VẬN DỤNG KINH NGHIỆM
LỊCH SỬ DÂN TỘC VÀ TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀO PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG NGÀY NAY
1.Người xưa, chuyện xưa về phòng, chống tham
nhũng
Cách đây hơn một ngàn
năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009 - 1225) đã đề ra những quy định khắt
khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công
của giới quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này
cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi
là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm.
Triều Lý cũng là nhà
nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm
1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ Luật này hiện không lưu giữ được, tuy
nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”,
thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm
khắc. Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy
định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm.
Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì được nhận thưởng
bằng hiện vật thu được”.
Đến triều Lê sơ, Lê
Thánh Tông đã xây dựng và thực thi Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao
quát nhiều lĩnh vực khác nhau. Bộ Luật có 722 điều, trong đó có trên 40 điều
liên quan đến việc phòng, chống tham nhũng. Trong đó, có quy định: các chức
quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định
thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2
bậc), hoặc bãi chức; thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở
nhiều mức độ); “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm”
hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ” - “lưu” (“lưu” là hình phạt lao
dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan
trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ,
xử trảm bêu đầu…); “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi
biếu xén, hối lộ thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả
dân”.
Dưới
triều Lê, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch cũng được đề cao. Khi
quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu/ nghèo, sang/ hèn,
chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham
quan, kẻ xấu xa khó tìm được đất sống. Ngoài ra, còn có một số quy định cần
thiết và khá cụ thể, như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với
người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm;
không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa, dinh thự tại nơi cai quản; không
được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy
trò, bạn bè làm việc cùng một nơi, dễ dẫn đến cấu kết bè cánh, hội thuyền.
Đến triều Nguyễn, bên
cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được
những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép
nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi Bộ Luật Gia Long (ban hành năm
1815). Trong số gần 400 điều của Bộ Luật này, có 79 điều quy định về các tội
liên quan đến tham ô, nhũng nhiễu, trong đó, nhiều điều rất hà khắc, như: quan
lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ;
“Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng
như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”.
Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền
công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội rất nặng. Các quan cậy thế hoặc
dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hóa, vật tư, tiền công thì
tùy theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hóa, vật tư phạt 100
trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.
Trong số các vua triều
Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc, kiên quyết với tội
tham nhũng và nạn tham nhũng. Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công
Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình
thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm
khắc, các quan tham nhũng dưới triều vua Minh Mạng đều bị tịch thu tài sản, đem
chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt.
Một số điều luật được
các triều đại phong kiến ưa dùng là Luật Hồi tỵ. Năm 1831, vua Minh Mạng cho
ban hành Luật Hồi tỵ. Luật quy định khi sắp xếp, bố trí các quan lại, không để
họ nhậm chức ở quê nội, vì quan hệ họ tộc, láng giềng dễ nảy nở tình riêng;
không bố trí hành chức cả ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi
trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày. Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua
bổ sung thêm một số điều của luật xử án, trong đó có các quy định ngăn ngừa,
loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình
trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù
dập, ức hiếp người ngay, làm sai lệch cán cân công lý.
Khi pháp luật được thực
thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái,
dù máu chảy, đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà
nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần.
Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém
đầu 7 tên gian thần. Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời nhà
Mạc dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên
Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) nhiều lần vạch mặt bọn quan tham trước triều đình;
can gián nhà vua những việc làm không đúng…
Từ
năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840
tổ chức đảng và 58.120 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị
thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra
Trung ương đã kiểm tra, làm rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi
phạm, trong đó có người từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng;
kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống
dưới; không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.
2.Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “tham ô, lãng
phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”
Ngay từ thời dựng Đảng,
mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (năm 1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao
“Tư cách một người cách mệnh”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải
làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Bất cứ hành vi lấy “của
công” làm “của tư” nào cũng đều bị Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô,
cần phải nghiêm trị. Ngày 17-3-1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô,
lãng phí: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng
chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục
trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950 khi Trần Dụ Châu,
nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi bị
tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình, thì Hồ Chủ tịch sau khi cân nhắc kỹ
đã quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do
tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về
kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với
chế độ; làm rối loạn kỷ cương phép nước, làm hư hỏng cán bộ... Người nhắc nhở,
chống loại kẻ địch này (tức nạn tham nhũng) khó khăn, phức tạp hơn so với đánh
giặc ngoại xâm. Nhân kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng (03-02-1930 -
03-02-1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân”, nêu: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô,
hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự
cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền.
“Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn
tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng,
trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và
cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư...”.
3.Công cuộc phòng, chống
tham nhũng hôm nay
Sau hơn 30 năm tiến hành
công cuộc đổi mới, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tựu to lớn “có ý nghĩa lịch sử”, chúng ta
cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí đã mắc phải một số yếu kém,
khuyết điểm, trong đó, nạn tham nhũng có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức
tạp, nặng nề hơn. Để khắc phục tình trạng này, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành
nhiều nghị quyết, chỉ thị, đạo luật cho công tác phòng, chống tham nhũng. Ngày
29-11-2005, Luật Phòng, chống tham nhũng được ban hành. Từ sau Hội nghị toàn
quốc về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2014; thực hiện Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tham nhũng, Nghị quyết Đại hội XI và Đại hội XII của Đảng tiếp tục
khẳng định quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp lớn về phòng, chống tham
nhũng. Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07-12-2015, về “Tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án
tham nhũng”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI xác định “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa
XII nhấn mạnh, “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Từ năm 2014 đến nay, Quốc hội đã xây dựng, bổ
sung, sửa đổi và thông qua 94 luật, pháp lệnh, 88 nghị quyết về các lĩnh vực
kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến
nay, Quốc hội đã thông qua 36 luật, pháp lệnh, 45 nghị quyết, dự án Luật Phòng
chống tham nhũng (sửa đổi)… đang được tích cực chuẩn bị để trình Quốc hội. Thủ
tướng Chính phủ cũng đã ban hành 694 nghị định, 518 nghị quyết, 281 quyết định;
riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay đã ban hành 429 nghị định, 327 nghị
quyết, 134 quyết định tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phòng ngừa tiêu cực, tham
nhũng.
Từ năm 2014 đến nay, cấp
ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840 tổ chức đảng và 58.120
đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham
nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, làm
rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm
trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ
luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có người từng là Ủy
viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng; kỷ luật cả cán bộ đương chức và
người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống dưới; không có ai, lĩnh vực nào
được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.
Ban Chỉ đạo Trung ương
về phòng, chống tham nhũng đã tổ chức 31 đoàn kiểm tra, giám sát việc thanh
tra, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ tham nhũng tại 63 tỉnh, thành
phố. Qua đó, kiến nghị chỉ đạo xử lý 452 vụ việc, vụ án tham nhũng.
Thanh tra Chính phủ đã
tiến hành thanh tra toàn diện nhiều dự án lớn; rà soát việc thanh tra 07 dự án
gây thất thoát, thua lỗ nặng, kéo dài, được dư luận xã hội quan tâm. Từ năm
2014 đến nay, đã triển khai 29.429 cuộc thanh tra hành chính, 872.941 cuộc thanh
tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua đó, đã kiến nghị thu hồi 188.476 tỷ đồng, hơn
12.000 ha đất, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 338 vụ/436 đối tượng; kiến
nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ hơn 300 văn bản pháp quy không còn phù
hợp.
Kiểm toán Nhà nước đã
tiến hành kiểm toán 829 đơn vị đầu mối; kiến nghị thu hồi cho ngân sách nhà
nước 74.897 tỷ đồng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ 522 văn bản
của các cơ quan nhà nước; chuyển 08 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật sang
cơ quan có thẩm quyền để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp
luật.
Từ
năm 2014 đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 840
tổ chức đảng và 58.120 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 2.720 đảng viên bị
thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái các quy định. Ủy ban Kiểm tra
Trung ương đã kiểm tra, làm rõ và kỷ luật nhiều tổ chức, cá nhân sai phạm
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi
phạm, trong đó có người từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng;
kỷ luật cả cán bộ đương chức và người đã nghỉ hưu; làm nghiêm từ trên xuống
dưới; không có ai, lĩnh vực nào được coi là “vùng cấm”, là “bất khả xâm phạm”.
Bên cạnh những kết quả
quan trọng đã đạt được, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta
cũng bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém. Đó là tình trạng thiếu quyết liệt, thiếu
bền bỉ, thiếu toàn diện và thiếu đồng bộ; là “trên nóng dưới lạnh”; việc phát
hiện và xử lý tham nhũng chưa đạt yêu cầu; công tác tự kiểm tra, tự phát hiện
còn yếu; tình trạng tham nhũng ở các lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, ngân
hàng, tài chính, thuế, hải quan, hành chính công, dịch vụ công… còn khá phổ
biến. Nguyên nhân của tình trạng vừa nêu là do nhiều cấp ủy, tổ chức đảng,
chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa nhận thức sâu sắc nguy cơ và
mức độ nghiêm trọng của nạn tham nhũng ở nơi mình lãnh đạo, quản lý; thiếu
gương mẫu, thiếu quyết liệt, thậm chí sa vào tham nhũng hoặc tiếp tay, làm ngơ
cho nạn tham nhũng. Thể chế, chính sách, pháp luật trên một số lĩnh vực còn bất
cập, thiếu đồng bộ; chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát quyền lực và chế tài
thật mạnh mẽ để xử lý tội tham nhũng, nạn tham nhũng.
Để tiếp tục phát huy kết
quả đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém, cần tập trung vào một số nhiệm vụ.
Một là, tiếp tục quán triệt và
tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng theo
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, Kết
luận 21 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Kết luận số 10 của Bộ Chính trị
khóa XII, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa
XII về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng,
chỉnh đốn Đảng. Làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ việc đẩy mạnh phòng, chống
tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán
bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám
chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng;
không “làm chậm” sự phát triển của đất nước, mà ngược lại, làm trong sạch, tạo
sức mạnh thật sự cho bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin
của nhân dân; tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi sự nghiệp
đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, các cấp ủy, tổ chức
đảng phải xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên, quan
trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài, cần tập trung cao cho công tác lãnh đạo, chỉ
đạo; gắn công tác phòng, chống tham nhũng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn
đảng. Khẩn trương cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa
XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6
khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các
cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm
vụ. Rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
phòng, chống tham nhũng trong nội bộ Đảng, bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, hiệu lực,
hiệu quả; hình thành hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối
với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo
đức, liêm chính, trong sạch, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng.
Xây dựng cơ chế bảo vệ, khuyến khích mạnh mẽ người đứng đầu cơ quan, đơn vị tự
kiểm tra, phát hiện, xử lý tham nhũng; bảo vệ, khuyến khích người tố cáo, tích
cực đấu tranh với tham nhũng.
Ba là, đẩy nhanh việc xây
dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; khắc phục những sơ hở trong
quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, nhất là các lĩnh vực dễ
xẩy ra tham nhũng, như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng (bao gồm cả
đầu tư công và đầu tư theo hình thức BT, BOT); tài chính, ngân hàng, thuế, hải
quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn...; các giải pháp về phòng, chống tham
nhũng còn hình thức, hiệu quả thấp. Có cơ chế để kiểm soát chặt chẽ việc xây
dựng chính sách, pháp luật để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”,
“sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng ngay từ khi
xây dựng chính sách. Hệ thống thể chế của Đảng và Nhà nước phải tạo ra được
“một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; một cơ chế răn đe,
trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng; một cơ chế đảm bảo để không cần
tham nhũng” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh.
Bốn là, tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, công
chức, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước; hoàn thiện,
thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ để phòng, chống tham
nhũng; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ trong tình hình mới. Rà soát, hoàn thiện quy định của Đảng và Nhà nước
về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ
luật hành chính của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm
phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai, làm nghiêm từ trên
xuống dưới.
Tăng cường và nâng cao
hiệu quả công tác kiểm soát quyền lực để PCTN. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế
giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn
thực sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng theo nguyên tắc: Mọi quyền
lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc
bằng trách nhiệm; quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng
quyền lực phải truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm. Phải tăng cường giám sát,
kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch,
đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa”. Cùng với hoàn thiện hệ thống thể chế
về kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng để “nhốt quyền lực vào trong
lồng thể chế”, phải tăng cường giám sát việc thực thi thể chế thông qua công
tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thanh tra, kiểm toán của Nhà nước; giám sát
của các cơ quan và đại biểu dân cử; giám sát của các cơ quan tư pháp; giám sát
của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của báo chí, của nhân dân
và của toàn xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với các
cơ quan, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng, nhằm ngăn ngừa tham
nhũng chính ngay trong các cơ quan chống tham nhũng. Đưa công tác kiểm tra,
giám sát về phòng, chống tham nhũng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát việc
thanh tra, xử lý vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế,
tham nhũng vào chương trình công tác hằng năm của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các
cấp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện sớm, xử lý kịp thời, nghiêm minh các
vụ việc, vụ án tham nhũng; nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng. Khi đã
xẩy ra tham nhũng thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời, đúng quy
định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, không có vùng cấm, không có đặc quyền,
không có ngoại lệ.
Năm là, hoàn thiện quy định và
thực hiện có hiệu quả thực tế việc kiểm soát tài sản, thu nhập của các đối
tượng phải kê khai, nhất là người có chức vụ, quyền hạn. Hoàn thiện quy định và
hệ thống cơ sở hạ tầng để chuyển mạnh và tiến tới thực hiện thanh toán không
dùng tiền mặt.
Sáu là, tiếp tục kiện toàn tổ
chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có
chức năng phòng, chống tham nhũng; từng bước mở rộng hoạt động phòng, chống
tham nhũng ra ngoài khu vực nhà nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc
tế về phòng, chống tham nhũng./.
BÀN LUẬN