Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017
TRÒ HÈN CỦA NHỮNG KẺ LƯU MANH
GIẢ DANH TRÍ THỨC XUYÊN TẠC LỊCH SỬ
Cứ mỗi lần đất nước ta tiến hành kỷ niệm các sự kiện
lớn, y như rằng các thế lực thù địch lại tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc,
hòng hạ thấp ý nghĩa của các sự kiện đó. Lần này cũng vậy, khi nước ta đang chuẩn
bị kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, thì chiêu trò này lại
tái diễn, nhưng với thủ đoạn nguy hiểm hơn, hòng phủ nhận thành quả cách mạng của
nhân dân ta từ ngày có Đảng. Bởi vậy, nhận rõ thủ đoạn đó của chúng và kiên quyết
đấu tranh, bác bỏ là hết sức quan trọng và cần thiết.
Bằng
nhiều thủ đoạn khác nhau nhất là thông qua mạng internet, các thế lực thù địch
trong và ngoài nước đã và đang tung ra các luận điệu xuyên tạc thâm độc để
tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Để chứng minh cho những luận điệu
đó, họ đã bóp méo, xuyên tạc sự thật lịch sử Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Đó là luận điệu phủ nhận công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với Cách mạng Việt
Nam. Diễn trò “hạ bệ”, họ đưa ra luận điệu: “Hồ
Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với học thuyết đấu tranh giai
cấp đã gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm; rằng Hồ Chí Minh chỉ là
người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm phương tiện;
đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”....
Như chúng ta đều biết, sau khi thực dân Pháp xâm lược, áp đặt chế độ thuộc địa
ở nước ta, một thế hệ những người con ưu tú nhất đã khai phá, thử nghiệm nhiều
con đường cứu nước: Phan Bội Châu chọn con đường quân chủ lập hiến, theo mô
hình của Nhật Bản; Phan Châu Trinh chọn con đường dân chủ tư sản, dựa vào chính
người Pháp để cải cách xã hội,... nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc không xác
định trước một mô hình xã hội nào, mà cho rằng trước hết phải nghiên cứu, học
hỏi hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Người
đã chọn con đường nghiên cứu tại các nước tư bản phát triển ở phương Tây, nơi
sản sinh tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có nền khoa học - kỹ thuật phát
triển cao. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, chỉ khi đến được với chủ nghĩa
Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc mới tìm thấy con đường cứu nước, giải
phóng dân tộc. Trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Người viết rằng, bây giờ chủ nghĩa
nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Người chỉ ra: ”Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã sáng
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám
(năm 1945) thành công, nhân dân ta đã giành được độc lập; giành thắng lợi trong
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước,
hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội. Đó là sự thật lịch sử hiển nhiên, không thể bẻ cong, bóp méo. Thân thế, sự
nghiệp, tài năng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được dân tộc Việt Nam trân
trọng mà còn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Khóa họp Đại hội đồng UNESCO
lần thứ 24 tại Pa-ri (từ ngày 20-10 đến 20-11-1987) đã thông qua Nghị
quyết 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư
cách là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, vào
năm 1990”.
Như vậy, cái trò “hạ bệ” của những kẻ xuyên tạc chẳng lừa
được ai! Song lố bịch hơn, họ nói: việc “du nhập” chủ nghĩa
Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa
cho dân tộc, vì chủ nghĩa Mác - Lênin là “tư tưởng ngoại lai, xa lạ
với truyền thống dân tộc”. Theo họ “học thuyết Mác - Lênin chỉ phù
hợp với thế kỷ XIX, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực
lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta”....
Xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa Mác, họ nói học thuyết này là xóa bỏ cá nhân: “Công
hữu hóa tư liệu sản xuất chỉ xóa bỏ cá nhân trong kinh tế thì chuyên chính vô
sản đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội. Với chuyên chính vô sản,
chỉ những người nắm quyền lãnh đạo đảng cộng sản mới có cá nhân. Khối nhân dân
còn lại chỉ là một đám đông, một bầy lạc đà” (Phạm Đình Trọng - Bi kịch
Việt Nam). Thâm độc hơn, gần đây có kẻ tung ra luận điệu tách rời tư tưởng
Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lê-nin. Làm như đề cao Hồ Chí Minh,
họ nói: bây giờ học thuyết Mác - Lê-nin đã lỗi thời, Đảng ta chỉ nên dựa vào tư
tưởng Hồ Chí Minh là đủ …
Thực tế lịch sử trong thế kỷ XX cho thấy: Cách mạng Tháng
Mười Nga và các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường của chủ
nghĩa Mác - Lênin đã mở ra một con đường mới - con đường xây dựng một
xã hội hướng đến không còn chế độ người bóc lột người, không còn dân tộc này áp
bức, bóc lột dân tộc khác. Lịch sử đã chỉ ra rằng, không có Cách mạng Tháng
Mười Nga, không có Liên Xô, Đồng minh không thể chiến thắng chủ nghĩa phát-xít,
không có Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam vào năm 1945. Đó là những sự kiện và
tiến trình lịch sử không thể phủ nhận. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa những
người cộng sản phủ nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình. Chẳng hạn như, xây
dựng xã hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu cũ với xóa kinh tế tư nhân, nền
kinh tế thị trường, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao
cấp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của xã hội ở Liên
Xô, Đông Âu và cả ở Việt Nam. Như V.I. Lênin đã từng nói: Chủ nghĩa Mác không
phải là một giáo điều mà là “kim chỉ nam cho cuộc sống”. Nói cách khác, lý luận
cách mạng đó cần phải được vận dụng và phát triển phù hợp với bối cảnh thời đại
và dân tộc. Xa rời phương pháp luận này, tất yếu sẽ không tránh khỏi tổn thất,
thậm chí là sụp đổ chế độ xã hội.
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước
đã và đang đạt nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử: kinh tế ổn định,
duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được bảo đảm và từng
bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; thế và lực của nước
ta đã nâng lên, v.v. Việt Nam không chỉ là biểu tượng của “chủ nghĩa anh hùng cách
mạng” mà còn là tấm gương “xóa đói, giảm nghèo”, điểm sáng thu hút bạn bè đến
đầu tư, thăm quan, du lịch. Việt Nam tham gia ngày càng mạnh mẽ vào đời sống
chính trị thế giới; thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước và vùng lãnh thổ,
trong đó quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 13 nước. Việt Nam
là: thành viên chính thức của WTO; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng
Liên hợp quốc (khóa 68); Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013-2017, v.v. Vị thế và
uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện nay,
không chỉ ở Việt Nam mà các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và phong trào cánh tả
trên thế giới vẫn phát triển mạnh mẽ; đặc biệt, Trung Quốc - nước có nền kinh
tế lớn thứ hai thế giới, là minh chứng sinh động cho sức sống bất diệt của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, phản bác mạnh mẽ nhất những luận điệu xuyên tạc.
Một thủ đoạn thâm hiểm nữa mà các thế lực thù địch thường
sử dụng như đã thành thông lệ, hằng năm cứ vào dịp nước ta kỷ niệm Cách mạng
Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, trên các trang mạng, họ lại tung ra nhiều
luận điệu xuyên tạc ý nghĩa của sự kiện quan trọng này. Chúng đưa ra
luận điệu: Cách mạng Tháng Tám với việc lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền chỉ là sự “ăn may” khi
phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh không có vai trò gì. Trắng trợn và lố bịch hơn, chúng còn rêu rao rằng,
Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc vào “thảm họa” với hai cuộc chiến tranh
(1945 - 1954 và 1954 - 1975), làm cho đất nước bị tàn phá, dân tộc bị phân ly
và ngày nay vẫn nghèo nàn, đói khổ, v.v. Theo họ, giá như không đi theo con
đường những người cộng sản vạch ra mà bằng cách xin “chính quốc” trao trả độc
lập thì nước ta vẫn có độc lập, tránh được chiến tranh, đi theo con đường của
các nước tư bản để tới phồn vinh. Một số kẻ còn lập luận rằng: từ sau cuộc đảo
chính của Nhật (09-3-1945), Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng không
còn là thuộc địa của Pháp, mà là thuộc địa của Nhật. Trong khi đó, phát-xít
Nhật đã bị quân Đồng minh đánh cho tơi tả, phải chịu thất bại thảm hại và tuyên
bố đầu hàng vô điều kiện. Như vậy, ở Đông Dương xuất hiện “khoảng trống quyền
lực” cho nên cách mạng chỉ cần nổ ra là giành thắng lợi (?). Thực chất những
quan điểm trên là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta.
Thực tiễn minh chứng, ngay từ khi vừa ra đời, Đảng ta đã
phát động, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939. Đó là những cuộc
tổng diễn tập, chuẩn bị tiền đề cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tháng
9-1939, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, tình hình thế giới và ở Đông
Dương biến chuyển căn bản. Đảng ta nhận định và chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và phát động cao trào đấu
tranh mới tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội nghị Trung ương
lần thứ 8 (tháng 5-1941), Đảng ta xác định: “Trong lúc này nếu không giải quyết
được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân
tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”2.
Ngày 09-3-1945, phát-xít Nhật tiến hành đảo chính lật đổ chính quyền Pháp. Ngay
tối hôm đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị mở rộng và ngày
12-3-1945 ra bản Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Hội nghị quyết định phát động cao trào chống Nhật, cứu nước trong toàn quốc,
làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cả dân tộc ta gấp rút chuẩn bị những công
việc cuối cùng, tạo và đón lấy thời cơ để vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước. Ngày 14-8-1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô
điều kiện. Ở Việt Nam, bọn tay sai của chúng đã hoang mang đến cực độ. Trung
ương Đảng triệu tập Hội nghị toàn quốc, nhận định điều kiện khởi
nghĩa đã chín muồi và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm
13-8, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra Lệnh khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại
hội quốc dân họp, quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam
(tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay trong ngày
16-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ quyết
định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta”. Hưởng ứng lời kêu gọi đó, nhân dân cả nước đã nhất tề
vùng lên, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân
ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát-xít cùng triều đình phong kiến,
thiết lập chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công,
ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra
đời, mở ra con đường phát triển của dân tộc. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám nổ ra
và giành thắng lợi nhanh chóng là nhờ sự tài tình của Đảng và Bác Hồ trong nghệ
thuật chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng; sự chuẩn bị chu đáo về đường lối, lực
lượng,… nhất là, việc dự báo, chớp lấy thời cơ lịch sử “ngàn năm có một” để
lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên tự giải phóng mình, chứ không hề ngồi yên
trông mong, chờ đợi một “khoảng trống quyền lực” hay một khoảng “chân không
chính trị” nào; càng không bao giờ ngồi chờ “trao trả độc lập”.
Sự thật sinh động của những ngày tháng Tám năm 1945 lịch
sử khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công không phải là “sự ăn may” như
ai đó từng hồ đồ tuyên bố. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng
Tháng Tám là không thể phủ định. Vậy mà có kẻ chỉ vì những đồng đô-la được bố
thí mà vẫn cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, đổi trắng thay đen, tiếp tay cho
các thế lực thù địch, điên cuồng chống phá Cách mạng Việt Nam. Thật nực cười và
cám cảnh thay!
THN
THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC
THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM BẰNG LỢI DỤNG VÀO TỆ THAM NHŨNG
Tham nhũng là một vấn nạn chung của nhiều quốc
gia trên thế giới, không riêng gì Việt Nam. Trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, quyết liệt
đẩy mạnh chống tham nhũng. Nhưng trong quá trình đó các thế lực thù địch, phản
động và phần tử cơ hội đã lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới,
xây dựng đất nước của nhân dân ta.
Các thế lực thù địch, phản động hoạt động với danh nghĩa một
số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân
chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. đã đăng tải những bài viết trên các
mạng xã hội, các trang wesite, các blog cá nhân với những
thông tin mang tính chủ quan, suy diễn, tô vẽ thổi phồng, thậm chí xuyên tạc
trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam.
Để lôi kéo người dân “tin tưởng” vào các luận điệu xuyên tạc, các hội, nhóm,
nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” thường lợi dụng những vụ án tham nhũng liên
quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội
để suy diễn, quy kết “do tham nhũng” và thổi phồng cho đó là tình trạng “phổ
biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc
đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, v.v. Chúng suy diễn
rằng, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí,
can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền
các cấp nên nó mới lộng hành như vậy. Nguy hiểm hơn, để truyền tải rộng rãi các
thông tin xuyên tạc tới người dân, chúng còn lập riêng một số website, blog để
đăng tải bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh
bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
Với những luận điệu trên, mục đích của chúng
nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã
hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong
nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở,
làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm
chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn
kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với
quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Đi đôi với luận điệu xuyên
tạc trên của các nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” là những lời hô hào, xúi
giục nhân dân “đoàn kết”, “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”; kêu gọi Đảng
Cộng sản Việt Nam phải thay đổi: “Cương lĩnh”, “thể chế chính trị”, “mô hình
lãnh đạo”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, v.v.
Cùng với các hội, nhóm “xã hội dân sự”, nhà hoạt
động “dân chủ, nhân quyền”, còn phải kể đến một số tổ chức mang danh quốc tế.
Họ luôn tự cho mình cái quyền đi “phán xét” tình hình tham nhũng ở các quốc gia
trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường kỳ đưa ra cái gọi là “Báo cáo
tham nhũng toàn cầu”. Đáng chú ý, khi đề cập đến thực trạng tham nhũng ở Việt
Nam, các bản “báo cáo” này thường dựa trên những quan điểm chủ quan, thiếu cơ
sở, mang tính phiến diện, phản ánh sai lệch tình hình; đưa ra những đòi hỏi
Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do” cho người dân để “nâng cao hiệu quả”
chống tham nhũng và kêu gọi “cho phép các tổ chức xã hội dân sự” tham gia vào
công tác phòng, chống tham nhũng, v.v.
Như vậy đã rõ, thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch, phản động hoạt động với tư cách là các tổ chức
hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh
chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý
đồ chống phá cách mạng Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có
quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động
“hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất
nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Đây rõ
ràng là chiêu trò, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm gây “nhiễu loạn” chính
trị - xã hội, nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Như chúng ta biết, tham
nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước.
Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở
nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát
triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã coi phòng, chống tham nhũng là công việc quan trọng, cấp
bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước. Chính phủ đã
nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm
dụng chức vụ, quyền hạn, v.v. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham
ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính
phủ”1. Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm
mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”.
Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của nhân dân
đối với bộ máy và công chức, viên chức nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản
nhất của sự phát triển. Người luôn nghiêm khắc nhắc nhở mọi tổ chức đảng và cán
bộ, đảng viên: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách
mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét
sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”; “… một Đảng mà
giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận
khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ
hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm
đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Thời gian qua, những người đứng đầu Đảng, Nhà
nước, Chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định và quyết tâm đẩy mạnh công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng. Gần đây, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo
Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết
luận: “Cần tập trung chỉ đạo xử lý một số vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt
nghiêm trọng, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; tài liệu, chứng cứ chắc đến đâu
xử lý đến đó, sau đó điều tra xử lý tiếp nhằm tạo sự lan tỏa và chuyển biến
tích cực trong phát hiện, xử lý tham nhũng”. Trong báo cáo tình hình kinh tế -
xã hội của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ nhất,
Quốc hội khóa XIV nêu rõ: “kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong
xã hội chưa nghiêm; năng lực, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công
chức chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng tham nhũng còn nghiêm trọng, xảy ra nhiều
vụ tham nhũng lớn trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng,
đất đai,...”. Tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, ngày 03-8-2016, Thủ
tướng đã cảm ơn các ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của cử tri về các vấn đề còn
khó khăn, tồn tại của đất nước và khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng
của Chính phủ; đồng thời nhấn mạnh “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng,
chống tham nhũng”.
Như vậy, Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham
nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; là vấn đề nhức nhối, gây ra những hậu quả
hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước. Đặc biệt, “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm,
tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”5 đã
làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các chủ trương, chính sách của
Đảng, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế
lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm suy yếu sự
lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Để ngăn chặn tệ nạn này, Đảng,
Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung
túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc
chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng
viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và
loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế trên là bằng chứng xác thực
nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, lệch lạc, thù
địch đang cố tình lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham
nhũng ở Việt Nam để thực hiện mục đích, ý đồ xấu.
HOÀNG THÁO
Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017
Ý NGHĨA CHIẾN DỊCH
PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM XIÊNG KHOẢNG TỪ 21/5-16/11/1972
Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng mùa
mưa năm 1972 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược, thắng lợi có ý nghĩa
chiến lược quan trọng. Ta đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn, có tính
chất chiến lược của Mỹ, ngụy Lào, đập tan âm mưu của chúng đánh chiếm địa bàn
chiến lược trọng yếu Cánh Đồng Chum, nhằm tạo thế khi có giải pháp chính trị và
mở ra một hướng chiến lược để thu hút, giam chân, phân tán chủ lực ta có lợi
cho các chiến trường khác, đặc biệt là chiến trường Nam Việt Nam trong thời điểm
1972, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung, tạo thế liên hoàn vững
chắc cho căn cứ địa bạn Lào.
Thắng lợi chiến dịch có ý nghĩa, làm phong phú thêm
lý luận tác chiến chiến dịch phòng ngự và là bước phát triển về nghệ thuật chiến
dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ; khẳng định đây là loại hình chiến dịch
tất yếu trong chiến tranh, bộ đội ta và bạn Lào đã trưởng thành nhiều mặt cả về
thực tiễn lẫn lý luận chiến dịch phòng ngự, về kỹ thuật và chiến thuật trong
tác chiến phòng ngự. Thắng lợi chiến dịch có ý nghĩa sâu sắc trong sự phối hợp
tác chiến của quân đội hai nước Việt Nam-Lào
BIỂN RỘNG
ĐẤU TRANH
PHÒNG CHỐNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ LỰC THÙ ĐỊCH
ĐỐI VỚI THANH NIÊN HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, tình
hình đất nước ta về kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, nền
kinh tế trong nước phát triển nhanh, khá năng động, đời sống nhân dân từng bước
được cải thiện. Về chính trị: An ninh chính trị được giữ vững, vai trò lãnh đạo
của Đảng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội không ngừng được nâng cao, niềm
tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được tăng cường. Về xã hội, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững, xã hội ổn định, an sinh xã hội được chú ý, tệ nạn xã hội từng
bước được đẩy lùi. Quá trình hội nhập quốc tế của nước ta có nhiều bước tiến,
đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng đã góp
phần đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về nhiều mặt, vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, trong thời gian qua, các thế lực
thù địch, phản động vẫn liên tục gia tăng hoạt động chống phá Việt Nam trên nhiều
lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng đã hướng đến nhiều đối
tượng để tác động trong đó trọng tâm nhắm đến lực lượng thanh niên.
Với âm mưu đó, các thế lực thù
địch luôn tìm cách tiếp cận thanh niên bởi vì đối với thanh niên, họ là những
con người rất nhanh nhạy trong tiếp thu các tri thức mới, những tư tưởng mới
trong xã hội, họ rất nhạy cảm với các vấn đề nóng của đời sống chính trị
- xã hội nhưng lại chưa có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và thiếu sự chọn lọc
trong tiếp thu tri thức, thiếu sự quản lý của nhà trường và gia đình nên rất dễ
để các thế lực thù địch tập trung lôi kéo thông qua các tác động về mặt kinh tế,
tư tưởng, văn hóa… để phục vụ cho những âm mưu chiến lược “diễn
biến hòa bình” (DBHB).
“Diễn biến hòa bình” là chiến
lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các
nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động tiến hành. Thanh niên là lực lượng tiêu biểu của
tuổi trẻ, là nguồn nhân lực chủ yếu, là chủ nhân tương lai của đất nước.Họ là
những người sẽ đóng góp sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quan điểm của Đảng ta về thanh
niên và công tác thanh niên đã được vạch rõ trong các nghị quyết của Đảng, thể
hiện rõ tầm quan trọng của thanh niên và công tác thanh niên đối với sự nghiệp
cách mạng của đất nước do Đảng lãnh đạo. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư
Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi
mới đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt
Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc
vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công
tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết
định sự thành bại của cách mạng”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành
Trung ương Đảng (Khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
thanh niên” tiếp tục khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn,
một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực
lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh,
gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất
và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình”.
Vị trí, vai trò của thanh niên
đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là rất quan trọng nên khi chiến lược
diễn biến hòa bình nhắm đến thanh niên cũng chính là “một mũi tên trúng nhiều
đích”, vừa là để lôi kéo, tác động vào tư tưởng thanh niên, đẩy mạnh sự “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” và lợi dụng thanh niên phục vụ cho chiến lược “DBHB”; vừa
là trực tiếp phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Những âm mưu và thủ đoạn
thực hiện “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên trong những năm vừa
qua là:
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của internet, chúng đưa các ấn phẩm văn hoá đồi trụy, phản văn hóa, phản động
vào trong thanh niên, làm cho một bộ phận thanh niên bị nhiễm những thứ văn hóa
lai căng, mất bản sắc, cổ súy cho một lối sống vô văn hóa, thiếu trách nhiệm.
Dựa vào sức mạnh của internet,
các trang web, trang mạng xã hội…, các thế lực thù địch rao giảng về những cái
gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, lợi dụng thanh niên để lập ra các trang web,
các trang mạng xã hội để lôi kéo, tuyên truyền, kích động chống phá nhà nước. Một
cuộc điều tra mới đây của nhóm các nhà khoa học thuộc Tạp chí Cộng sản cho thấy:
Sinh viên, trí thức trẻ chính là lực lượng sử dụng internet đông đảo, thường
xuyên nhất với khoảng 82,5% vào mạng hàng ngày. Các thế lực thiếu thiện chí hay
thù địch với Việt Nam nhận thức rất rõ vấn đề này và ngay lập tức, họ tập trung
lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ vào “ma trận” mới. Hiện nay, lướt
qua những trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy rất nhiều các trang thông tin
núp dưới các chiêu bài khác nhau để đưa những thông tin sai lệch, trái chiều,
những bình luận, đánh giá thiếu thiện chí về những vấn đề chính trị trong nước…
Nhiều đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt ở hải ngoại mà đài RFA là một ví dụ,
thậm chí còn dừng hẳn chương trình phát thanh để tập trung nguồn lực phát triển
báo mạng mà đối tượng bạn đọc được họ "ưu tiên" hàng đầu chính là
thanh niên. Và hiện nay, cũng không khó để bắt gặp những bình luận, những tư tưởng
lệch lạc về chính trị của thanh niên xuất hiện trên các trang mạng xã hội.
Lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị
đoan trong thanh niên để thực hiện “DBHB”. Lợi dụng những thanh niên đi học tập,
làm việc, công tác tại nước ngoài. Họ tăng cường tiếp cận, tuyên truyền về những
quan điểm phi Macxit, về những “cái hay, cái đẹp” của chủ nghĩa tư bản, lôi kéo
thanh niên ưu tú ở lại nước ngoài gây chảy máu chất xám hoặc lợi dụng họ để tiếp
tay cho hoạt động chống phá. Hay một biểu hiện khác mà chúng ta cũng có thể dễ
nhận ra là những suy nghĩ, những quan điểm về lối sống, về lý tưởng sống, về
văn hóa, thẩm mỹ của một số thanh niên đã có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu
cực.
Chính sự tác động từ chiến lược
“DBHB” mà trong một bộ phận thanh niên hiện nay đã xuất hiện những hệ quả tiêu
cực, một bộ phận thanh niên đã có biểu hiện “thờ ơ chính trị”, không quan tâm đến
các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế; bản lĩnh chính trị không vững vàng,
phai nhạt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, về chủ nghĩa xã hội; có biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng. Biểu hiện cụ thể như:
Về chính trị - tư tưởng: Các thế lực thù địch tuyên truyền, rao giảng về những
cái gọi là “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, xuyên tạc đường lối chủ trương
chính sách, phóng đại những khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước, chúng làm cho một bộ phận thanh niên vốn còn thiếu kinh nghiệm, thiếu
sự vững vàng chính trị đã lung lay, dao động, tin theo làm suy giảm niềm tin của
một số thanh niên đối với sự lãnh đạo của Đảng, tin theo chủ nghĩa tư bản, hoài
nghi về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Nghiêm trọng hơn, một
số thanh niên còn tiếp tay cho các thế lực thù địch, giúp chúng đẩy mạnh thực
hiện âm mưu “DBHB”, tuyên truyền chống lại Đảng và nhà nước ta…
Về văn hóa, một
bộ phận thanh niên có biểu hiện sai lệch về văn hóa do bị ảnh hưởng bởi những sản
phẩm phản văn hóa, đồi trụy, sính ngoại, ảnh hưởng bởi lối sống, lối suy nghĩ của
chủ nghĩa tư bản, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc mà các thế lực
thù địch đã đưa vào. Cùng với đó, lối sống của một bộ phận thanh niên có xu hướng
lệch lạc, chạy theo lối sống thực dụng, vọng ngoại, theo chủ nghĩa cá nhân, thờ
ơ, vị kỷ với xã hội… Một số khác lại có tư tưởng sống hưởng thụ, ngại phấn đấu,
luôn chỉ nghĩ cho bản thân mình.
Về kinh tế,
một số thanh niên chạy theo sức mạnh vật chất, chạy theo đồng tiền, nghĩ rằng đồng
tiền có sức mạnh vạn năng trong đời sống xã hội; sự đua đòi và thực dụng cũng
đã ảnh hưởng đến một số thanh niên. Là một điểm yếu để các thế lực thù địch dễ
dàng lợi dụng để mua chuộc thông qua các lợi ích kinh tế.
Nhận thức rõ những mối đe dọa của
chiến lược “DBHB” đối với thanh niên, Đảng và nhà nước ta đã có những chính
sách, những biện pháp để đấu tranh chống lại chiến lược “DBHB” của các thế lực
thù địch đối với thanh niên như:
- Về chính trị, Đảng ta đã có chủ trương tăng cường giáo dục về chính
trị cho thanh niên, đưa các nội dung về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối cách mạng của Đảng, về tiêu chuẩn đạo đức của con người mới xã
hội chủ nghĩa và một số nội dung giáo dục lý luận chính trị khác vào trong
chương trình học tại bậc phổ thông và cả bậc cao đẳng, đại học. Điều đó đã và
đang phát huy tác dụng nhằm hình thành cho thanh niên những nhận thức cơ bản về
lý luận chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng cho thanh niên có bản
lĩnh chính trị vững vàng và đúng đắn, hạn chế tình trạng thờ ơ, mơ hồ, hoang
mang, dao động về chính trị diễn ra trong thanh niên.
- Về văn hóa, Đảng ta chủ trương “hòa nhập chứ không hòa tan”, giáo dục
cho thanh niên về truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại, lên án những hành vi phản văn hóa, vô văn hóa, giáo dục cho thanh niên biết
chọn lọc những giá trị văn hóa để họ tìm kiếm và tiếp thu những tri thức văn
hóa của nhân loại sao cho đúng đắn và phù hợp, tránh lệch lạc. Cùng với đó,
thông qua dư luận xã hội, lên án lối sống sai lầm, lệch lạc của thanh niên để họ
kịp thời nhận thức và sửa chữa.
Riêng đối với mạng internet, chúng ta đã vạch mặt những
trang web, những tổ chức phản động hoạt động chống phá ta trên mạng, cùng với
đó là sự định hướng để thanh niên tiếp cận những thông tin trên mạng một cách
đúng đắn, chính thống.
- Về tổ chức, đã kiện toàn và tổ chức chặt chẽ bộ máy của các cơ sở
Đoàn từ trên xuống dưới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh
niên, đổi mới hình thức, nội dung hoạt động để thu hút và lôi kéo thanh niên
tham gia. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có những bước chuyển lớn
trong quá trình hoạt động, thu hút được sự tham gia đông đảo của đoàn viên
thanh niên, các phong trào đoàn cũng có nhiều nội dung và hình thức mới. Đã lồng
ghép được các nội dung giáo dục lý luận chính trị với các hoạt động đoàn , từ
đó, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước cho thanh
niên.
- Bên cạnh đó, bằng các biện
pháp đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền, lý luận, Đảng ta đã vạch
rõ những âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch, xử lý nghiêm những
trường hợp vi phạm. Cùng với đó, Đảng ta cũng đã đẩy mạnh công tác chỉnh đốn Đảng,
xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị - tư tưởng, tăng cường niềm tin của nhân
dân nói chung và của thanh niên nói riêng đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy vậy, việc phòng chống
“DBHB” đối với thanh niên vẫn còn diễn biến khá phức tạp, một số vấn đề chưa được
giải quyết và thậm chí còn diễn biến nghiêm trọng hơn, chính vì vậy, chúng ta cần
kiên trì thực hiện những giải pháp đã có và tiếp tục nâng cao hiệu quả một số mặt
công tác sau:
Về chính trị - tư tưởng
Cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước,
tuyên truyền các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế thông qua các kênh thông
tin chính thống cho thanh niên.
Tăng cường hiệu quả giảng dạy
các môn học về lý luận chính trị, dưới hình thức là các môn học giáo dục công
dân tại bậc học trung học phổ thông và các môn học lý luận chính trị tại bậc học
cao đẳng, đại học như các môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, cho thanh niên để
sớm hình thành những nhận thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, các lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
cho thanh niên. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng sẽ góp phần nâng cao bản lĩnh
chính trị, tăng cường niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, kịp thời chống lại
các âm mưu “DBHB”. Muốn nâng cao hiệu quả, cần phải đổi mới hơn nữa quá trình đổi
mới về nội dung để lý luận gắn liền với thực tiễn, đổi mới về hình thức, phương
pháp giảng dạy, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ
làm công tác giảng dạy, tuyên truyền. Đồng thời, có biện pháp thích hợp để lồng
ghép các nội dung này trong hoạt động của Đoàn Thanh niên.
Giáo dục về thế giới quan, nhân
sinh quan và đạo đức cộng sản, giáo dục về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam,
giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc, lý tưởng, niềm tin vào Đảng, Nhà nước
và chế độ xã hội chủ nghĩa cho thanh niên. Bên cạnh đó, đẩy mạnh phê phán những
quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, xuyên tạc và làm rõ, vạch trần âm mưu
thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên để thanh niên có biện
pháp phòng ngừa.
Cần phải xây dựng lực lượng
nòng cốt trong thanh niên: Phòng chống âm mưu “DBHB” về chính trị tư tưởng đối
với thanh niên có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp khác nhau,
nhưng phải tạo điều kiện để họ tự chống âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch
là tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải giáo dục
cho mọi thanh niên thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu
tranh phê bình và tự phê bình cao. Cần xây dựng lực lượng nòng cốt trong thanh
niên, họ là những thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, tích cực,
khách quan, gần gũi quần chúng, để trong bất kỳ tình huống nào ta cũng nắm bắt
được đối tượng, âm mưu và biện pháp “DBHB” của chúng, để đề ra biện pháp phòng
chống hiệu quả nhất.
Về văn hóa - lối sống
Cần tuyên truyền cho thanh niên
về những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội, những truyền thống văn hóa quý
báu của dân tộc để họ không ngừng bảo tồn, gìn giữ và phát huy những truyền thống
văn hóa lâu đời, giàu bản sắc của dân tộc, đồng thời bài trừ những phong tục, hủ
tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan.
Làm tốt công tác quản lý văn
hóa giúp thanh niên được tiếp cận với những sản phẩm văn hóa thực sự là nét đẹp,
là tinh hoa văn hóa của nhân loại để sinh viên tiếp thu trong điều kiện hội nhập
quốc tế và toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc bài trừ các sản phẩm phản
văn hóa, đồi trụy, lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, phê phán
lối sống thực dụng, chạy theo văn hóa tư bản. Lên án những hành vi, hành động
phản văn hóa, phi văn hóa. Xây dựng, định hướng cho thanh niên có lý tưởng sống.
Phê phán lối sống vị kỷ, cá nhân, thực dụng và lối sống của xã hội tư bản để định
hướng cho thanh niên xây dựng lối sống lành mạnh - lối sống của con người mới
xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển của khoa học công
nghệ, đặc biệt là của internet đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ, nhận
thức, tư tưởng của thanh niên. Là một trong những kênh tiếp cận hàng đầu bị các
thế lực thù địch lợi dụng để tiếp cận thanh niên nên cần phải thực hiện tốt một
số giải pháp phòng ngừa như:
Tăng cường sự quản lý của nhà
nước đối với mạng internet, chủ động, kịp thời ngăn chặn những âm mưu của các
thế lực thù địch lợi dụng mạng internet để thực hiện âm mưu “DBHB”.
Định hướng cho thanh niên nhận
thức rõ ràng âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng internet, các
trang web, mạng xã hội để truyền tải những thông tin sai sự thực, dụ dỗ, lôi kéo
thanh niên tham gia “DBHB” để thanh niên chủ động phòng ngừa.
Các trang web, trang mạng chính
thống cần phải thay đổi tư duy, thay đổi cách thức, hình thức tiếp cận sao cho
phù hợp với thanh niên, cần phải đổi mới cả về nội dung và hình thức để lôi kéo
được sự quan tâm, chú ý của thanh niên, phải đóng vai trò là người cung cấp
thông tin kịp thời, chính xác, định hướng suy nghĩ, tư tưởng, dư luận xã hội một
cách kịp thời cho thanh niên.
Về tổ chức:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh
niên nói chung và hoạt động của Đoàn thanh niên nói riêng là một nhân tố quan
trọng hàng đầu quyết định sự thành công của công tác thanh niên và phòng chống
“DBHB” đối với thanh niên.
Nâng cao chất lượng hoạt động của
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có lập trường tư tưởng chính trị vững
vàng, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh,
giản dị, có ý chí vươn lên trong cuộc sống có uy tín và tích cực trong công tác
Đoàn và gần gũi với quần chúng. Những người lãnh đạo, cán bộ Đoàn phải năng nổ,
tích cực, là tấm gương sáng để cho thanh niên noi theo.
Nội dung hoạt động của Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải phong phú, thiết thực, sinh động..., mục
tiêu là giáo dục cho thanh niên sống và làm việc theo pháp luật, theo bản sắc
văn hoá dân tộc; làm cho thanh niên thấm nhuần chủ trương quan điểm của Đảng,
chính sách pháp luật của nhà nước, giữ gìn và phát huy những truyền thống quý
báu của dân tộc, tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp các hoạt động
Đoàn với việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho thanh niên. Bằng nhiều hình thức,
thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng để thanh niên tự xác định cho mình về
vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình.
Những đoàn viên ưu tú của Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chính là đội dự bị cho Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thông qua quá trình hoạt động và sinh hoạt đoàn, những thanh niên ưu tú được
giáo dục nâng cao trình độ nhận thức về Đảng, từ đó phấn đấu để được đứng trong
hàng ngũ của Đảng, trở thành những đảng viên trẻ. Chính vì vậy, Đoàn Thanh niên
ở các cấp cần kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và giới thiệu những đoàn viên ưu
tú, mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng một cách có hiệu quả và thực chất,
tránh chạy theo hình thức, chạy theo chỉ tiêu, những người đủ tiêu chuẩn để được
kết nạp vào Đảng phải là những thanh niên thực sự ưu tú cả về phẩm chất (nhất
là phẩm chất chính trị) và năng lực. Những đảng viên trẻ sau khi đã đứng trong
hàng ngũ của Đảng vẫn phải tiếp tục phấn đấu, rèn luyện hơn nữa, đấu tranh với
các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống. Hơn nữa, họ phải trở thành một lực lượng nòng cốt trong
việc phòng, chống chiến lược “DBHB” đối với thanh niên nói chung và đối với đảng
viên trẻ nói riêng.
BIỂN RỘNG
Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017
NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC NHÀ GIÁO – BIỆN PHÁP LÀM THẤT BẠI ÂM
MƯU PHI CHÍNH TRỊ HÓA TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Sự nghiệp giáo dục đào tạo là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn
xã hội, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục- đào tạo chính là đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bởi vì, đội ngũ nhà giáo có
nhiệm vụ hết sức nặng nề, thiêng liêng và cao cả là đào tạo cán bộ cho Đảng,
Nhà nước; là “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa” đội ngũ nhà giáo
có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống
các giá trị, chuẩn mực, nét tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, bồi
dưỡng cho người học những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự
phát triển và tiến bộ của xã hội nói chung, Nhà trường quân đội nói riêng, xứng
đáng với danh hiệu “Người kỹ sư tâm hồn”. Muốn làm được điều đó, trước hết đội
ngũ nhà giáo (người giảng viên) của các Nhà trường phải xây dựng tư tưởng dạy
học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; thì việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ
nhà giáo của các Nhà trường có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức
tốt, lối sống trong sạch lành mạnh, năng lực toàn diện đạt chuẩn về chất lượng
là một nội dung cơ bản, thường xuyên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo
dục – đào tạo của các nhà trường quân đội.
Quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng về xây dựng đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo trong thời kỳ mới.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo
nâng cao đạo đức cho đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình
mới. Đạo đức nhà giáo của các nhà trường hiện nay đó là đội ngũ nhà giáo được
lựa chọn, đào tạo và bồi dưỡng phát triển toàn diện, có kiến thức chuyên môn,
chuyên sâu cao; có khả năng tổ chức chỉ huy giỏi, tích cực tham gia NCKH, biên
soạn tài liệu, giáo trình phục vụ cho nhiệm vụ dạy và học. Thường xuyên tu
dưỡng rèn luyện để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
có phương pháp tác phong công tác khoa học; thực sự là người luôn có bản lĩnh
chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với
nhân dân; đồng thời là một chuẩn mực, nhân cách lớn, một tấm gương sáng tâm
huyết với nghề; luôn chịu đựng khó khăn gian khổ, giám nghĩ giám làm, giám chịu
trách nhiệm. Tích cực chủ động học tập, rèn luyện phấn đấu vươn lên thực hiện
tốt chức năng “dạy chữ, dạy nghề, dạy người” cho người học. Tuy nhiên do tác
động của cơ chế thị trường, đời sống của đội ngũ giảng viên còn nhiều khó khăn,
tính tự giác trong tu dưỡng rèn luyện chưa thường xuyên, chưa thật gắn bó tâm
huyết với nghề nghiệp, tính mô phạm chưa cao; chấp hành hiến pháp, pháp luật,
kỷ luật chưa thật nghiêm minh phần nào ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của
đội ngũ nhà giáo.
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại”, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, thì công
tác đào tạo nguồn lực con người, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ là vấn đề cấp
thiết và quan trọng. Để đáp ứng yêu cầu về công tác giáo dục – đào tạo của các
nhà trường nhất là việc bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo
(ĐĐNG). Cần quán triệt và thực hiện một số giải pháp cơ bản như sau:
Thứ nhất, phải tăng cường công tác tuyên truyền,
giáo dục để các nhà giáo của các nhà trường trong quân đội nhận thức sâu sắc về
vị thế của nghề giáo dục trong xã hội và sự cần thiết phải bồi dưỡng đạo đức
nhà giáo trong tình hình hiện nay. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
coi trọng và đánh giá rất cao nghề dạy học. Người cho rằng, nghề dạy học “rất
quan trọng và vẻ vang”; “là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề
sáng tạo nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Từ đó phải làm cho
mỗi nhà giáo nhận thức rõ hơn vị thế của nghề dạy học trong xã hội nói chung,
công tác GD- ĐT của các nhà trường nói riêng là rất cần thiết. Có như vậy, mới
xây dựng được ĐNNG thực sự yêu nghề, yêu người, hết lòng chăm sóc, giáo dục học
viên, nâng cao thái độ, động cơ trách nhiệm trong nghiên cứu giảng dạy; thường
xuyên tự bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm của đồng chí, đồng nghiệp để nâng cao
trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm; gắn giáo dục, bồi dưỡng của tổ chức với
đề cao ý thức tự học, tự rèn của người thầy. Tích cực đấu tranh, ngăn chặn
những nhận thức, hành vi không đúng về nghề dạy học, những biểu hiện tiêu cực
làm ảnh hưởng đến uy tín, phẩm giá, tư cách của nhà giáo.
Hai là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng. Đây là
giải pháp tác động trực tiếp đến nhận thức, định hướng nghề nghiệp của mỗi nhà
giáo trước diễn biến phức tạp của đời sống xã hội. Do vậy cấp ủy Đảng, chỉ huy
của các nhà trường cần triển khai thực hiện nghiêm túc hai nội dung này, rèn
luyện cho đội ngũ cán bộ, giảng viên về việc học tập và làm theo tư tưởng tấm
gương đạo đức của Bác được thực hiện một cách toàn diện, song có trọng tâm,
trọng điểm, sát với đội ngũ nhà giáo. Cần quán triệt, cụ thể hóa để họ nắm vững
tư tưởng của Bác về ĐĐNG; đã là nhà giáo là phải yêu người, yêu nghề, yêu
trường, yêu CNXH, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GD- ĐT. Bởi,
“Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề của mình”.
Nắm vững tinh thần đó, trong thực hiện Nghị quyết 4 (Khóa XII), đội ngũ nhà
giáo phải xây dựng kế hoạch phấn đấu, đề ra nội dung, biện pháp thiết thực cụ
thể, phù hợp làm cơ sở để điều chỉnh hành vi, xác định ý chí quyết tâm, nhất là
trong những tình huống khó khăn, phức tạp, chi phối đến tình cảm, lòng yêu nghề
của ĐNNG. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện để ĐNNG phấn đấu, rèn luyện; lấy nhân tố tích cực đẩy lùi tiêu cực, thói
hư tật xấu tạo nhiều điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong rèn
luyện phẩm chất ĐĐNG theo tấm gương đạo đức Bác Hồ. Mặt khác, phải tích cực
khắc phục khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ về
những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay; làm tổn thương tình cảm và
suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn
vong của Đảng và chế độ. Nhất là đối với những nhà giáo có những biểu hiện
thoái thác nhiệm vụ, thiếu yên tâm, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” trong
công tác giáo dục đào tạo.
Ba là, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và phương
pháp, tác phong công tác cho ĐNNG. Thực tiễn chỉ ra rằng, những nhà
giáo có trình độ hạn chế sẽ thiếu tự tin trong quá trình giảng dạy và không yên
tâm gắn bó với nghề. Để khắc phục tình trạng đó, các nhà trường quân đội cần
đào tạo, bồi dưỡng, trang bị cho đội ngũ nhà giáo có trình độ, năng lực toàn
diện, kiến thức chuyên sâu theo từng lĩnh vực, môn học tham gia giảng dạy cũng
như kỹ năng, phương pháp tác phong sư phạm tốt; có khả năng tư duy khoa học
sáng tạo, biết gắn lý thuyết với thực hành, lý luận với thực tiễn, Nhà trường
với đơn vị và chiến trường. Ngoài ra, cần bồi dưỡng cho đội ngũ nhà giáo có
phương pháp, tác phong khoa học, sâu sát, cụ thể, tỉ mỉ tâm huyết với học viên;
góp phần tạo nên giá trị chân chính của người thầy, có tinh thần đấu tranh kiên
quyết với những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch; tích cực bảo vệ và phát
triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng; bồi dưỡng ý thức tích cực, tự giác tham gia các hoạt động chính trị- xã
hội, nhạy cảm với những vấn đề phức tạp nảy sinh; nói, viết và làm theo đúng
đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; gương mẫu,
tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và học tập, rèn luyện, tu dưỡng bản thân.
Bốn là, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, tạo
điều kiện để các nhà giáo khẳng định mình trong mọi hoạt động thực tiễn.
Môi trường sư phạm là nơi tạo ra những giá trị chân, thiện, mỹ của những người
làm công tác giáo dục. Môi trường sư phạm tốt sẽ làm cho các nhà giáo thêm yêu
quý, gắn bó, toàn tâm toàn ý với nghề; ngược lại, nếu môi trường sự phạm không
tốt sẽ dễ làm cho họ mau chán nản, thiếu quan tâm đến công việc chung, không có
hứng thú trong giảng dạy. Vì vậy, các nhà trường cần quan tâm xây dựng môi
trường sư phạm lành mạnh, thân thiện, tiện ích nhằm tạo tình cảm thân thiết,
khơi dậy khả năng lao động sáng tạo của thầy và trò. Để làm được điều đó, cần
tập trung xây dựng không gian làm việc thoáng, sáng, xanh, sạch, đẹp; trang bị
đầy đủ các thiết bị hiện đại cần thiết phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học
tập, nghiên cứu khoa học. Đồng thời, duy trì nghiêm các quy chế, quy định có
lối sống làm việc kỷ cương, văn hóa, tăng cường đoàn kết, thống nhất cao, cùng
giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ.
Việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức nhà giáo là một yêu cầu tất yếu khách
quan trong xây dựng ĐNNG của các nhà trường. Quán triệt, thực hiện tốt các nội
dung biện pháp trên, sẽ là cơ sở quan trọng để khắc phục mọi hạn chế về đạo đức
nhà giáo; nhận thức đúng đạo đức nghề nghiệp nhà giáo sẽ làm cho đội ngũ nhà
giáo luôn tận tâm, tận lực với nghề, ra sức phấn đấu, rèn luyện đạo đức nghề
nghiệp, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng GD-
ĐT và nguồn lực con người trong sự nghiệp xây dựng Quân đội “cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, có như vậy mới xứng đáng là “người chiến
sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa”, xứng đáng với danh hiệu “Người kỹ sư tâm
hồn” trong các nhà trường quân đội./.
CHÂN LÝ
NGĂN CHẶN VÀ
ĐẨY LÙI BIỂU HIỆN ĐÒI
“ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG ”
Việc chỉ
rõ thực chất, tác hại, sự cần thiết phải đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện
“đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” và khẳng định vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề cấp thiết nhằm góp phần đẩy
mạnh công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời, góp phần ngăn chặn,
đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thực
tiễn cho thấy, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống
phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá
Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích
động, kêu gọi tán dương, cổ xúy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập”.
Mục tiêu
của những luận điệu hô hào, cổ xúy đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”
không gì khác là hạ thấp và đi tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam, bằng
những lời lẽ hết sức mị dân. Họ cho rằng chỉ có “thực hiện chế độ “đa nguyên,
đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”; chỉ có “đa
nguyên, đa đảng” thì xã hội mới có dân chủ thực sự… Thực chất của luận điểm
trên là muốn gây ra những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt
Nam, nhất là làm cho chính trị-xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa
xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng gia tăng, phá
vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
“Đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, rất
dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người nhận thức có phần còn hạn
chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư
tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách
mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm
suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Thực
hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo
xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó cũng
là sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh
cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một
hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân
tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam.
Thực
tiễn cho thấy, ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được
nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự
giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa
chọn một cách đúng đắn. Bằng sự thể nghiệm xương máu trong cuộc đấu tranh cách
mạng với bao khó khăn, gian khổ, hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam, mà
nhân dân ta đã chọn và thừa nhận: Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng
duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
mới đảm bảo cho xã hội Việt Nam phát triển tiến bộ.
Lịch sử
cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam cho thấy: Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn,
giao phó của lịch sử, sự tin cậy của nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm
nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng đã đưa dân tộc
ta từ một dân tộc không có độc lập đến một dân tộc độc lập có tên trên bản đồ
thế giới; đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ đến dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đảng đã
lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại
xâm, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng đã
khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế và tình trạng kém phát triển, trở
thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính
trị-xã hội của đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn
hóa-xã hội có bước phát triển. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có
nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều
sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo cho xã hội Việt
Nam được từng bước phát triển bền vững vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vấn đề đặt ra
đối với chúng ta hiện nay không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng mà là
phải thực hiện tốt hơn nữa vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm cho
xã hội ngày càng phát triển bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh, cần quan tâm làm tốt một số vấn đề sau đây:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo
trên cơ sở trung thành và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, kinh nghiệm của các nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Chăm lo xây dựng
Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu
cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Chăm lo xây dựng đội ngũ
đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là “đầy tớ” trung thành của nhân dân.
Tích cực đấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh.
Hai là, Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo để xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động và
phát triển, nhất là tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân.
Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có đức, vừa có tài, vừa
“hồng”, vừa “chuyên”, nhất là phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn
nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là “công bộc” của dân.
Ba là, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương
cần kịp thời ban hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng
dân” nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp
nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước
đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính
sách phù hợp.
Bốn
là, chăm lo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với bảo đảm cho nền kinh tế
phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng
phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu
hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu-nghèo.
Năm là, quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức
xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng và phát huy
sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, cả người Việt Nam ở trong nước và những
người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc;
tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý,
điều hành của Nhà nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và
dân được thụ hưởng mọi thành quả lao động mà chính mình đã sáng tạo ra.
Sáu
là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan
liêu, lãng phí, nhất là trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong đội ngũ cán bộ,
đảng viên; làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên
quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm khắc, dứt điểm các vụ việc
tham nhũng nghiêm trọng gây hậu quả lớn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
CHÂN LÝ
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)