúng ta đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong thực tế năng suất lao động (tức là trình độ của lực lượng sản xuất) còn thấp hơn nhiều nước tư bản chủ nghĩa, nhất là các nước tư bản phát triển. Vậy khi nào có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Điều đó tùy thuộc vào sự đồng thuận, dốc sức, dốc lòng của toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển cùng với quan hệ sản xuất ngày càng ưu việt mà chúng ta đang quyết tâm triển khai đồng bộ. Thực tiễn suốt tiến trình cách mạng Việt Nam 88 năm qua dưới ngọn cờ của Đảng đã và đang minh chứng cho sự lựa chọn con đường đúng đắn này và cho sự thắng lợi của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” và thời đại, thể hiện rõ khát vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam: dân tộc độc lập, nhân dân sống trong hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. 
2. Phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Chúng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, hoặc chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp của thế kỷ XX, còn hiện nay, khi bước sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, chủ nghĩa C. Mác đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua. Từ đó, chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, hoặc chủ nghĩa Mác - Lênin là sản phẩm ngoại nhập của phương Tây, không thích hợp với các nước kinh tế lạc hậu như Việt Nam. Việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, xa lạ với truyền thống dân tộc.
Xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người, “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”… chính là chúng muốn phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ định sự vận dụng sáng tạo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của Việt Nam. Chúng muốn đánh sập nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C. Mác và Ph. Ăng-ghen xây dựng, V. I. Lênin bảo vệ và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, phát triển trong điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, kinh tế chính trị Mác - Lê-nin, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc các vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin (như học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, thời đại ngày nay và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết giá trị thặng dư)... Đồng thời tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật công cuộc đổi mới nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; phát tán tài liệu, ấn phẩm xuyên tạc cuộc đời hoạt động và tấm gương đạo đức của Người là logic tất yếu của các thế lực phản động, kẻ xấu thuộc về thế lực có tư tưởng chính trị đối lập với tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa. Giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu giương cao ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Vì thế, muốn xây dựng một xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì chỉ có thể đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt lõi. Bảo vệ sự trong sáng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
3. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Các thế lực phản động đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng luận điệu: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Chúng “lập luận” rằng: Do “vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam” nên “song song với những công trạng họ lập được, Đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên hậu quả thảm khốc cho cả nước”; “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có khả năng quản trị đất nước”, “thể chế độc đảng toàn trị” nên “xã hội không có tự do, dân chủ”… Chúng lấy quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; Nhà nước pháp quyền với thiết chế tam quyền phân lập; nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân rồi vu cáo Đảng ta là “độc tài, độc đoán, mất dân chủ”! Chúng lý sự rằng, “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc Nhà nước pháp quyền”, “việc Đảng nắm quyền lãnh đạo đất nước là hành vi tiếm quyền, chiếm đoạt thành quả của nhân dân”, “đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam nên chấp nhận đối lập”... Cùng với đó, ở trong nước, một số kẻ nhân danh “tâm nguyện vì nước, vì dân” đưa yêu cầu (thực chất là yêu sách) đòi Đảng Cộng sản Việt Nam “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”… Và cuối cùng chúng khẳng định rằng, Đảng “không được sự ủng hộ của nhân dân”… nên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo đất nước.
Rõ ràng, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi chăng nữa, bản chất và mục đích thật sự của những luận điệu đó đều phục vụ âm mưu của các thế lực phản động, cơ hội chính trị nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”.
Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nghiên cứu lịch sử đương đại, C. Mác và Ph. Ăng-ghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng chính trị cơ bản đó trong điều kiện mới, V. I. Lênin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Nguyễn Ái Quốc khi đi tìm lời giải cho bài toán cách mạng Việt Nam đã khẳng định: Cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh. Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyệt đối khẳng định sự cần thiết và vai trò tiên quyết của nhân tố Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền. 
Về phương diện thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong hơn 30 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
`Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là phạm sai lầm từ nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa cơ hội nổi dậy “cướp chính quyền”. Vấn đề cơ bản, quan trọng lúc này là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, bảo vệ Đảng, để Đảng luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó.
 Đại hội XII của Đảng đã xác định cụ thể: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”. Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đó vừa là sự kiên định lập trường chính trị đúng đắn, vừa biện chứng khách quan khoa học tư tưởng chính trị của chúng ta hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân trong xã hội có sự giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì không chỉ mỗi người mà toàn xã hội sẽ có tư tưởng chính trị vững vàng, tự ý thức trong việc nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng xã hội, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đại hội XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả”. Đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng chính trị. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng trước hết phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị.
  Lập trường chính trị của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Chủ thể xây dựng và thụ hưởng thành quả của nó là nhân dân, chứ nhất thiết không thuộc về một nhóm xã hội nào khác./. 
TRUNG LẬP



GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH
VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC VÀ ĐẠO ĐỨC

Một là, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng. Thứ nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị, lấy nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không giáo điều, máy móc; kiên định con đường xã hội chủ nghĩa và mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phê phán những ý kiến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, xây dựng chính sách đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam. Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, phương pháp công tác tư tưởng theo hướng gắn với thực tiễn, với cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt ở từng chi bộ; tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng; nâng cao cảnh giác và tính sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng, đẩy mạnh đấu tranh chống diễn biến hòa bình, các luận điệu cơ hội, phá hoại Đảng; đẩy mạnh công tác phòng, chống suy thoái về tư tưởng, chính trị trong cán bộ, đảng viên.
Hai là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, công tác cán bộ. Kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị trên cơ sở: xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động; đánh giá đúng thực trạng, những điểm còn hạn chế, tồn tại từ mô hình tổ chức đến phương thức hoạt động; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng hoạt động của loại hình cơ sở đảng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động cơ bản của Đảng, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất…; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ từ khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài. Nâng cao chất lượng đảng viên, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên gần gũi quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
Ba là, chú trọng tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sai phạm, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Cụ thể cần tập trung vào một số vấn đề sau: Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức Đảng phải đẩy mạnh, thường xuyên, liên tục, tránh các biểu hiện hình thức trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Nghiên cứu, đổi mới hình thức giáo dục cho phù hợp. Nội dung giáo dục phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm gốc. Thứ hai, gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu gương mẫu, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, nói đi đôi với làm, cũng chính là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước khó khăn, thử thách, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thứ ba, trong tình hình cụ thể hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
TRUNG LẬP