Thứ Hai, 30 tháng 10, 2017

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

          Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam ta đã trôi qua được hơn 40 năm rồi, đây là sự kiện trọng đại của dân tộc, của đất nước, là hành trang về niềm tự hào dân tộc cho mỗi người Việt Nam yêu nước trong sự nghiệp đổi mới ngày nay… “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".  Sự thật lịch sử đã rõ ràng như vậy, nhưng gần đây lại có kẻ tiếp tục cất lên “tiếng khóc than” cho cái “thây ma” đã sụp đổ từ lâu rồi, họ cho rằng:  “Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã sử dụng quân đội để chiếm đất của cái gọi là “chính thể” Việt Nam cộng hòa”.
          Luận điệu này không hề mới chút nào, thậm chí nó còn là một thứ cũ rich có từ hơn nửa thế kỷ trước, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng đã ra rả tuyên truyền lừa bịp mị dân và đánh lừa dư luận quốc tế nhưng bị vạch trần lâu rồi, thế mà bây giờ lại có kẻ đưa ra điều này cứ nghĩ mình am hiểu lịch sử, thì thật là nực cười, thật ra những kẻ này chẳng có chút hiểu biết gì về lịch sử Việt Nam, nhận xét như vậy vẫn còn là lịch sự, còn nói thẳng toẹt ra là đó là luận điệu của những kẻ phản động, thù địch, của những kẻ đang tâm phủ nhận lịch sử, truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc ta.
          Mặc dầu vậy, một bộ phận nhỏ người Việt kể cả trong nước và đặc biệt là ngoài nước có thể do chưa hiểu lịch sử hoặc cũng có thể do bị thế lực đen tối nào đó lừa bịp mà vẫn ngộ nhận tin rằng: cái chính thể mang tên “Việt Nam Cộng hòa” là hoàn toàn hợp pháp và sự sụp đổ của chế độ đó là do sự “cưỡng chiếm” của quân đội từ miền Bắc vào.
          Vậy sự thật lịch sử về vấn đề này là như thế nào, chúng ta hãy cùng dựng lại bức tranh chân thực nhất của lịch sử đã qua và cũng theo đó luận giải một số vấn đề trên mấy khía cạch sau để cùng nhau tìm ra chân lý của vấn đề
          Cái được gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” có phải là chính quyền hợp pháp hay không?
          Có thể nói, ngay từ đầu, chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đã không có một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…).    
Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo Hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956.
          Tuy nhiên Ngô Đình Diệm - do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm Thủ tướng của chính phủ bù nhìn Bảo Đại - đã tuyên bố không có tổng tuyển cử gì hết, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva, và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.
          Về bản chất chính trị,  cái chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đại diện cho ai ở nước ta? Có phải là đại diện cho nhân dân miền Nam hay không?
          Chế độ này mang bản chất của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ, không bao giờ và chưa bao giờ đại diện cho dân tộc và trên thực tế đã bị nhân dân và lịch sử quay lưng lại.
          Nền tảng trực tiếp cho sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa là chính thể “Quốc gia Việt Nam” (1949-1955) – đây là một chế độ bù nhìn do Pháp lập nên trong thời kỳ kháng Pháp và do cựu hoàng Bảo Đại (mất ngôi hoàng đế sau Cách mạng tháng Tám) làm quốc trưởng. Quốc kỳ “ba que” của Việt Nam Cộng hòa cũng chính là quốc kỳ của “Quốc gia Việt Nam” được Pháp “trao trả độc lập”.
          Như vậy, ngay từ đầu, chính thể này đã không có sự chính danh, mặc dù cùng là người Việt nhưng là lũ Việt gian toàn phần. So với những chính quyền thân Mỹ ở nhiều nước, thuộc địa kiểu mới khác, các thành phần trong bộ máy của cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng hòa” có một đặc điểm chung là: Đó là những thành phần đều đã có một quá trình làm tay sai hoặc cho Pháp, hoặc cho Nhật, hoặc cho Quốc dân Đảng, hoặc cho cả ba thế lực đó. Trước quốc dân đồng bào ta, đám người này không còn chút tư cách đại diện. Ở đây, cần tính đến một đặc điểm lịch sử, Mỹ xâm nhập vào miền Nam sau khi Cách mạng Tháng tám đã thắng lợi trên phạm vi toàn quốc, rồi qua chín năm kháng chiến chống Pháp, các lực lượng xã hội đã phân hóa triệt để. Ở Việt Nam, không còn lực lượng nào đáng kể nào nằm ngoài hai xu hướng chính trị là cách mạng và phản cách mạng. Để có một chỗ dựa, Mỹ không còn cách nào khác là phải tìm lại trong đám tay sai cũ của Pháp, điều đó giải thích cho bước chuyển từ “Quốc gia Việt Nam” sang “Việt Nam Cộng hòa” là bước chuyển từ làm tay sai cho thực dân Pháp sang làm tay sai cho đế quốc Mỹ.
          Ở Việt Nam, cái chính thể “Việt Nam cộng hòa” do Mỹ dựng lên chỉ là một chính quyền tay sai bản xứ kém cỏi và mục nát, chính quyền đó không có chỗ dựa nào khác ngoài sức mạnh của Mỹ. Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, từ Nguyễn Khánh đến Nguyễn Văn Thiệu đều không còn thế lực kinh tế, chính trị hay tinh thần. Chính vì vậy, khác với việc xâm nhập các quốc gia, dân tộc khác mà Mỹ đã từng cho là thành công, trong trường hợp ở Việt Nam, Mỹ không tốn công, tốn của lắm để sai khiến và khống chế  chính quyền tay sai này. Nhưng cũng chính vì thế Mỹ phải tốn rất nhiều tiền của để nhào nặn và chống đỡ cho nó khỏi sụp đổ. Nước Mỹ giàu là thế, nhưng trong lịch sử nước Mỹ, chưa bao giờ người Mỹ tỏ ra thiếu khả năng tài chính khi giải quyết một vấn đề quốc tế như cuộc chiến tranh Việt Nam, lúc đỉnh điểm họ phải bỏ ra một số tiền khổng lồ 20 tỉ USD chi ra hàng năm là mức không thể chịu nổi trong một thời gian dài. Chúng ta biết rằng người Mỹ vốn rất thực dụng, họ đã cho đi cái gì thì luôn muốn nhận lại được nhiều hơn, nhưng cách đây nửa thế kỷ nếu mà họ biết một cách tường tận rằng tiền đóng thuế cho quốc gia của mình được đem “đầu tư” cho một cái chính thể bù nhìn, mục nát, trả lương hàng tháng cho hàng trăm nghìn con người ở nơi cách xa nước Mỹ cả nửa vòng trái đất để làm mỗi cái việc bắn giết chính đồng bào mình…thì có lẽ họ sẽ quyết định “rút cái ống thở” ngay để cho cái chính thể “bệnh hoạn” này được ra đi sớm hơn năm 1975…
          Cái công cụ bạo lực của cái gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” thực chất là gì? Nó là thứ từ đâu mà ra?
          Câu trả lời ngắn gọn đầu tiên là: Chính thể Việt Nam Cộng hòa là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân hại nước, đang tâm làm tay sai cho các thế lực ngoại bang.
          Cái công cụ gọi là “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” được xuất phát từ chính lực lượng ngụy quân đã sát cánh bên quân đội viễn chinh Pháp dưới lá cờ tam tài! Đa phần các tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn đều đã từng phục vụ trong quân đội Pháp hoặc quân đội “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại để bảo vệ nền thống trị của người Pháp ở Đông Dương. Chính vì vậy mà dưới trướng Diệm, vẫn gồm có gần đủ ngần ấy bộ mặt thời Pháp. Có vô số những cai đội và lính trơn thời Pháp được thăng vọt lên cấp úy và tá. Cũng có không ít sĩ quan cấp ủy thời Pháp được thăng cấp tướng, điển hình như thiếu úy Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Pháp thuộc đóng đồn ở Hưng Yên từng bị du kích nơi đây đuổi đánh chạy bán sống, bán chết sau này là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu rồi ngoi lên làm tới tận tổng thống chẳng hạn.
          Cái gọi là “Cảnh sát Quốc gia” của chế độ ngụy cũng không hơn. Nó bắt nguồn từ lực lượng cảnh sát và mật thám của Pháp tại Đông Dương từ năm 1946. Thời kỳ 1956 – 1959, Diệm đã huy động tới hàng chục vạn cảnh sát, mật vụ, thám báo, cai ngục, đao phủ, tỏa đi khắp miền Nam. Đội quân này ít dung đại bác và chiến xa, nhưng dùng súng ngắn, chó săn, thuốc độc, xích sắt, gông cùm, xà lim và máy chém.
          “Quân lực Việt Nam cộng hòa anh dũng có thừa”, đó là câu nói của Ngô Đình Nhu (em trai) đồng thời là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm, khi trả lời báo chí quốc tế, điều đó có lẽ đúng nhất là khi chính quân đội này làm đảo chính (11/1963), đã ra tay nhanh gọn, quyết liệt sát hại không chút do dự chính hai anh em ông ta. Cái gọi là “anh dũng” còn được thể hiện ở những nơi buồng biệt giam, trong khi các người tù binh cộng sản, cả tay và chân bị cùm chặt thì chúng lại trở thành những hung thần, bạo chúa, ác độc hơn cả loài cầm thú (đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục…), nhà tù Phú Quốc - địa ngục trần gian do quân đội Sài Gòn tạo ra  - là minh chứng hùng hồn cho những vi phạm nhân quyền và những tội ác kiểu trung cổ trời không dung đất không tha của chế độ ngụy. Trong “cuộc chiến vì tự do”, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ - những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như hãm hiếp phụ nữ Việt Nam, thảm sát dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napalm và các loại bom chùm có sức sát thương tàn bạo…
          Quân lực “Việt Nam cộng hòa” được trang bị vũ khí Mỹ, hỏa lực Mỹ yểm trợ mạnh, do cố vấn Mỹ chỉ huy và huấn luyện rất bài bản các chiến thuật hiện đại nhất như “trực thăng vận”, “thiết xa vận” “bủa lưới phóng lao”, “phượng hoàng vồ mồi”. Thế nhưng, chẳng hiểu sao, trên tất cả 4 vùng chiến thuật quân lực Việt Nam cộng hòa bị quân giải phóng đánh cho tan tác, vô cùng hoang mang, run sợ, bị tiêu diệt gọn từng đại đội, tiểu đoàn đến cả chiến đoàn là rất phổ biến…Vì sao lại như vây?...       có một thứ mà chính người Mỹ cũng thừa nhận là họ không thể mang đến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa được – đó là tinh thần chiến đấu quả cảm và sự mưu trí sáng tạo.
          Cái gọi là chính thể Việt Nam cộng hòa có được lòng dân Việt Nam hay không?
Trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy tìm hiểu những diễn biến của lịch sử, cách đây đã hơn nửa thế kỷ: Ở miền Nam dưới ách Mỹ-ngụy, liên tục diễn ra các cuộc biểu tình của dân chúng, của Phật giáo, sinh viên, trí thức, ký giả. Năm 1961 có 23 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, chủ yếu là xuống đường biểu tình (nhất là phong trào của học sinh, sinh viên). Năm 1962 có 20 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, Năm 1963 có 35 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị, trong đó có phong trào Phật giáo…Nếu cái chính thể này được lòng dân sao biểu tình nhiều thế…
Anh em nhà Diệm được quan thầy Mỹ chỉ đạo đã đẩy mạnh chương trình cái gọi là “Ấp chiến lược” với ý định đến hết năm 1962 tập trung 10 triệu dân ở nông thôn vào 16.000/ 17.000 “ấp chiến lược”, điều này có khác gì biến đại bộ phận nhân dân miền Nam trở thành người bị cầm tù ngay trên chính quê hương mình, dân lành không oán than, kêu than, không chống đối mới là lạ. Chính thực tiễn lịch sử đã diễn ra như một dòng chảy tự nhiên vốn có của nó…. Cái gọi là quốc sách “ấp chiến lược” đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của đồng bào MN, có ấp bị phá vỡ ngay từ đầu, có ấp bị phá nhiều lần, có nhiều ấp chiến lược biến thành làng chiến đấu. Năm 1962: ta phá 2.650 ấp chiến lược, năm 1963 ta phá 2.740 ấp chiến lược.
Thế rồi khi cuộc chiến tranh Việt Nam bị người Mỹ đẩy lên cao nhất bởi chiến lược “chiến tranh cục bộ”, hàng chục vạn quân viễn chinh Mỹ và đồng minh trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, liên tục ném bom bắn phá miền Bắc, đã có hàng triệu đồng bào ta bị giết hại bởi bom đạn Mỹ, ngụy, lúc này cái bộ mặt bán nước, hại dân “rước voi về giày mả tổ” của cái kẻ có tên gọi là chính thể “Việt Nam cộng hòa” càng lộ rõ, có lẽ mãi mãi về sau người đời sẽ còn tiếp tục nguyền rủa cái chính thể đã trở thành “thây ma” này.
Trong suốt 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hiếm có nơi đâu trên thế giới này giống như ở chiến trường miền Nam, hình thành được thế “da báo” giữa Mỹ, ngụy và lực lượng cách mạng miền Nam. Vậy thì, lòng dân theo ai? Nếu thiếu sự che chở bao bọc của đông đảo nhân dân thì cách mạng miền Nam có bám trụ được nhiều năm đến thế hay không trong cuộc chiến đầy cam go ác liệt này.
Nếu cái gọi là Việt Nam Cộng hòa thực sự hợp lòng dân, được nhân dân ủng hộ thì có lẽ sẽ không xuất hiện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (vào năm 1960), cùng với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam (năm 1961), rồi sau đó là chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (vào năm 1969) ngay trên phần đất của miền Nam Việt Nam, với nhân lực chính là người miền Nam, nói giọng miền Nam. Như vậy ở phía nam vĩ tuyến 17 đã hình thành 2 vùng kiểm soát với 2 quân đội tương ứng, khiến cho tính hợp pháp và chính danh của chế độ Việt Nam Cộng hòa vốn đã kém lại càng bị thách thức nghiêm trọng.
Có lẽ còn rất nhiều khía cạnh khác nữa để khai thác về vấn đề này, nhưng câu chuyện tôi muốn kể trên đây không phải là dựng cái “thây ma” chính thể “Việt Nam cộng hòa” để chửi rủa cho sướng mồm, hay khơi lại những đau thương mất mát một thời của dân tộc, mà muốn nhắn nhủ những ai còn đang mơ hồ rằng: cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đơn giản chỉ là một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, hay luận điệu: “chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa xua quân đội cưỡng chiếm đất của “Việt Nam cộng hòa” đó là những nhận thức lệch lạc của những kẻ không hiểu biết lịch sử Việt Nam, thậm chí còn là sự che đậy những tư tưởng phản động, cực đoan, hòng phủ nhận lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phủ nhận sự cống hiến hy sinh anh dũng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh này.
                                          Đức Bách

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét