Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

          Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam ta đã trôi qua được hơn 40 năm rồi, đây là sự kiện trọng đại của dân tộc, của đất nước, là hành trang về niềm tự hào dân tộc cho mỗi người Việt Nam yêu nước trong sự nghiệp đổi mới ngày nay… “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".  Sự thật lịch sử đã rõ ràng như vậy, nhưng gần đây lại có kẻ tiếp tục cất lên “tiếng khóc than” cho cái “thây ma” đã sụp đổ từ lâu rồi, họ cho rằng:  “Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã sử dụng quân đội để chiếm đất của cái gọi là “chính thể” Việt Nam cộng hòa”.
          Luận điệu này không hề mới chút nào, thậm chí nó còn là một thứ cũ rich có từ hơn nửa thế kỷ trước, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng đã ra rả tuyên truyền lừa bịp mị dân và đánh lừa dư luận quốc tế nhưng bị vạch trần lâu rồi, thế mà bây giờ lại có kẻ đưa ra điều này cứ nghĩ mình am hiểu lịch sử, thì thật là nực cười, thật ra những kẻ này chẳng có chút hiểu biết gì về lịch sử Việt Nam, nhận xét như vậy vẫn còn là lịch sự, còn nói thẳng toẹt ra là đó là luận điệu của những kẻ phản động, thù địch, của những kẻ đang tâm phủ nhận lịch sử, truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc ta.
          Mặc dầu vậy, một bộ phận nhỏ người Việt kể cả trong nước và đặc biệt là ngoài nước có thể do chưa hiểu lịch sử hoặc cũng có thể do bị thế lực đen tối nào đó lừa bịp mà vẫn ngộ nhận tin rằng: cái chính thể mang tên “Việt Nam Cộng hòa” là hoàn toàn hợp pháp và sự sụp đổ của chế độ đó là do sự “cưỡng chiếm” của quân đội từ miền Bắc vào.
          Vậy sự thật lịch sử về vấn đề này là như thế nào, chúng ta hãy cùng dựng lại bức tranh chân thực nhất của lịch sử đã qua và cũng theo đó luận giải một số vấn đề trên mấy khía cạch sau để cùng nhau tìm ra chân lý của vấn đề
          Cái được gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” có phải là chính quyền hợp pháp hay không?
          Có thể nói, ngay từ đầu, chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đã không có một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…).    
Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo Hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956.
          Tuy nhiên Ngô Đình Diệm - do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm Thủ tướng của chính phủ bù nhìn Bảo Đại - đã tuyên bố không có tổng tuyển cử gì hết, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva, và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.
          Về bản chất chính trị,  cái chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đại diện cho ai ở nước ta? Có phải là đại diện cho nhân dân miền Nam hay không?
          Chế độ này mang bản chất của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ, không bao giờ và chưa bao giờ đại diện cho dân tộc và trên thực tế đã bị nhân dân và lịch sử quay lưng lại.
          Nền tảng trực tiếp cho sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa là chính thể “Quốc gia Việt Nam” (1949-1955) – đây là một chế độ bù nhìn do Pháp lập nên trong thời kỳ kháng Pháp và do cựu hoàng Bảo Đại (mất ngôi hoàng đế sau Cách mạng tháng Tám) làm quốc trưởng. Quốc kỳ “ba que” của Việt Nam Cộng hòa cũng chính là quốc kỳ của “Quốc gia Việt Nam” được Pháp “trao trả độc lập”.
          Như vậy, ngay từ đầu, chính thể này đã không có sự chính danh, mặc dù cùng là người Việt nhưng là lũ Việt gian toàn phần. So với những chính quyền thân Mỹ ở nhiều nước, thuộc địa kiểu mới khác, các thành phần trong bộ máy của cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” có một đặc điểm chung là: Đó là những thành phần đều đã có một quá trình làm tay sai hoặc cho Pháp, hoặc cho Nhật, hoặc cho Quốc dân Đảng, hoặc cho cả ba thế lực đó. Trước quốc dân đồng bào ta, đám người này không còn chút tư cách đại diện. Ở đây, cần tính đến một đặc điểm lịch sử, Mỹ xâm nhập vào miền Nam sau khi Cách mạng Tháng tám đã thắng lợi trên phạm vi toàn quốc, rồi qua chín năm kháng chiến chống Pháp, các lực lượng xã hội đã phân hóa triệt để. Ở Việt Nam, không còn lực lượng nào đáng kể nào nằm ngoài hai xu hướng chính trị là cách mạng và phản cách mạng. Để có một chỗ dựa, Mỹ không còn cách nào khác là phải tìm lại trong đám tay sai cũ của Pháp, điều đó giải thích cho bước chuyển từ “Quốc gia Việt Nam” sang “Việt Nam Cộng hòa” là bước chuyển từ làm tay sai cho thực dân Pháp sang làm tay sai cho đế quốc Mỹ.
          Ở Việt Nam, cái chính thể “Việt Nam cộng hòa” do Mỹ dựng lên chỉ là một chính quyền tay sai bản xứ kém cỏi và mục nát, chính quyền đó không có chỗ dựa nào khác ngoài sức mạnh của Mỹ. Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, từ Nguyễn Khánh đến Nguyễn Văn Thiệu đều không còn thế lực kinh tế, chính trị hay tinh thần. Chính vì vậy, khác với việc xâm nhập các quốc gia, dân tộc khác mà Mỹ đã từng cho là thành công, trong trường hợp ở Việt Nam, Mỹ không tốn công, tốn của lắm để sai khiến và khống chế  chính quyền tay sai này. Nhưng cũng chính vì thế Mỹ phải tốn rất nhiều tiền của để nhào nặn và chống đỡ cho nó khỏi sụp đổ. Nước Mỹ giàu là thế, nhưng trong lịch sử nước Mỹ, chưa bao giờ người Mỹ tỏ ra thiếu khả năng tài chính khi giải quyết một vấn đề quốc tế như cuộc chiến tranh Việt Nam, lúc đỉnh điểm họ phải bỏ ra một số tiền khổng lồ 20 tỉ USD chi ra hàng năm là mức không thể chịu nổi trong một thời gian dài. Chúng ta biết rằng người Mỹ vốn rất thực dụng, họ đã cho đi cái gì thì luôn muốn nhận lại được nhiều hơn, nhưng cách đây nửa thế kỷ nếu mà họ biết một cách tường tận rằng tiền đóng thuế cho quốc gia của mình được đem “đầu tư” cho một cái chính thể bù nhìn, mục nát, trả lương hàng tháng cho hàng trăm nghìn con người ở nơi cách xa nước Mỹ cả nửa vòng trái đất để làm mỗi cái việc bắn giết chính đồng bào mình…thì có lẽ họ sẽ quyết định “rút cái ống thở” ngay để cho cái chính thể “bệnh hoạn” này được ra đi sớm hơn năm 1975…
          Cái công cụ bạo lực của cái gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” thực chất là gì? Nó là thứ từ đâu mà ra?
          Câu trả lời ngắn gọn đầu tiên là: Chính thể Việt Nam Cộng hòa là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân hại nước, đang tâm làm tay sai cho các thế lực ngoại bang.
          Cái công cụ gọi là “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” được xuất phát từ chính lực lượng ngụy quân đã sát cánh bên quân đội viễn chinh Pháp dưới lá cờ tam tài! Đa phần các tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn đều đã từng phục vụ trong quân đội Pháp hoặc quân đội “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại để bảo vệ nền thống trị của người Pháp ở Đông Dương. Chính vì vậy mà dưới trướng Diệm, vẫn gồm có gần đủ ngần ấy bộ mặt thời Pháp. Có vô số những cai đội và lính trơn thời Pháp được thăng vọt lên cấp úy và tá. Cũng có không ít sĩ quan cấp ủy thời Pháp được thăng cấp tướng, điển hình như thiếu úy Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Pháp thuộc đóng đồn ở Hưng Yên từng bị du kích nơi đây đuổi đánh chạy bán sống, bán chết sau này là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu rồi ngoi lên làm tới tận tổng thống chẳng hạn.
          Cái gọi là “Cảnh sát Quốc gia” của chế độ ngụy cũng không hơn. Nó bắt nguồn từ lực lượng cảnh sát và mật thám của Pháp tại Đông Dương từ năm 1946. Thời kỳ 1956 – 1959, Diệm đã huy động tới hàng chục vạn cảnh sát, mật vụ, thám báo, cai ngục, đao phủ, tỏa đi khắp miền Nam. Đội quân này ít dung đại bác và chiến xa, nhưng dùng súng ngắn, chó săn, thuốc độc, xích sắt, gông cùm, xà lim và máy chém.
          “Quân lực Việt Nam cộng hòa anh dũng có thừa”, đó là câu nói của Ngô Đình Nhu (em trai) đồng thời là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm, khi trả lời báo chí quốc tế, điều đó có lẽ đúng nhất là khi chính quân đội này làm đảo chính (11/1963), đã ra tay nhanh gọn, quyết liệt sát hại không chút do dự chính hai anh em ông ta. Cái gọi là “anh dũng” còn được thể hiện ở những nơi buồng biệt giam, trong khi các người tù binh cộng sản, cả tay và chân bị cùm chặt thì chúng lại trở thành những hung thần, bạo chúa, ác độc hơn cả loài cầm thú (đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục…), nhà tù Phú Quốc - địa ngục trần gian do quân đội Sài Gòn tạo ra  - là minh chứng hùng hồn cho những vi phạm nhân quyền và những tội ác kiểu trung cổ trời không dung đất không tha của chế độ ngụy. Trong “cuộc chiến vì tự do”, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ - những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như hãm hiếp phụ nữ Việt Nam, thảm sát dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napalm và các loại bom chùm có sức sát thương tàn bạo…
          Quân lực “Việt Nam cộng hòa” được trang bị vũ khí Mỹ, hỏa lực Mỹ yểm trợ mạnh, do cố vấn Mỹ chỉ huy và huấn luyện rất bài bản các chiến thuật hiện đại nhất như “trực thăng vận”, “thiết xa vận” “bủa lưới phóng lao”, “phượng hoàng vồ mồi”. Thế nhưng, chẳng hiểu sao, trên tất cả 4 vùng chiến thuật quân lực Việt Nam cộng hòa bị quân giải phóng đánh cho tan tác, vô cùng hoang mang, run sợ, bị tiêu diệt gọn từng đại đội, tiểu đoàn đến cả chiến đoàn là rất phổ biến…Vì sao lại như vây?...       có một thứ mà chính người Mỹ cũng thừa nhận là họ không thể mang đến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa được – đó là tinh thần chiến đấu quả cảm và sự mưu trí sáng tạo.
          Cái gọi là chính thể Việt Nam cộng hòa có được lòng dân Việt Nam hay không?
Trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy tìm hiểu những diễn biến của lịch sử, cách đây đã hơn nửa thế kỷ: Ở miền Nam dưới ách Mỹ-ngụy, liên tục diễn ra các cuộc biểu tình của dân chúng, của Phật giáo, sinh viên, trí thức, ký giả. Năm 1961 có 23 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, chủ yếu là xuống đường biểu tình (nhất là phong trào của học sinh, sinh viên). Năm 1962 có 20 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, Năm 1963 có 35 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, trong đó có phong trào Phật giáo…Nếu cái chính thể này được lòng dân sao biểu tình nhiều thế…
Anh em nhà Diệm được quan thầy Mỹ chỉ đạo đã đẩy mạnh chương trình cái gọi là “Ấp chiến lược” với ý định đến hết năm 1962 tập trung 10 triệu dân ở nông thôn vào 16.000/ 17.000 “ấp chiến lược”, điều này có khác gì biến đại bộ phận nhân dân miền Nam trở thành người bị cầm tù ngay trên chính quê hương mình, dân lành không oán than, kêu than, không chống đối mới là lạ. Chính thực tiễn lịch sử đã diễn ra như một dòng chảy tự nhiên vốn có của nó…. Cái gọi là quốc sách “ấp chiến lược” đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của đồng bào MN, có ấp bị phá vỡ ngay từ đầu, có ấp bị phá nhiều lần, có nhiều ấp chiến lược biến thành làng chiến đấu. Năm 1962: ta phá 2.650 ấp chiến lược, năm 1963 ta phá 2.740 ấp chiến lược.
Thế rồi khi cuộc chiến tranh Việt Nam bị người Mỹ đẩy lên cao nhất bởi chiến lược “chiến tranh cục bộ”, hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và đồng minh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, liên tục ném bom bắn phá miền Bắc, đã có hàng triệu đồng bào ta bị giết hại bởi bom đạn Mỹ, ngụy, lúc này cái bộ mặt bán nước, hại dân “rước voi về giày mả tổ” của cái kẻ có tên gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” càng lộ rõ, có lẽ mãi mãi về sau người đời sẽ còn tiếp tục nguyền rủa cái chính thể đã trở thành “thây ma” này.
Trong suốt 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hiếm có nơi đâu trên thế giới này giống như ở chiến trường miền Nam, hình thành được thế “da báo” giữa Mỹ, ngụy và lực lượng cách mạng miền Nam. Vậy thì, lòng dân theo ai? Nếu thiếu sự che chở bao bọc của đông đảo nhân dân thì cách mạng miền Nam có bám trụ được nhiều năm đến thế hay không trong cuộc chiến đầy cam go ác liệt này.
Nếu cái gọi là Việt Nam Cộng hòa thực sự hợp lòng dân, được nhân dân ủng hộ thì có lẽ sẽ không xuất hiện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (vào năm 1960), cùng với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam (năm 1961), rồi sau đó là chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (vào năm 1969) ngay trên phần đất của miền Nam Việt Nam, với nhân lực chính là người miền Nam, nói giọng miền Nam. Như vậy ở phía nam vĩ tuyến 17 đã hình thành 2 vùng kiểm soát với 2 quân đội tương ứng, khiến cho tính hợp pháp và chính danh của chế độ Việt Nam Cộng hòa vốn đã kém lại càng bị thách thức nghiêm trọng.
Có lẽ còn rất nhiều khía cạnh khác nữa để khai thác về vấn đề này, nhưng câu chuyện tôi muốn kể trên đây không phải là dựng cái “thây ma” chính thể “Việt Nam cộng hòa” để chửi rủa cho sướng mồm, hay khơi lại những đau thương mất mát một thời của dân tộc, mà muốn nhắn nhủ những ai còn đang mơ hồ rằng: cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đơn giản chỉ là một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, hay luận điệu: “chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa xua quân đội cưỡng chiếm đất của “Việt Nam cộng hòa” đó là những nhận thức lệch lạc của những kẻ không hiểu biết lịch sử Việt Nam, thậm chí còn là sự che đậy những tư tưởng phản động, cực đoan, hòng phủ nhận lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phủ nhận sự cống hiến hy sinh anh dũng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh này.
                                          Đức Bách

TRÒ HÈN CỦA NHỮNG KẺ LƯU MANH
GIẢ DANH TRÍ THỨC XUYÊN TẠC LỊCH SỬ
Cứ mỗi lần đất nước ta tiến hành kỷ niệm các sự kiện lớn, y như rằng các thế lực thù địch lại tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, hòng hạ thấp ý nghĩa của các sự kiện đó. Lần này cũng vậy, khi nước ta đang chuẩn bị kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, thì chiêu trò này lại tái diễn, nhưng với thủ đoạn nguy hiểm hơn, hòng phủ nhận thành quả cách mạng của nhân dân ta từ ngày có Đảng. Bởi vậy, nhận rõ thủ đoạn đó của chúng và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ là hết sức quan trọng và cần thiết.
Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau nhất là thông qua mạng internet, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang tung ra các luận điệu xuyên tạc thâm độc để tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Để chứng minh cho những luận điệu đó, họ đã bóp méo, xuyên tạc sự thật lịch sử Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Đó là luận điệu phủ nhận công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với Cách mạng Việt Nam. Diễn trò “hạ bệ”, họ đưa ra luận điệu: “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với học thuyết đấu tranh giai cấp đã gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm; rằng Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm phương tiện; đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”.... Như chúng ta đều biết, sau khi thực dân Pháp xâm lược, áp đặt chế độ thuộc địa ở nước ta, một thế hệ những người con ưu tú nhất đã khai phá, thử nghiệm nhiều con đường cứu nước: Phan Bội Châu chọn con đường quân chủ lập hiến, theo mô hình của Nhật Bản; Phan Châu Trinh chọn con đường dân chủ tư sản, dựa vào chính người Pháp để cải cách xã hội,... nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc không xác định trước một mô hình xã hội nào, mà cho rằng trước hết phải nghiên cứu, học hỏi hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người đã chọn con đường nghiên cứu tại các nước tư bản phát triển ở phương Tây, nơi sản sinh tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có nền khoa học - kỹ thuật phát triển cao. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, chỉ khi đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Người viết rằng, bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Người chỉ ra: ”Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công, nhân dân ta đã giành được độc lập; giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thật lịch sử hiển nhiên, không thể bẻ cong, bóp méo. Thân thế, sự nghiệp, tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được dân tộc Việt Nam trân trọng mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Pa-ri (từ ngày 20-10 đến 20-11-1987) đã thông qua Nghị quyết 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, vào năm 1990”.
Như vậy, cái trò “hạ bệ” của những kẻ xuyên tạc chẳng lừa được ai! Song lố bịch hơn, họ nói: việc “du nhập” chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa cho dân tộc, vì chủ nghĩa Mác - Lênin là “tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc”. Theo họ “học thuyết Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta”.... Xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa Mác, họ nói học thuyết này là xóa bỏ cá nhân: “Công hữu hóa tư liệu sản xuất chỉ xóa bỏ cá nhân trong kinh tế thì chuyên chính vô sản đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội. Với chuyên chính vô sản, chỉ những người nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản mới có cá nhân. Khối nhân dân còn lại chỉ là một đám đông, một bầy lạc đà” (Phạm Đình Trọng - Bi kịch Việt Nam). Thâm độc hơn, gần đây có kẻ tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lê-nin. Làm như đề cao Hồ Chí Minh, họ nói: bây giờ học thuyết Mác - Lê-nin đã lỗi thời, Đảng ta chỉ nên dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ …
Thực tế lịch sử trong thế kỷ XX cho thấy: Cách mạng Tháng Mười Nga và các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đã mở ra một con đường mới - con đường xây dựng một xã hội hướng đến không còn chế độ người bóc lột người, không còn dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác. Lịch sử đã chỉ ra rằng, không có Cách mạng Tháng Mười Nga, không có Liên Xô, Đồng minh không thể chiến thắng chủ nghĩa phát-xít, không có Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam vào năm 1945. Đó là những sự kiện và tiến trình lịch sử không thể phủ nhận. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa những người cộng sản phủ nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình. Chẳng hạn như, xây dựng xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu cũ với xóa kinh tế tư nhân, nền kinh tế thị trường, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của xã hội ở Liên Xô, Đông Âu và cả ở Việt Nam. Như V.I. Lênin đã từng nói: Chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều mà là “kim chỉ nam cho cuộc sống”. Nói cách khác, lý luận cách mạng đó cần phải được vận dụng và phát triển phù hợp với bối cảnh thời đại và dân tộc. Xa rời phương pháp luận này, tất yếu sẽ không tránh khỏi tổn thất, thậm chí là sụp đổ chế độ xã hội.
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử: kinh tế ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được bảo đảm và từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; thế và lực của nước ta đã nâng lên, v.v. Việt Nam không chỉ là biểu tượng của “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” mà còn là tấm gương “xóa đói, giảm nghèo”, điểm sáng thu hút bạn bè đến đầu tư, thăm quan, du lịch. Việt Nam tham gia ngày càng mạnh mẽ vào đời sống chính trị thế giới; thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 13 nước. Việt Nam là: thành viên chính thức của WTO; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên hợp quốc (khóa 68); Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013-2017, v.v. Vị thế và uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và phong trào cánh tả trên thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ; đặc biệt, Trung Quốc - nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, là minh chứng sinh động cho sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phản bác mạnh mẽ nhất những luận điệu xuyên tạc.
Một thủ đoạn thâm hiểm nữa mà các thế lực thù địch thường sử dụng như đã thành thông lệ, hằng năm cứ vào dịp nước ta kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng, họ lại tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện quan trọng này. Chúng đưa ra luận điệu: Cách mạng Tháng Tám với việc lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền chỉ là sự “ăn may” khi phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh không có vai trò gì. Trắng trợn và lố bịch hơn, chúng còn rêu rao rằng, Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc vào “thảm họa” với hai cuộc chiến tranh (1945 - 1954 và 1954 - 1975), làm cho đất nước bị tàn phá, dân tộc bị phân ly và ngày nay vẫn nghèo nàn, đói khổ, v.v. Theo họ, giá như không đi theo con đường những người cộng sản vạch ra mà bằng cách xin “chính quốc” trao trả độc lập thì nước ta vẫn có độc lập, tránh được chiến tranh, đi theo con đường của các nước tư bản để tới phồn vinh. Một số kẻ còn lập luận rằng: từ sau cuộc đảo chính của Nhật (09-3-1945), Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng không còn là thuộc địa của Pháp, mà là thuộc địa của Nhật. Trong khi đó, phát-xít Nhật đã bị quân Đồng minh đánh cho tơi tả, phải chịu thất bại thảm hại và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Như vậy, ở Đông Dương xuất hiện “khoảng trống quyền lực” cho nên cách mạng chỉ cần nổ ra là giành thắng lợi (?). Thực chất những quan điểm trên là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta.
Thực tiễn minh chứng, ngay từ khi vừa ra đời, Đảng ta đã phát động, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939. Đó là những cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, tình hình thế giới và ở Đông Dương biến chuyển căn bản. Đảng ta nhận định và chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và phát động cao trào đấu tranh mới tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5-1941), Đảng ta xác định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”2. Ngày 09-3-1945, phát-xít Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Pháp. Ngay tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị mở rộng và ngày 12-3-1945 ra bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Ở Việt Nam, bọn tay sai của chúng đã hoang mang đến cực độ. Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc, nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm 13-8, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Lệnh khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày 16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước đã nhất tề vùng lên, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát-xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra con đường phát triển của dân tộc. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành thắng lợi nhanh chóng là nhờ sự tài tình của Đảng và Bác Hồ trong nghệ thuật chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng; sự chuẩn bị chu đáo về đường lối, lực lượng,… nhất là, việc dự báo, chớp lấy thời cơ lịch sử “ngàn năm có một” để lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên tự giải phóng mình, chứ không hề ngồi yên trông mong, chờ đợi một “khoảng trống quyền lực” hay một khoảng “chân không chính trị” nào; càng không bao giờ ngồi chờ “trao trả độc lập”.
Sự thật sinh động của những ngày tháng Tám năm 1945 lịch sử khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công không phải là “sự ăn may” như ai đó từng hồ đồ tuyên bố. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ định. Vậy mà có kẻ chỉ vì những đồng đô-la được bố thí mà vẫn cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, đổi trắng thay đen, tiếp tay cho các thế lực thù địch, điên cuồng chống phá Cách mạng Việt Nam. Thật nực cười và cám cảnh thay!
                                                                      THN





 THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM BẰNG LỢI DỤNG VÀO TỆ THAM NHŨNG
Tham nhũng là một vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, không riêng gì Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, quyết liệt đẩy mạnh chống tham nhũng. Nhưng trong quá trình đó các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội đã lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của nhân dân ta.
Các thế lực thù địch, phản động hoạt động với danh nghĩa một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. đã đăng tải những bài viết trên các mạng xã hội, các trang wesite, các blog cá nhân với những thông tin mang tính chủ quan, suy diễn, tô vẽ thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Để lôi kéo người dân “tin tưởng” vào các luận điệu xuyên tạc, các hội, nhóm, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” thường lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội để suy diễn, quy kết “do tham nhũng” và thổi phồng cho đó là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, v.v. Chúng suy diễn rằng, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp nên nó mới lộng hành như vậy. Nguy hiểm hơn, để truyền tải rộng rãi các thông tin xuyên tạc tới người dân, chúng còn lập riêng một số website, blog để đăng tải bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
Với những luận điệu trên, mục đích của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Đi đôi với luận điệu xuyên tạc trên của các nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” là những lời hô hào, xúi giục nhân dân “đoàn kết”, “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”; kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi: “Cương lĩnh”, “thể chế chính trị”, “mô hình lãnh đạo”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, v.v.
Cùng với các hội, nhóm “xã hội dân sự”, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, còn phải kể đến một số tổ chức mang danh quốc tế. Họ luôn tự cho mình cái quyền đi “phán xét” tình hình tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường kỳ đưa ra cái gọi là “Báo cáo tham nhũng toàn cầu”. Đáng chú ý, khi đề cập đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, các bản “báo cáo” này thường dựa trên những quan điểm chủ quan, thiếu cơ sở, mang tính phiến diện, phản ánh sai lệch tình hình; đưa ra những đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do” cho người dân để “nâng cao hiệu quả” chống tham nhũng và kêu gọi “cho phép các tổ chức xã hội dân sự” tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, v.v.
Như vậy đã rõ, thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hoạt động với tư cách là các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ chống phá cách mạng Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Đây rõ ràng là chiêu trò, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm gây “nhiễu loạn” chính trị - xã hội, nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Như chúng ta biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi phòng, chống tham nhũng là công việc quan trọng, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước. Chính phủ đã nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, v.v. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”1. Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”.
Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với bộ máy và công chức, viên chức nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Người luôn nghiêm khắc nhắc nhở mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên: Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”“… một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Thời gian qua, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định và quyết tâm đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Gần đây, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết luận: “Cần tập trung chỉ đạo xử lý một số vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; tài liệu, chứng cứ chắc đến đâu xử lý đến đó, sau đó điều tra xử lý tiếp nhằm tạo sự lan tỏa và chuyển biến tích cực trong phát hiện, xử lý tham nhũng”. Trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV nêu rõ: “kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội chưa nghiêm; năng lực, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng tham nhũng còn nghiêm trọng, xảy ra nhiều vụ tham nhũng lớn trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng, đất đai,...”. Tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, ngày 03-8-2016, Thủ tướng đã cảm ơn các ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của cử tri về các vấn đề còn khó khăn, tồn tại của đất nước và khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Chính phủ; đồng thời nhấn mạnh “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.
Như vậy, Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; là vấn đề nhức nhối, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”5 đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các chủ trương, chính sách của Đảng, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Để ngăn chặn tệ nạn này, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế trên là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, lệch lạc, thù địch đang cố tình lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam để thực hiện mục đích, ý đồ xấu.
                                                                        HOÀNG THÁO




Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Ý NGHĨA CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM XIÊNG KHOẢNG TỪ 21/5-16/11/1972
Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược, thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Ta đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn, có tính chất chiến lược của Mỹ, ngụy Lào, đập tan âm mưu của chúng đánh chiếm địa bàn chiến lược trọng yếu Cánh Đồng Chum, nhằm tạo thế khi có giải pháp chính trị và mở ra một hướng chiến lược để thu hút, giam chân, phân tán chủ lực ta có lợi cho các chiến trường khác, đặc biệt là chiến trường Nam Việt Nam trong thời điểm 1972, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung, tạo thế liên hoàn vững chắc cho căn cứ địa bạn Lào.
Thắng lợi chiến dịch có ý nghĩa, làm phong phú thêm lý luận tác chiến chiến dịch phòng ngự và là bước phát triển về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ; khẳng định đây là loại hình chiến dịch tất yếu trong chiến tranh, bộ đội ta và bạn Lào đã trưởng thành nhiều mặt cả về thực tiễn lẫn lý luận chiến dịch phòng ngự, về kỹ thuật và chiến thuật trong tác chiến phòng ngự. Thắng lợi chiến dịch có ý nghĩa sâu sắc trong sự phối hợp tác chiến của quân đội hai nước Việt Nam-Lào

                                                                                                                                                                                                                                                                BIỂN RỘNG

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI THANH NIÊN HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, tình hình đất nước ta về kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, nền kinh tế trong nước phát triển nhanh, khá năng động, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Về chính trị: An ninh chính trị được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội không ngừng được nâng cao, niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được tăng cường. Về xã hội, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, xã hội ổn định, an sinh xã hội được chú ý, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi. Quá trình hội nhập quốc tế của nước ta có nhiều bước tiến, đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng đã góp phần đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về nhiều mặt, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động vẫn liên tục gia tăng hoạt động chống phá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng đã hướng đến nhiều đối tượng để tác động trong đó trọng tâm nhắm đến lực lượng thanh niên.
Với âm mưu đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách tiếp cận thanh niên bởi vì đối với thanh niên, họ là những con người rất nhanh nhạy trong tiếp thu các tri thức mới, những tư tưởng mới trong xã hội, họ rất nhạy cảm với các vấn đề nóng  của đời sống chính trị - xã hội nhưng lại chưa có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và thiếu sự chọn lọc trong tiếp thu tri thức, thiếu sự quản lý của nhà trường và gia đình nên rất dễ để các thế lực thù địch tập trung lôi kéo thông qua các tác động về mặt kinh tế, tư tưởng, văn hóa… để phục vụ cho những âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB).
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành. Thanh niên là lực lượng tiêu biểu của tuổi trẻ, là nguồn nhân lực chủ yếu, là chủ nhân tương lai của đất nước.Họ là những người sẽ đóng góp sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quan điểm của Đảng ta về thanh niên và công tác thanh niên đã được vạch rõ trong các nghị quyết của Đảng, thể hiện rõ tầm quan trọng của thanh niên và công tác thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước do Đảng lãnh đạo. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên” tiếp tục khẳng định:  “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình”.
Vị trí, vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là rất quan trọng nên khi chiến lược diễn biến hòa bình nhắm đến thanh niên cũng chính là “một mũi tên trúng nhiều đích”, vừa là để lôi kéo, tác động vào tư tưởng thanh niên, đẩy mạnh sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và lợi dụng thanh niên phục vụ cho chiến lược “DBHB”; vừa là trực tiếp phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Những âm mưu và thủ đoạn thực hiện “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên trong những năm vừa qua là:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, chúng đưa các ấn phẩm văn hoá đồi trụy, phản văn hóa, phản động vào trong thanh niên, làm cho một bộ phận thanh niên bị nhiễm những thứ văn hóa lai căng, mất bản sắc, cổ súy cho một lối sống vô văn hóa, thiếu trách nhiệm.
Dựa vào sức mạnh của internet, các trang web, trang mạng xã hội…, các thế lực thù địch rao giảng về những cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, lợi dụng thanh niên để lập ra các trang web, các trang mạng xã hội để lôi kéo, tuyên truyền, kích động chống phá nhà nước. Một cuộc điều tra mới đây của nhóm các nhà khoa học thuộc Tạp chí Cộng sản cho thấy: Sinh viên, trí thức trẻ chính là lực lượng sử dụng internet đông đảo, thường xuyên nhất với khoảng 82,5% vào mạng hàng ngày. Các thế lực thiếu thiện chí hay thù địch với Việt Nam nhận thức rất rõ vấn đề này và ngay lập tức, họ tập trung lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ vào “ma trận” mới. Hiện nay, lướt qua những trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy rất nhiều các trang thông tin núp dưới các chiêu bài khác nhau để đưa những thông tin sai lệch, trái chiều, những bình luận, đánh giá thiếu thiện chí về những vấn đề chính trị trong nước… Nhiều đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt ở hải ngoại mà đài RFA là một ví dụ, thậm chí còn dừng hẳn chương trình phát thanh để tập trung nguồn lực phát triển báo mạng mà đối tượng bạn đọc được họ "ưu tiên" hàng đầu chính là thanh niên. Và hiện nay, cũng không khó để bắt gặp những bình luận, những tư tưởng lệch lạc về chính trị của thanh niên xuất hiện trên các trang mạng xã hội.
Lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan trong thanh niên để thực hiện “DBHB”. Lợi dụng những thanh niên đi học tập, làm việc, công tác tại nước ngoài. Họ tăng cường tiếp cận, tuyên truyền về những quan điểm phi Macxit, về những “cái hay, cái đẹp” của chủ nghĩa tư bản, lôi kéo thanh niên ưu tú ở lại nước ngoài gây chảy máu chất xám hoặc lợi dụng họ để tiếp tay cho hoạt động chống phá. Hay một biểu hiện khác mà chúng ta cũng có thể dễ nhận ra là những suy nghĩ, những quan điểm về lối sống, về lý tưởng sống, về văn hóa, thẩm mỹ của một số thanh niên đã có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.
Chính sự tác động từ chiến lược “DBHB” mà trong một bộ phận thanh niên hiện nay đã xuất hiện những hệ quả tiêu cực, một bộ phận thanh niên đã có biểu hiện “thờ ơ chính trị”, không quan tâm đến các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế; bản lĩnh chính trị không vững vàng, phai nhạt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, về chủ nghĩa xã hội; có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng. Biểu hiện cụ thể như:
Về chính trị - tư tưởng: Các thế lực thù địch tuyên truyền, rao giảng về những cái gọi là “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, xuyên tạc đường lối chủ trương chính sách, phóng đại những khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chúng làm cho một bộ phận thanh niên vốn còn thiếu kinh nghiệm, thiếu sự vững vàng chính trị đã lung lay, dao động, tin theo làm suy giảm niềm tin của một số thanh niên đối với sự lãnh đạo của Đảng, tin theo chủ nghĩa tư bản, hoài nghi về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Nghiêm trọng hơn, một số thanh niên còn tiếp tay cho các thế lực thù địch, giúp chúng đẩy mạnh thực hiện âm mưu “DBHB”, tuyên truyền chống lại Đảng và nhà nước ta…
Về văn hóa, một bộ phận thanh niên có biểu hiện sai lệch về văn hóa do bị ảnh hưởng bởi những sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, sính ngoại, ảnh hưởng bởi lối sống, lối suy nghĩ của chủ nghĩa tư bản, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc mà các thế lực thù địch đã đưa vào. Cùng với đó, lối sống của một bộ phận thanh niên có xu hướng lệch lạc, chạy theo lối sống thực dụng, vọng ngoại, theo chủ nghĩa cá nhân, thờ ơ, vị kỷ với xã hội… Một số khác lại có tư tưởng sống hưởng thụ, ngại phấn đấu, luôn chỉ nghĩ cho bản thân mình.
Về kinh tế, một số thanh niên chạy theo sức mạnh vật chất, chạy theo đồng tiền, nghĩ rằng đồng tiền có sức mạnh vạn năng trong đời sống xã hội; sự đua đòi và thực dụng cũng đã ảnh hưởng đến một số thanh niên. Là một điểm yếu để các thế lực thù địch dễ dàng lợi dụng để mua chuộc thông qua các lợi ích kinh tế.
Nhận thức rõ những mối đe dọa của chiến lược “DBHB” đối với thanh niên, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách, những biện pháp để đấu tranh chống lại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên như:
- Về chính trị, Đảng ta đã có chủ trương tăng cường giáo dục về chính trị cho thanh niên, đưa các nội dung về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng, về tiêu chuẩn đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và một số nội dung giáo dục lý luận chính trị khác vào trong chương trình học tại bậc phổ thông và cả bậc cao đẳng, đại học. Điều đó đã và đang phát huy tác dụng nhằm hình thành cho thanh niên những nhận thức cơ bản về lý luận chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng cho thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng và đúng đắn, hạn chế tình trạng thờ ơ, mơ hồ, hoang mang, dao động về chính trị diễn ra trong thanh niên.
- Về văn hóa, Đảng ta chủ trương “hòa nhập chứ không hòa tan”, giáo dục cho thanh niên về truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, lên án những hành vi phản văn hóa, vô văn hóa, giáo dục cho thanh niên biết chọn lọc những giá trị văn hóa để họ tìm kiếm và tiếp thu những tri thức văn hóa của nhân loại sao cho đúng đắn và phù hợp, tránh lệch lạc. Cùng với đó, thông qua dư luận xã hội, lên án lối sống sai lầm, lệch lạc của thanh niên để họ kịp thời nhận thức và sửa chữa.
Riêng đối với mạng internet, chúng ta đã vạch mặt những trang web, những tổ chức phản động hoạt động chống phá ta trên mạng, cùng với đó là sự định hướng để thanh niên tiếp cận những thông tin trên mạng một cách đúng đắn, chính thống.
- Về tổ chức, đã kiện toàn và tổ chức chặt chẽ bộ máy của các cơ sở Đoàn từ trên xuống dưới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, đổi mới hình thức, nội dung hoạt động để thu hút và lôi kéo thanh niên tham gia. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có những bước chuyển lớn trong quá trình hoạt động, thu hút được sự tham gia đông đảo của đoàn viên thanh niên, các phong trào đoàn cũng có nhiều nội dung và hình thức mới. Đã lồng ghép được các nội dung giáo dục lý luận chính trị với các hoạt động đoàn , từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước cho thanh niên.
- Bên cạnh đó, bằng các biện pháp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền, lý luận, Đảng ta đã vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm. Cùng với đó, Đảng ta cũng đã đẩy mạnh công tác chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị - tư tưởng, tăng cường niềm tin của nhân dân nói chung và của thanh niên nói riêng đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy vậy, việc phòng chống “DBHB” đối với thanh niên vẫn còn diễn biến khá phức tạp, một số vấn đề chưa được giải quyết và thậm chí còn diễn biến nghiêm trọng hơn, chính vì vậy, chúng ta cần kiên trì thực hiện những giải pháp đã có và tiếp tục nâng cao hiệu quả một số mặt công tác sau:
Về chính trị - tư tưởng
          Cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế thông qua các kênh thông tin chính thống cho thanh niên.
Tăng cường hiệu quả giảng dạy các môn học về lý luận chính trị, dưới hình thức là các môn học giáo dục công dân tại bậc học trung học phổ thông và các môn học lý luận chính trị tại bậc học cao đẳng, đại học như các môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, cho thanh niên để sớm hình thành những nhận thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng sẽ góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, kịp thời chống lại các âm mưu “DBHB”. Muốn nâng cao hiệu quả, cần phải đổi mới hơn nữa quá trình đổi mới về nội dung để lý luận gắn liền với thực tiễn, đổi mới về hình thức, phương pháp giảng dạy, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy, tuyên truyền. Đồng thời, có biện pháp thích hợp để lồng ghép các nội dung này trong hoạt động của Đoàn Thanh niên.
Giáo dục về thế giới quan, nhân sinh quan và đạo đức cộng sản, giáo dục về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc, lý tưởng, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa cho thanh niên. Bên cạnh đó, đẩy mạnh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, xuyên tạc và làm rõ, vạch trần âm mưu thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên để thanh niên có biện pháp phòng ngừa.
Cần phải xây dựng lực lượng nòng cốt trong thanh niên: Phòng chống âm mưu “DBHB” về chính trị tư tưởng đối với thanh niên có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp khác nhau, nhưng phải tạo điều kiện để họ tự chống âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch là tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải giáo dục cho mọi thanh niên thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình cao. Cần xây dựng lực lượng nòng cốt trong thanh niên, họ là những thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, tích cực, khách quan, gần gũi quần chúng, để trong bất kỳ tình huống nào ta cũng nắm bắt được đối tượng, âm mưu và biện pháp “DBHB” của chúng, để đề ra biện pháp phòng chống hiệu quả nhất.
Về văn hóa - lối sống
Cần tuyên truyền cho thanh niên về những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội, những truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc để họ không ngừng bảo tồn, gìn giữ và phát huy những truyền thống văn hóa lâu đời, giàu bản sắc của dân tộc, đồng thời bài trừ những phong tục, hủ tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan.
Làm tốt công tác quản lý văn hóa giúp thanh niên được tiếp cận với những sản phẩm văn hóa thực sự là nét đẹp, là tinh hoa văn hóa của nhân loại để sinh viên tiếp thu trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc bài trừ các sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, phê phán lối sống thực dụng, chạy theo văn hóa tư bản. Lên án những hành vi, hành động phản văn hóa, phi văn hóa. Xây dựng, định hướng cho thanh niên có lý tưởng sống. Phê phán lối sống vị kỷ, cá nhân, thực dụng và lối sống của xã hội tư bản để định hướng cho thanh niên xây dựng lối sống lành mạnh - lối sống của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là của internet đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của thanh niên. Là một trong những kênh tiếp cận hàng đầu bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiếp cận thanh niên nên cần phải thực hiện tốt một số giải pháp phòng ngừa như:
Tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với mạng internet, chủ động, kịp thời ngăn chặn những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng mạng internet để thực hiện âm mưu “DBHB”.
Định hướng cho thanh niên nhận thức rõ ràng âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng internet, các trang web, mạng xã hội để truyền tải những thông tin sai sự thực, dụ dỗ, lôi kéo thanh niên tham gia “DBHB” để thanh niên chủ động phòng ngừa.
Các trang web, trang mạng chính thống cần phải thay đổi tư duy, thay đổi cách thức, hình thức tiếp cận sao cho phù hợp với thanh niên, cần phải đổi mới cả về nội dung và hình thức để lôi kéo được sự quan tâm, chú ý của thanh niên, phải đóng vai trò là người cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, định hướng suy nghĩ, tư tưởng, dư luận xã hội một cách kịp thời cho thanh niên.
Về tổ chức:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nói chung và hoạt động của Đoàn thanh niên nói riêng là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công của công tác thanh niên và phòng chống “DBHB” đối với thanh niên.
Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, giản dị, có ý chí vươn lên trong cuộc sống có uy tín và tích cực trong công tác Đoàn và gần gũi với quần chúng. Những người lãnh đạo, cán bộ Đoàn phải năng nổ, tích cực, là tấm gương sáng để cho thanh niên noi theo.
Nội dung hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải phong phú, thiết thực, sinh động..., mục tiêu là giáo dục cho thanh niên sống và làm việc theo pháp luật, theo bản sắc văn hoá dân tộc; làm cho thanh niên thấm nhuần chủ trương quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, giữ gìn và phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc, tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp các hoạt động Đoàn với việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho thanh niên. Bằng nhiều hình thức, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng để thanh niên tự xác định cho mình về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình.
Những đoàn viên ưu tú của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chính là đội dự bị cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua quá trình hoạt động và sinh hoạt đoàn, những thanh niên ưu tú được giáo dục nâng cao trình độ nhận thức về Đảng, từ đó phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng, trở thành những đảng viên trẻ. Chính vì vậy, Đoàn Thanh niên ở các cấp cần kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu những đoàn viên ưu tú, mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng một cách có hiệu quả và thực chất, tránh chạy theo hình thức, chạy theo chỉ tiêu, những người đủ tiêu chuẩn để được kết nạp vào Đảng phải là những thanh niên thực sự ưu tú cả về phẩm chất (nhất là phẩm chất chính trị) và năng lực. Những đảng viên trẻ sau khi đã đứng trong hàng ngũ của Đảng vẫn phải tiếp tục phấn đấu, rèn luyện hơn nữa, đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hơn nữa, họ phải trở thành một lực lượng nòng cốt trong việc phòng, chống chiến lược “DBHB” đối với thanh niên nói chung và đối với đảng viên trẻ nói riêng.
BIỂN RỘNG

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC NHÀ GIÁO – BIỆN PHÁP LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU PHI CHÍNH TRỊ HÓA TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Sự nghiệp giáo dục đào tạo là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục- đào tạo chính là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bởi vì, đội ngũ nhà giáo có nhiệm vụ hết sức nặng nề, thiêng liêng và cao cả là đào tạo cán bộ cho Đảng, Nhà nước; là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa” đội ngũ nhà giáo có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, chuẩn mực, nét tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho người học những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của xã hội nói chung, Nhà trường quân đội nói riêng, xứng đáng với danh hiệu “Người kỹ sư tâm hồn”. Muốn làm được điều đó, trước hết đội ngũ nhà giáo (người giảng viên) của các Nhà trường phải xây dựng tư tưởng dạy học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; thì việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ nhà giáo của các Nhà trường có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch lành mạnh, năng lực toàn diện đạt chuẩn về chất lượng là một nội dung cơ bản, thường xuyên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục – đào tạo của các nhà trường quân đội.
Quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo trong thời kỳ mới. Cấp ủy, chỉ huy các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao đạo đức cho đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đạo đức nhà giáo của các nhà trường hiện nay đó là đội ngũ nhà giáo được lựa chọn, đào tạo và bồi dưỡng phát triển toàn diện, có kiến thức chuyên môn, chuyên sâu cao; có khả năng tổ chức chỉ huy giỏi, tích cực tham gia NCKH, biên soạn tài liệu, giáo trình phục vụ cho nhiệm vụ dạy và học. Thường xuyên tu dưỡng rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống có phương pháp tác phong công tác khoa học; thực sự là người luôn có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; đồng thời là một chuẩn mực, nhân cách lớn, một tấm gương sáng tâm huyết với nghề; luôn chịu đựng khó khăn gian khổ, giám nghĩ giám làm, giám chịu trách nhiệm. Tích cực chủ động học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên thực hiện tốt chức năng “dạy chữ, dạy nghề, dạy người” cho người học. Tuy nhiên do tác động của cơ chế thị trường, đời sống của đội ngũ giảng viên còn nhiều khó khăn, tính tự giác trong tu dưỡng rèn luyện chưa thường xuyên, chưa thật gắn bó tâm huyết với nghề nghiệp, tính mô phạm chưa cao; chấp hành hiến pháp, pháp luật, kỷ luật chưa thật nghiêm minh phần nào ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo.
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, thì công tác đào tạo nguồn lực con người, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ là vấn đề cấp thiết và quan trọng. Để đáp ứng yêu cầu về công tác giáo dục – đào tạo của các nhà trường nhất là việc bồi dưỡng nâng cao  phẩm chất đạo đức nhà giáo (ĐĐNG). Cần quán triệt và thực hiện một số giải pháp cơ bản như sau:
 Thứ nhất, phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để các nhà giáo của các nhà trường trong quân đội nhận thức sâu sắc về vị thế của nghề giáo dục trong xã hội và sự cần thiết phải bồi dưỡng đạo đức nhà giáo trong tình hình hiện nay. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đánh giá rất cao nghề dạy học. Người cho rằng, nghề dạy học “rất quan trọng và vẻ vang”; “là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Từ đó phải làm cho mỗi nhà giáo nhận thức rõ hơn vị thế của nghề dạy học trong xã hội nói chung, công tác GD- ĐT của các nhà trường nói riêng là rất cần thiết. Có như vậy, mới xây dựng được ĐNNG thực sự yêu nghề, yêu người, hết lòng chăm sóc, giáo dục học viên, nâng cao thái độ, động cơ trách nhiệm trong nghiên cứu giảng dạy; thường xuyên tự bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm của đồng chí, đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm; gắn giáo dục, bồi dưỡng của tổ chức với đề cao ý thức tự học, tự rèn của người thầy. Tích cực đấu tranh, ngăn chặn những nhận thức, hành vi không đúng về nghề dạy học, những biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm giá, tư cách của nhà giáo.
Hai là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng. Đây là giải pháp tác động trực tiếp đến nhận thức, định hướng nghề nghiệp của mỗi nhà giáo trước diễn biến phức tạp của đời sống xã hội. Do vậy cấp ủy Đảng, chỉ huy của các nhà trường cần triển khai thực hiện nghiêm túc hai nội dung này, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ, giảng viên về việc học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức của Bác được thực hiện một cách toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm, sát với đội ngũ nhà giáo. Cần quán triệt, cụ thể hóa để họ nắm vững tư tưởng của Bác về ĐĐNG; đã là nhà giáo là phải yêu người, yêu nghề, yêu trường, yêu CNXH, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GD- ĐT. Bởi, “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề của mình”. Nắm vững tinh thần đó, trong thực hiện Nghị quyết 4 (Khóa XII), đội ngũ nhà giáo phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, đề ra nội dung, biện pháp thiết thực cụ thể, phù hợp làm cơ sở để điều chỉnh hành vi, xác định ý chí quyết tâm, nhất là trong những tình huống khó khăn, phức tạp, chi phối đến tình cảm, lòng yêu nghề của ĐNNG. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để ĐNNG phấn đấu, rèn luyện; lấy nhân tố tích cực đẩy lùi tiêu cực, thói hư tật xấu tạo nhiều điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong rèn luyện phẩm chất ĐĐNG theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mặt khác, phải tích cực khắc phục khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ về những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Nhất là đối với những nhà giáo có những biểu hiện thoái thác nhiệm vụ, thiếu yên tâm, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” trong công tác giáo dục đào tạo.
 Ba là, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và phương pháp, tác phong công tác cho ĐNNG. Thực tiễn chỉ ra rằng, những nhà giáo có trình độ hạn chế sẽ thiếu tự tin trong quá trình giảng dạy và không yên tâm gắn bó với nghề. Để khắc phục tình trạng đó, các nhà trường quân đội cần đào tạo, bồi dưỡng, trang bị cho đội ngũ nhà giáo có trình độ, năng lực toàn diện, kiến thức chuyên sâu theo từng lĩnh vực, môn học tham gia giảng dạy cũng như kỹ năng, phương pháp tác phong sư phạm tốt; có khả năng tư duy khoa học sáng tạo, biết gắn lý thuyết với thực hành, lý luận với thực tiễn, Nhà trường với đơn vị và chiến trường. Ngoài ra, cần bồi dưỡng cho đội ngũ nhà giáo có phương pháp, tác phong khoa học, sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ tâm huyết với học viên; góp phần tạo nên giá trị chân chính của người thầy, có tinh thần đấu tranh kiên quyết với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; tích cực bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; bồi dưỡng ý thức tích cực, tự giác tham gia các hoạt động chính trị- xã hội, nhạy cảm với những vấn đề phức tạp nảy sinh; nói, viết và làm theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; gương mẫu, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản thân.
 Bốn là, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, tạo điều kiện để các nhà giáo khẳng định mình trong mọi hoạt động thực tiễn. Môi trường sư phạm là nơi tạo ra những giá trị chân, thiện, mỹ của những người làm công tác giáo dục. Môi trường sư phạm tốt sẽ làm cho các nhà giáo thêm yêu quý, gắn bó, toàn tâm toàn ý với nghề; ngược lại, nếu môi trường sự phạm không tốt sẽ dễ làm cho họ mau chán nản, thiếu quan tâm đến công việc chung, không có hứng thú trong giảng dạy. Vì vậy, các nhà trường cần quan tâm xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, thân thiện, tiện ích nhằm tạo tình cảm thân thiết, khơi dậy khả năng lao động sáng tạo của thầy và trò. Để làm được điều đó, cần tập trung xây dựng không gian làm việc thoáng, sáng, xanh, sạch, đẹp; trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại cần thiết phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học. Đồng thời, duy trì nghiêm các quy chế, quy định có lối sống làm việc kỷ cương, văn hóa, tăng cường đoàn kết, thống nhất cao, cùng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.
Việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức nhà giáo là một yêu cầu tất yếu khách quan trong xây dựng ĐNNG của các nhà trường. Quán triệt, thực hiện tốt các nội dung biện pháp trên, sẽ là cơ sở quan trọng để khắc phục mọi hạn chế về đạo đức nhà giáo; nhận thức đúng đạo đức nghề nghiệp nhà giáo sẽ làm cho đội ngũ nhà giáo luôn tận tâm, tận lực với nghề, ra sức phấn đấu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng GD- ĐT và nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, có như vậy mới xứng đáng là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, xứng đáng với danh hiệu “Người kỹ sư tâm hồn” trong các nhà trường quân đội./.

             
              CHÂN LÝ
  NGĂN CHẶN VÀ ĐẨY LÙI BIỂU HIỆN ĐÒI
 “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG ”
Việc chỉ rõ thực chất, tác hại, sự cần thiết phải đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” và khẳng định vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề cấp thiết nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động, kêu gọi tán dương, cổ xúy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.
Mục tiêu của những luận điệu hô hào, cổ xúy đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” không gì khác là hạ thấp và đi tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam, bằng những lời lẽ hết sức mị dân. Họ cho rằng chỉ có “thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”; chỉ có “đa nguyên, đa đảng” thì xã hội mới có dân chủ thực sự… Thực chất của luận điểm trên là muốn gây ra những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị-xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng gia tăng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
“Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người nhận thức có phần còn hạn chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Bằng sự thể nghiệm xương máu trong cuộc đấu tranh cách mạng với bao khó khăn, gian khổ, hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam, mà nhân dân ta đã chọn và thừa nhận: Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới đảm bảo cho xã hội Việt Nam phát triển tiến bộ.
Lịch sử cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn, giao phó của lịch sử, sự tin cậy của nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng đã đưa dân tộc ta từ một dân tộc không có độc lập đến một dân tộc độc lập có tên trên bản đồ thế giới; đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ đến dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị-xã hội của đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa-xã hội có bước phát triển. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo cho xã hội Việt Nam được từng bước phát triển bền vững vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng mà là phải thực hiện tốt hơn nữa vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm cho xã hội ngày càng phát triển bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cần quan tâm làm tốt một số vấn đề sau đây:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo trên cơ sở trung thành và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm của các nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Tích cực đấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Hai là, Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động và phát triển, nhất là tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, nhất là phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là “công bộc” của dân.
Ba là, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương cần kịp thời ban hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân” nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.
Bốn là, chăm lo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu-nghèo.
Năm là, quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, cả người Việt Nam ở trong nước và những người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng mọi thành quả lao động mà chính mình đã sáng tạo ra.
Sáu là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, nhất là trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm khắc, dứt điểm các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng gây hậu quả lớn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

 CHÂN LÝ