Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

KHÔNG ĐỂ TÁI PHÁT CĂN BỆNH CHỦ QUAN, DUY Ý CHÍ
Một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã chỉ ra là: “Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác”.
Thực chất của duy ý chí là tuyệt đối hóa vai trò của ý chí con người trong cải tạo thực tiễn mà bỏ qua, ít tính đến điều kiện thực tiễn, coi thường hoặc thoát ly quy luật khách quan. Biểu hiện phổ biến của chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, đốt cháy giai đoạn, bắt thực tiễn chạy theo ý chí chủ quan của con người, bất chấp quy luật khách quan. Chính căn bệnh chủ quan, duy ý chí đã dẫn đến việc tạo ra chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Và ngược lại, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp lại trở thành điều kiện thuận lợi thúc đẩy cho chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí phát triển.
Cán bộ, đảng viên khi mắc phải căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến đề ra các chủ trương, quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành xã hội xa rời thực tiễn; đường lối, chủ trương, quyết sách không phản ánh lợi ích của tập thể, không thể hiện được ý chí của quần chúng nhân dân mà chỉ là lợi ích, ý chí của một bộ phận, một nhóm người nào đó. Mặt khác căn bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ khiến con người ta tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, biện pháp mệnh lệnh hành chính, hành động bất chấp quy luật khách quan. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền mắc bệnh chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng chức quyền, mất dân chủ, thờ ơ với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng... Những hệ lụy tiêu cực từ căn bệnh chủ quan, duy ý chí đối với đời sống kinh tế-xã hội là hết sức khó lường. Người mắc bệnh chủ quan, duy ý chí giữ chức vụ càng cao, vị trí càng quan trọng thì ảnh hưởng càng lớn, hậu quả càng nặng nề. Căn bệnh này nếu không được phát hiện, sửa chữa có thể dẫn đến khủng hoảng và thất bại; nếu được phát hiện và sửa chữa cũng sẽ trả giá cho những tổn thất, làm chậm tốc độ phát triển của xã hội.
Trong thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những bài học thấm thía về căn bệnh này. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã chỉ rõ: "Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: Nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp…". Từ nhận định đó cho thấy chủ quan, duy ý chí là một trong những nhân tố chủ yếu dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm trong việc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta suốt một thời gian dài.
Chủ quan, duy ý chí là một trong những căn bệnh diễn ra khá phổ biến ở nước ta trong thời kỳ trước đổi mới. Nhưng nói như thế không có nghĩa là trong giai đoạn hiện nay căn bệnh này đã hết. Nơi này, nơi kia những biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí vẫn bộc lộ, gây tác hại không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Do chủ quan, duy ý chí mà một số bộ, ngành, địa phương đề ra chỉ tiêu kế hoạch quá xa vời, quá cao, không phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tiễn, dẫn đến không thực hiện được, gây ra sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế. Từ thực tế Việt Nam bước ra hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới với xuất phát điểm rất thấp, do đó trong nội bộ đã xuất hiện tư tưởng, quan điểm phải chấp nhận đánh đổi để đẩy nhanh phát triển kinh tế bằng mọi giá, phải lấy chỉ số tăng trưởng làm thước đo... Do tham vọng tăng trưởng nhanh mà chính quyền một số địa phương sẵn sàng làm mọi cách để chèo kéo nhà đầu tư, trong đó có việc bỏ qua hoặc hạ thấp yêu cầu tiêu chuẩn về quản lý xã hội và bảo vệ môi trường. Chính tư tưởng nôn nóng ấy đã dẫn đến trong quản lý, điều hành chúng ta không giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chỉ nhấn mạnh phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến những vấn đề văn hóa-xã hội và môi trường. Sự cố ô nhiễm môi trường biển ở các tỉnh bắc miền Trung là một ví dụ điển hình cho thấy điều ấy. Những hạn chế trong quản lý, điều hành ở Hà Tĩnh không chỉ dẫn đến sự cố về môi trường mà còn làm nảy sinh biết bao nhiêu vấn đề về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phức tạp khác mà cho đến nay chúng ta vẫn đang phải giải quyết.
Để phòng, chống căn bệnh chủ quan, duy ý chí trong cán bộ, đảng viên có nhiều việc cần làm, nhiều biện pháp phải thực hiện. Nhưng quan trọng trước hết là việc học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên. Lý luận là kim chỉ nam chỉ ra phương hướng cho thực tiễn, đồng thời lý luận gắn với thực tiễn là cơ sở cho phương pháp hành động phù hợp, hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Trình độ lý luận vững cũng là nền tảng cho phong cách tư duy khoa học. Cán bộ, đảng viên nếu thiếu phong cách tư duy khoa học thì sớm hay muộn cũng vướng vào tư duy kinh viện, tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa giáo điều, duy ý chí. Trong nhiều văn kiện, Đảng ta đã chỉ rõ những hạn chế, sự non kém về lý luận khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, thiếu cái nhìn toàn diện, lịch sử, cụ thể và đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh chủ quan, duy ý chí.
Cùng với học tập nâng cao trình độ lý luận, chúng ta cần chống lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng, ý chí chủ quan. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả. Bởi đây là cơ sở nền tảng giúp cán bộ, đảng viên không mắc vào căn bệnh chủ quan, duy ý chí. Nếu thiếu phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả thì căn bệnh chủ quan, duy ý chí rất dễ tái phát. Cán bộ, đảng viên sẽ rất khó hoàn thành tốt nhiệm vụ, khó có uy tín trong quần chúng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả.
Mặt khác, cán bộ, đảng viên phải đề cao ý thức dân chủ, phát huy tốt dân chủ, thực hiện tốt quyền dân chủ của quần chúng nhân dân. Dân chủ cũng là biểu hiện của phương pháp, tác phong làm việc khoa học trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, phát huy tốt tính tích cực, năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân và trí tuệ của tập thể trong thực hiện các nhiệm vụ. Đảng ta luôn coi phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả là một phẩm chất quan trọng không thể thiếu của người cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một trong những phẩm chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”.
                                                             Công Bằng
CÓ PHẢI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG LÀ SẢN PHẨM RIÊNG
 CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN?
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu chung của nhân loại, nó được tồn tại và phát triển qua các phương thức sản xuất khác nhau. Dưới chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường được coi là mục tiêu. Vì vậy, họ lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, chiếm đoạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Vai trò thống soái của chủ nghĩa tư bản trong cơn lốc toàn cầu hóa kinh tế đã đe dọa lợi ích đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới. Tự cho mình quyền tự do chiếm đoạt, tự do xâm lược, tự do bóc lột, tự do khủng bố, tự do phân biệt chủng tộc…Bất chấp tất cả miễn sao chiếm đoạt được nhiều lợi nhuận.
Đối với chúng ta coi kinh tế thị trường là phương tiện, cách thức để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH gắn chặt với việc không ngừng nâng cao đời sống toàn diện của nhân dân, tuyệt nhiên không phải là mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như CNTB đã làm. Kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước không những giữ vững được sự ổn định trước những chấn động kinh tế lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, văn hóa, xã hội được phát triển. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

                                    Trung Lập

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
 LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng M­­ười Nga nổ ra thắng lợi, đánh dấu bước đột phá vĩ đại mở đầu thời đại mới. Ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mư­­ời Nga thắng lợi và sự ra đời Nhà nư­­ớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã trở thành biểu t­­ượng của niềm tin và sự cổ vũ mãnh liệt đối với hàng ngàn triệu người thuộc các dân tộc bị áp bức nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, thực dân vùng lên đấu tranh tự giải phóng.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng M­ười Nga, cùng với sự ra đời và phát triển của hàng loạt nư­­ớc xã hội chủ nghĩa trên thế giới, phong trào Cộng sản với t­­ư cách đội tiên phong chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của phong trào công nhân quốc tế tr­­ưởng thành vững mạnh về chính trị, tư­­ tư­­ởng và tổ chức, trở thành một lực lượng có ảnh h­­ưởng mang ý nghĩa quyết định đến xu thế vận động của thời đại, lan toả ảnh hư­­ởng sâu rộng đến các dân tộc thuộc địa, làm thức tỉnh và tiếp thêm sức mạnh cho họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Noi theo tấm g­­ương của Cách mạng Tháng M­ười, phong trào đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc trên thế giới liên tiếp giành được thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa - một vết nhơ của văn minh nhân loại, vốn tồn tại gần nửa thiên niên kỷ; đồng thời khai sinh một thực thể quốc tế mới, bao gồm hơn một trăm quốc gia đang phát triển mới giành đư­­ợc độc lập dân tộc.
Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ đưa các tầng lớp nhân dân lao động Nga khỏi thân phận bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ xã hội, làm chủ đất nước, mà còn mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, soi sáng con đường cho các dân tộc bị áp bức và giải phóng hàng triệu, hàng triệu người lao động trên trái đất, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Với ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Mười thực sự là cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nhất, chân chính nhất và triệt để nhất trong lịch sử.
Hiện nay, các thế lực thù địch, những kẻ chống chủ nghĩa xã hội, những phần tử cơ hội chính trị đang trên mọi cách phủ nhận những giá trị, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười, nhưng họ không thể phủ nhận được một sự thật là, Cách mạng Tháng Mười đã tác động và ảnh hưởng to lớn đến tiến trình vận động và phát triển của thế giới đương đại. Những lý tưởng cao đẹp mà hiện nay nhân loại đang tiếp tục hướng tới như: độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hòa bình, dân chủ, bình đẳng, bác ái cho mọi người, xóa bỏ áp bức, bóc lột, xóa nghèo nàn, lạc hậu, tệ phân biệt chủng tộc... cũng chính là lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga.
Sau hơn 70 năm xây dựng, sự đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (trước đây) và ở một số nước Đông Âu không phải là “kết quả tất nhiên” của Cách mạng Tháng Mười như các phần tử chống chủ nghĩa xã hội vẫn cố tình lầm tưởng, mà đó là kết quả của sự đi chệch khỏi con đường đã được Cách mạng Tháng Mười soi sáng. Vẫn còn đó nhiều mô hình chủ nghĩa xã hội đầy sức sống là bằng chứng hùng hồn khẳng định sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga vào hoàn cảnh cụ thể mỗi nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước đó đã đạt được những thành tựu ngày càng to lớn trên nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước; qua đó khẳng định trên thực tế sự phù hợp quy luật phát triển xã hội của Cách mạng Tháng Mười và giá trị trường tồn của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười trong đời sống nhân loại.
Là một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại của giai cấp vô sản, Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho các dân tộc đang đấu tranh để tự giải phóng nhiều bài học quý báu về nghệ thuật đấu tranh giành và giữ chính quyền, vai trò lãnh đạo của chính Đảng vô sản cầm quyền, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Những bài học đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong quá trình lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, xây dựng chế độ xã hội mới theo lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười; thực hiện: “Nhà máy và công xưởng thuộc về người lao động”, “Ruộng đất cho dân cày”, “Hòa bình cho nhân dân” và “Tự do, bình đẳng bác ái cho các dân tộc bị áp bức”.
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga với một tư duy mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Với kiên định ấy, Đảng ta đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách và mang lại những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng-an ninh, đặc biệt là trong suốt 30 năm thực hiện đổi mới đất nước.
Hiện nay, cách mạng nước ta đang ở vào một thời kỳ mới: thời kỳ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới nhằm mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta cần đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc; sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, các hoạt động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đánh bại chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Đúng như V.I.Lê-nin đã chỉ rõ, “phải có một đội quân kiên cường vững mạnh” và “thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và trên toàn thế giới đều tùy thuộc vào sự tăng cường quân đội”. Thực tiễn nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười đã chứng minh những luận điểm đó của V.I.Lê -nin là hoàn toàn đúng đắn và cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay vừa có những thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn thách thức mới. Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lê-nin và bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga về xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng cách mạng và từ những bài học đau xót về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông âu trong những năm 90 của thế kỷ XX, việc xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới cần tập trung vào một số định hướng cơ bản sau đây:
Trước hết, cần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân trong mọi tình huống, nhằm làm cho lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị Quân đội nhân dân. Chú trọng công tác xây dựng chi bộ, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong các đơn vị dân quân, tự vệ. Đổi mới nội dung, hình thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; sự quản lý điều hành của chính quyền địa phương đối với lực lượng vũ trang; đổi mới nội dung, hình thức kết hợp giữa các cơ quan chức năng của Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội với các đơn vị quân đội, công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh trên địa bàn. Nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng và quản lý của chính quyền các cấp đối với các lực lượng tự vệ ở các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp dân doanh, các lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ đặc biệt, làm nhiệm vụ hợp tác quốc tế. Nghiên cứu thành lập các tổ chức đảng trong các lực lượng tự vệ ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở kinh tế tư nhân, đảm bảo nguyên tắc ở đâu có lực lượng vũ trang, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Làm tốt công tác phát triển đảng viên trong các lực lượng vũ trang, đặc biệt là trong các đơn vị dân quân, tự vệ ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, trong các đơn vị tự vệ ở các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...
Hai là, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nghiên cứu làm rõ nội dung của các yêu cầu “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo nhận thức mới, tư duy mới, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an. Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của lực lượng vũ trang, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng và Nhà nước. Đẩy mạnh chính quy hóa và từng bước hiện đại hóa lực lượng vũ trang theo lộ trình phù hợp; nâng cao năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các quân, binh chủng, phấn đấu đạt tới trình độ tinh nhuệ về mọi mặt quân sự, chính trị, chuyên môn, kỹ thuật, đặc biệt là tinh nhuệ về chính trị: có trình độ hiểu biết sâu, rộng lý luận chính trị, giỏi đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng, lý luận, chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch; hiểu biết đầy đủ các yêu cầu, nội dung đấu tranh quốc phòng, đấu tranh pháp lý, đấu tranh ngoại giao quốc phòng trong hợp tác quốc tế để bảo vệ độc lập, chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc; vừa giỏi đấu tranh bằng phương thức vũ trang, vừa giỏi đấu tranh bằng phương thức phi vũ trang; vừa tinh nhuệ trong tác chiến quân sự vừa tinh nhuệ trong tác chiến phi quân sự chống bạo loạn lật đổ và các hoạt động chống phá bằng quân sự và phi quân sự khác của các thế lực thù địch. Đổi mới cơ cấu và tổ chức phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng. Nghiên cứu phát triển chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung của Quân đội nhân dân nói riêng để quân đội thực hiện tốt chức năng chiến đấu, công tác, sản xuất trong điều kiện mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có số lượng đủ, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân đội trong mọi tình huống. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng trong quân đội, làm cho chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống chính trị-tinh thần quân đội. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục giác ngộ mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết giữa cán bộ và chiến sỹ, đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát huy tốt dân chủ nội bộ đi đôi với giữ nguyên kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà Nước. Thực hiện tốt chế độ chính ủy, chính trị viên ở tất cả các cấp, tăng cường hiệu lực của người chỉ huy.
Ba là, xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ rộng khắp, có tổ chức chặt chẽ, có chất lượng cao, thực sự làm nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân ở từng địa phương, từng cơ sở, là một lực lượng xây dựng cơ bản trong xây dựng khu vực phòng thủ. Chăm lo xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh cả chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ phải vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh tại địa phương, vừa tham gia sản xuất, phát triển kinh tế, giữ vững sự ổn định chính trị; trật tự an toàn xã hội ngay trong từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp, từng thôn xóm, bản, làng; làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở, vận động quần chúng nhân dân ngay từ trong từng gia đình, thôn xóm, bản, làng. Trong tình hình mới, cần nghiên cứu tổ chức dân quân, tự vệ sao cho hợp lý, nhất là tổ chức dân quân ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tự vệ trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên, các lực lượng bán vũ trang đông đảo, tạo nguồn bổ sung lực lượng kịp thời cho lực lượng vũ trang. Chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong dân quân, tự vệ; tăng cường công tác chính trị - tư tưởng, làm cho dân quân, tự vệ thực sự là chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa phương.
Bốn là, Tăng cường đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với các lực lượng vũ trang. Giáo dục và vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang; ủng hộ và giúp đỡ các lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ. Giáo dục sâu rộng trong toàn dân, nhất là trong thanh thiếu niên, nhi đồng hình ảnh cao đẹp, tấm gương trong sáng về chính trị, đạo đức, lối sống của người chiến sỹ Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng trong thời kỳ mới. Có chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang, đặc biệt là chính sách đối với các lực lượng dân quân ở nông thôn, tự vệ ở thành phố, xí nghiệp, nhà máy, với các lực lượng dự bị động viên trong điều kiện mới.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quôc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đây là vấn đề phải được đặt trong tổng thể của Nhà nước và kế hoạch của Bộ Quốc phòng, dựa trên cơ sở huy động các nguồn tiềm năng sẵn có trong phát triển nghệ thuật quân sự. Đồng thời, bản thân khoa học nghệ thuật quân sự cũng phải tích cực chủ động tham gia phát triển nền khoa học quân sự Việt Nam, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang nói chung, xây dựng Quân đội nhân dân từng bước tiến lên chính quy, hiện đại sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Quán triệt quan điểm coi trọng vai trò lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng là bảo đảm tính nhất quán, xuyên suốt, kế thừa và liên thông trong triển khai thực hiện quy hoạch chiến lược nghiên cứu phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Đồng thời, phải quan tâm củng cố nền tảng chính trị - xã hội, thống nhất về quan điểm, nhận thức và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Nghiên cứu phát triển lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ mới phải kế thừa và phát huy ý thức tự lực, tự cường, dựa vào nội lực là chủ yếu, đồng thời tranh thủ tối đa những thời cơ thuận lợi để chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là quan hệ với các đối tác chiến lược.
Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay đối với chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Vận dụng những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười Nga trong điều kiện mới ở Việt Nam, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Chính phủ, Bộ Quốc phòng những vấn đề liên quan đến phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân một cách sát thực, đúng với yêu cầu thực tiễn đặt ra, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó để Đảng, Nhà nước đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                               Biển Rộng

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SỰ TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO ĐƯỢC GHI TRONG HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VÀ MỸ
Trong những năm gần đây người ta hay thấy việc nước Mỹ có những nhận định, đánh giá liên quan đến vấn đề tôn giáo ở một số nước, trong đó có Việt Nam. Thông qua những cái gọi là báo cáo về tình hình tôn giáo được dựa trên những căn cứ của riêng họ. Với những nhận xét đó nước Mỹ đã khiến người ta cảm nhận rằng vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thật sự đang rất tồi tệ. Nhất là khi các cơ quan chức năng của Việt Nam tiếp tục bắt giữ xử lý những đối tượng vi phạm pháp luật, trong đó một số đối tượng là giáo dân, như đã thành thói quen, trên một số phương tiện truyền thông nước ngoài lập tức tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam, họ vu cáo rằng nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, vi phạm tự do tôn giáo. Nhưng thực tế thì không phải như vậy; những khẳng định hay báo cáo về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam là không chính xác hoặc thậm chí là rất sai lầm. Ở Việt Nam, người dân được Nhà nước bảo hộ trên cơ sở pháp luật; hoàn toàn được thực hiện những quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. Các quy định liên quan đến đến hoạt động tôn giáo được Nhà nước Việt Nam quy định rõ ràng và cụ thể trong các văn bản pháp luật như trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật về tín ngưỡng, tôn giáo của pháp luật Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày 18 tháng 11 năm 2016 có quy định rõ trong điều 3, chương I vềTrách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: 1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.
Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người được ghi tại mục 1, điều 6, chương II: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Mục 1, điều 5, chương I quy định về  các hành vi bị nghiêm cấm“Cấm  phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo”.  Vậy còn ở nước Mỹ, nước tự xưng là tự do tôn giáo chuẩn mực thì sao?
Thực tế ở Mỹ, tuy rằng luật pháp cũng có quy định một số điều liên quan đến vấn đề tôn giáo nhưng tự do tôn giáo ở Mỹ chỉ là sự tự do lựa chọn tôn giáo và tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo. Công dân Mỹ có thể tự do trong việc lựa chọn tôn giáo, nhưng họ lại ít có tự do trong việc từ bỏ tôn giáo. Thông thường, mỗi người dân Mỹ đều phải thuộc về một tôn giáo nào đó và tham gia một tổ chức tôn giáo nào đó. Trên thực tế những người không theo tôn giáo nào hay thậm chí có thái độ thờ ơ với tôn giáo, và hơn nữa là những người có quan điểm vô thần thường bị hạn chế về quyền lợi. Ở một số bang, sự hạn chế này còn được quy định bằng luật pháp của bang. Có thể lấy ra đây một vài ví dụ như:Theo Hiến pháp của bang New Hampshire được thông qua năm 1784, những người không phải là tín đồ Tin lành thì không thể được vào Hạ viện hoặc Thượng viện của bang này; Hiến pháp của bang Delaware được thông qua năm 1776 có điều khoản quy định khi được bầu vào Hạ viện hay được bổ nhiệm vào chức vụ nào đó người được bầu phải tuyên thệ rằng mình tin vào Chúa Cha và Chúa Giêsu Kitô, con một của Người và Chúa Thánh thần, đồng thời xác tín Kinh Thánh – Cựu ước và Tân ước (Điều khoản này được ghi trong Hiến pháp bang Delaware cho tới tận năm 1972); Hiến pháp bang North Carolina quy định rằng, nếu người nào phủ nhận sự tồn tại của Chúa, phủ nhận tính xác thực của Tin Lành giáo, tính thiêng liêng của Cựu ước và Tân ước hoặc theo tôn giáo không dung hợp với tự do và an ninh của bang thì sẽ không có quyền giữ các chức vụ. Còn ở bang Maryland người ta tỏ thái độ không thể dung thứ đối với những người không thuộc Giáo hội Kitô giáo và không tin vào những tín điều của Chúa Ba Ngôi; Hiến pháp bang Massachusetts được thông qua năm 1780 cũng quy định rằng, thống đốc, phó thống đốc bang, hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ trước khi nhậm chức phải kí một tuyên bố rằng họ theo Kitô giáo và tin tưởng một cách vững chắc vào tính xác thực của tôn giáo này.Hay như mặc dù vẫn có khoảng 17% người dân Mỹ không theo một tôn giáo nào nhưng Chính phủ Mỹ vẫn bắt buộc họ phải sử dụng đồng Dollas có in dòng chữ “In God We Trust” (Chúng ta tin tưởng vào Chúa) và  trong rất nhiều hoạt động chính thức, kể cả các kỳ họp Quốc hội người Mỹ bắt đầu bằng việc cầu kinh Thiên Chúa giáo; trong lễ nhậm chức, tân tổng thống Mỹ đặt tay lên một cuốn Kinh Thánh và tuyên thệ…Nước Mỹ là một quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo, vốn luôn tự cho mình là “thế giới tự do”, nếu theo các quy định trên của Hiến pháp của một số bang nước Mỹ, giả sử có một công dân Mỹ nào đó đang theo đạo Phật hay đạo Hồi hoặc các tôn giáo khác mà lại muốn có một vị trí quan trọng hàng đầu trong bộ máy chính quyền của nước Mỹ thì có lẽ điều kiện đầu tiên người đó phải cải sang các dòng của Kitô giáo, chứ không phải do năng lực vượt trội mà được tin dùng…Cái gọi là“tự do” hay “chuẩn mực” về tín ngưỡng, tôn giáo của nước Mỹ lại ở chỗ này sao…Liệu như vậy ở nước Mỹ bây giờ có sự phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo hay không?
 Khi nêu ra những điều này, suy nghĩ của cá nhân tôi không nhằm chê trách về sự “công bằng” trong vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của nước Mỹ. Tuy nhiên những thứ đó lại được Mỹ cho là “chuẩn mực” để cho mình cái quyền được can thiệp, xem xét và đánh giá vấn đề tôn giáo ở một số nước, thì đây lại là một việc hết sức phi lý và nực cười. Vấn đề tôn giáo ở Việt Nam được luật pháp Việt Nam quy định là phù hợp với tâm nguyện của người dân, phù hợp với văn hóa, truyền thống cũng như lịch sử đất nước. Tâm nguyện ấy khác với tâm nguyện của người dân Mỹ, truyền thống văn hóa ấy đã có hàng ngàn năm  nên nước Mỹ hãy xem lại chính bản thân mình trước áp đặt cái gọi là “tự do tôn giáo”  như nước Mỹ.

Đức Bách


NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC VỀ LĨNH VỰC
QUỐC PHÒNG - AN NINH VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt tuyên truyền, xuyên tạc chống phán những vấn đề đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của chúng ta, nhằm mục đích suy giảm niềm tin của nhân dân vào  đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp quân sự, quốc phòng và lực lượng vũ trang
Lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại, làm suy yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam. Chúng tham vọng ảo tưởng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị, không thực hiện đúng chức năng...luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng tập trung phá hoại bằng nhiều thủ đoạn hết sức đa dạng, tinh vi và thâm độc, trong đó, thông tin xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, mà trọng điểm là Quân đội và Công an đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện mưu đồ trên.
Chúng đưa ra các thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật về tình hình quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học, thực tiễn, hoặc là những thông tin, luận điệu dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật, đã và đang diễn ra nhưng được lập luận theo lối xảo trá, “đánh lận con đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng không khó nhận diện. Chủ yếu vẫn là: đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an, quy kết rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển. Thậm chí, chúng còn dàn dựng những tình huống va chạm với cảnh sát giao thông để quay phim, chụp ảnh rồi tuyên truyền xuyên tạc bản chất sự việc. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta...
Không khó để nhận thấy lực lượng tiến hành các hoạt động thông tin và đưa ra những luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh gồm cả những đối tượng phản động trong nước và ngoài nước, những kẻ cơ hội chính trị, thành phần bất mãn với chế độ, những kẻ ham lợi ích vật chất, bị thế lực thù địch móc nối, mua chuộc, dụ dỗ. Bên cạnh đó, cũng có một số người do kém hiểu biết, bị thiếu thông tin chính thống hoặc người có hiểu biết nhưng bàng quan và thiếu ý thức chính trị đã có những hành động, phát ngôn không đúng, vô tình tiếp tay tuyên truyền cho các thế lực thù địch, phản động.
Để thực hiện các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, ngoài việc sử dụng các phương tiện truyền thống, hiện nay chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét với các trang mạng của một số đài nước ngoài phát tiếng Việt, đặc biệt là Facebook và Blog (với khả năng siêu kết nối, Facebook đang là lựa chọn số một cho hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của chúng). Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ (thanh niên, học sinh, sinh viên) nhằm tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước ta.
Các hoạt động thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc, khi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng - an ninh, hoặc khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Cùng với các hoạt động khác, mục tiêu cuối cùng của chúng là phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Quân đội và Công an, vô hiệu hóa Quân đội, Công an khi đất nước có biến động.
Quán triệt quan điểm của Đảng: “…kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...”; đồng thời, để hiện thực hóa phương châm: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái…”, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Thứ nhấtnâng cao nhận thức, nêu cao tinh thần cảnh giác của nhân dân trước những thông tin và luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Điều này có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Có nhận thức đúng tính chất nguy hại của sự việc mới có ý thức cảnh giác, đề phòng. Do đó, công tác giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân về lĩnh vực quốc phòng - an ninh phải coi trọng điểm này, phải làm cho nhân dân thấy rõ đâu là thông tin chính thống, đâu là thông tin bịa đặt, nhằm dụng ý xấu để cảnh giác. Việc làm này phải được tiến hành một cách kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục, chú trọng những vùng có lịch sử chính trị - xã hội phức tạp, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo sinh sống; địa bàn có vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh. Cần tập trung tuyên truyền làm rõ vị trí, vai trò của công tác quốc phòng - an ninh, mối quan hệ giữa an ninh và quốc phòng, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh; an ninh biên giới, an ninh biển; chủ quyền biển đảo,... hướng tới thống nhất nhận thức, tư tưởng, ý chí và hành động, đúng với quan điểm: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc…”3. Phương thức tuyên truyền cần đa dạng, phong phú, như thông qua hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, các trang mạng xã hội, qua giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng trong xã hội.
Thứ haicung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong thời đại của in-tơ-nét, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc, hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội. Tất nhiên, trừ các thông tin bí mật quân sự, bí mật quốc gia, các thông tin khác, nhất là về các sự kiện lớn, đột xuất, phức tạp, nhạy cảm, có thể gây bất ổn xã hội, thì luôn cần có thông tin chính thống, kịp thời từ cơ quan chức năng, từ người có thẩm quyền phát ngôn cho báo chí, đó chính là sự định hướng dư luận hiệu quả nhất.
Hiện nay, mạng in-tơ-nét là phương tiện được các thế lực thù địch sử dụng nhiều nhất, là trận địa thông tin nóng bỏng nhất, nếu không chủ động thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời đáp ứng nhu cầu của công chúng thì trận địa sẽ bị bỏ trống và đương nhiên kẻ thù sẽ ào lên chiếm lĩnh. Vì vậy, trong khi việc kiểm soát, chế tài các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống còn gặp nhiều rào cản, khó khăn, thì cách tốt nhất để đẩy lùi thông tin bịa đặt, sai lệch là phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch cho nhân dân. Để thông tin minh bạch, chính xác, kịp thời, đáp ứng nhu cầu của công chúng, phải bảo đảm chế độ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng báo chí “đói” nguồn thông tin chính thống và chính xác.
Thứ baxây dựng lực lượng đấu tranh phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh. Trong đó, tập trung vào đội ngũ nhà báo, nhà nghiên cứu, thông tin viên, tuyên truyền viên trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Đây là lực lượng đưa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước đến với quần chúng nhanh và hiệu quả nhất, là những người trực tiếp góp phần đập tan thông tin và luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Do vậy, cần xây dựng lực lượng này có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ; chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm cho họ, bảo đảm để lực lượng này là nòng cốt, xung kích trong đấu tranh, phản bác những thông tin bịa đặt, xuyên tạc về quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng.
Nhận diện, đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là cuộc chiến lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng. Trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng. Sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của lực lượng này làm nòng cốt cho toàn dân là nhân tố trực tiếp trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                                                                                HOÀNG THÁO

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU "ĐAU LÒNG QUÁ! QUÂN ĐỘI Ở ĐÂU TRONG GIỜ NÀY?” CỦA TỔ CHỨC VIỆT TÂN, XUYÊN TẠC BẢN CHẤT TRUYỀN THỐNG VÀ MỐI QUAN HỆ MÁU THỊT QUÂN VỚI DÂN
Do vị trí địa lí tự nhiên của Việt Nam nằm ở phía Tây của bán đảo Đông Dương, phía đông giáp với Biển Đông nên thường xuyên xảy ra thiên tai, bão, lũ và lụt. Đặc biệt những năm gần đây do biến đổi khí hậu phức tạp nên mật độ tàn phá của thiên tai đối với nước ta ngày càng tăng lên đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về người và của cho nhân dân cả đất nước.
Trước những tình hình đó, nhiệm vụ phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng, huy động toàn, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tích cực tham gia công tác này nên đã đạt được nhiều kết quả thiết thực. Trong đó, Quân đội ta là lực lượng nòng cốt tham gia cứu hộ, cứu nạn và xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng yêu cầu mọi đơn vị và cán bộ, chiến sĩ phải phấn đấu vượt qua để tiếp tục tô thắm thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện mới.
Để chủ động phát huy vai trò tham mưu giúp cho Đảng, Nhà nước lãnh đạo quản lí điều hành có hiệu quả về công tác phòng, chống và khắc phục thiên tai, ngày 09/8/2004 Cục Phòng, chống thiên tai của Quân đội ta được thành lập với chức năng, vai trò là cơ quan tác chiến đầu ngành tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo toàn quân thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống thiên tai, cứu hộ - cứu nạn. Đặc biệt Cục Phòng, chống thiên tai của Quân đội thực hiện tốt chức năng là văn phòng thường trực tham mưu cho Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn và giúp Chính phủ chỉ đạo điều hành các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai sự cố gây ra.
Đối với các đơn vị trong toàn quân, đều được bổ sung nhiệm vụ, tổ chức huấn luyện, diễn tập và thực hiện tham gia phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên các địa bàn công tác. Coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ từng năm của từng đơn vị, từ đó quán triệt, giáo dục và tổ chức huấn luyện tốt nên những năm qua các đơn vị đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương và các đơn vị bạn tham gia tích cực và hiệu quả các vụ thiên tai, hoả hoạn xảy ra.
Riêng từ đầu năm 2017 đến nay, nước ta đã bị 15 cơn bão đổ bộ từ biển vào đất liền gây ra lũ lụt, sạt lở đất nghiêm trọng và nhiều vụ thiên tai hoả hoạn khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và tài sản của đồng bao ta trên khắp cả nước. Song với truyền thống, bản chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ, phát huy tinh thần trách nhiệm cao của đội quân công tác, các đơn vị quân đội đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, làm tốt công tác tư tưởng, huy động hàng chục vạn ngày công tham gia sơ tán tính mạng, tài sản của nhân dân, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả giảm thiểu thiệt hại do thiện tai gây ra và ủng hộ tiền, vật chất giúp đỡ nhân dân các vùng này sớm ổn định cuộc sống. Quá trình tham gia nhiệm vụ phòng chống và khắc phục thiên tai, đã có nhiều tấm gương anh dũng hi sinh trong khi làm nhiệm vụ. Những cống hiến to lớn đó của các đơn vị đã chứng minh rằng dù trong thời chiến hay thời bình,ở đâu, lúc nào xuất hiện những tình huống đe doạ đến tính mạng và tài sản của nhân dân thì ở đó và khi ấy đều xuất hiện những tấm gương sáng với những hành động đẹp của người quân nhân cách mạng giúp đỡ và bảo vệ nhân dân. Từ những việc làm thiết thực đó tiếp tục tô thắm thêm hình ảnh người lính Cụ Hồ trong lòng nhân dân cả nước.
Trong khi đó, những ngày gầnđây chuyện nực cườiđã xảy ra đó là:trong lúc quân và dân cả nướcđang nỗ lực ngàyđêm khắc phục hậu quả bão lũ gây ra thìtrên một số trang mạng xã hội, lực lượng phản động Việt Tân đã tung tin với những luậnđiệu mập mờvới chủ đề “Đau lòng quá! Quân đội ở đâu, cán bộ ở đâu trong giờ này?” nhằm mục đích phủ nhận vị trí, vai trò và trách nhiệm của quân đội đối với nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. mục đích đen tối của lực lượng phản động này nhằm chia rẽ mối đoàn kết gắn bó máu thịt quân với dân./.
Hoa Súng


Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA 
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Trong bài viết “Không thể có hòa giải khi cái ác còn ngự trị” của tác giả mang bút danh Phạm Đình Trọng trên trang Danlambao có đoạn viết: “Đầu năm 2017, người đứng đầu hội Nhà Văn của đảng cộng sản Việt Nam đánh tiếng mời gọi các nhà văn người Việt ở nước ngoài về nước mở hội hòa giải, hòa hợp dân tộc vào ngày giỗ Vua Hùng”…, với mục đích “góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp” (trích nội dung thư mời của Hội nhà văn Việt Nam). Nếu chỉ như vậy thì không phải bàn luận gì thêm. Nhưng vì mục đích chia rẽ đoàn kết, hòa hợp dân tộc bằng sự kích động hận thù dân tộc mà Phạm Đình Trọng đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích nhân văn, nhân đạo của Hội nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc gặp mặt này với những cáo buộc rằng: “làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc chỉ là cách nói văn vẻ, hoa mỹ và sáo rỗng, cách nói né tránh, lừa mị, giấu ý đồ thực vốn là thuộc tính của những người cộng sản”. Thật thô thiển khi Phạm Đình Trọng còn viết: “Nếu gặp để làm lành, gặp để hòa giải và phục thiện thì dù là cuộc gặp của cái ác với nạn nhân của cái ác cũng đáng gặp và cần gặp. Nhưng có phải gặp để làm lành, để hòa giải, để cái ác phục thiện?”. Vậy sự thật vấn đề đoàn kết, hòa hợp dân tộc ở Việt Nam như thế nào?
Kể từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lòng yêu nước và sự nhân ái của nhân dân luôn được coi trọng như nền tảng tinh thần cho sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Bằng chứng là, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong khi phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, trước những lo lắng của đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ khi biết tin Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cùng đoàn đại biểu Nhà nước Việt Nam sang Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, nên trong thư gửi đồng bào Nam Bộ (01/06/1946) Người viết: “đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Nội dung bức thư đã thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết, hòa hợp dân tộc, nhất là lòng nhân ái, khoan hồng đại độ của Người trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng, Nhà nước Việt Nam vận dụng thực hiện trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc thống nhất một nhà. Bước vào thời kỳ đổi mới, bám sát tình hình và nhu cầu thực tiễn, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kịp thời xác định nhiều chủ trương, chính sách về đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW vào ngày 12/03/2003 về “phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết 24-NQ/TW về  “công tác dân tộc”; đặc biệt Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về “công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, khẳng định: Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Đây là quan điểm định hướng chiến lược làm cơ sở thống nhất về nhận thức, tư tưởng, tổ chức, chính sách để thực hiện đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Cho đến nay, những định hướng đó đang từng bước được hiện thực hóa.
Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định sự nhất quán các quan điểm, chủ trương của Đảng về đoàn kết, hòa hợp dân tộc, trong đó xác định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; truyền thống nhân nghĩa, khoan dung đề cao tinh thần dân tộc, để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”. Tại Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước…”.

Dẫn ra những quan điểm chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đoàn kết, hòa hợp dân tộc để thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng, củng cố, tăng cường đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, Phạm Đình Trọng cho rằng: “Đảng cộng sản cầm quyền chưa hòa giải được với người dân trong nước đang đóng thuế nuôi nấng đảng làm sao đảng cộng sản có thể hòa giải được với người dân phải bỏ nước ra đi chạy trốn cái ác cộng sản”Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật về chính sách đoàn kết, hòa hợp dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục đích kích động hận thù dân tộc, cần phải được vạch trần và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.
CHÂN LÝ
THÀNH TỰU GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM 
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
  Gần đây, trên một số trang mạng phản động, xuất hiện bài viết “Do sự đào tạo của cộng sản, ở Việt Nam một số người đã trở nên mất tính người” của một “nhà dân cuội” dưới bút danh “Nhà giáo Miền Nam”. Xuyên suốt bài viết, “nhà dân cuội” này một mặt cố gắng “khoe bày” vốn kiến thức rất nông cạn của mình về nền văn hiến Việt Nam; một mặt cố tình xuyên tạc những thành tựu giáo dục mà Việt Nam đã đạt được từ khi có Đảng lãnh đạo. Không quá khó để nhận rõ động cơ và âm mưu không trong sáng, tốt đẹp ẩn sau những ngôn từ “hoa mĩ” xen lẫn “chợ búa”, “vỉa hè” của “nhà dân cuội” này. Những luận điệu trong bài viết này chỉ là sự “a dua” nói theo “phong trào” của đám “dân cuội” bám gót ngoại bang, nhằm phủ nhận thành tựu phát triển giáo dục Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Với vốn kiến thức thiển cận, cộng lối suy diễn “hằn học”, chủ quan không che giấu mưu đồ thấp hèn, “Nhà giáo Miền Nam” đã đưa ra nhận định sai trái rằng: “Trong chế độ CS, chúng ta không thể gọi là “nền giáo dục”. Thật trơ trẽn và nực cười! Không hiểu “nhà dân cuội” này được sinh ra ở đâu và được “dạy dỗ” như thế nào mà “cả gan” đến vậy? Phải chăng đầu óc mụ mị của y đang bị “điều khiển” bởi các thế lực đen tối, chỉ có thể “phát” ra những câu vô nghĩa mà chính bản thân y không hiểu gì? Hẳn y không thể hiểu được ham học, coi trọng việc học hành được hình thành lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác đã trở thành truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Và truyền thống ấy đang được tiếp tục phát huy cao độ trong thời đại ngày nay, giúp dân tộc Việt Nam không chỉ thoát nghèo mà còn có thể giàu có một cách sang trọng.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng,  nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Có thể khái quát trên các nội dung lớn như sau: 1) Nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng tốt hơn; 2) Đạt được những kết quả quan trọng trong các mục tiêu chiến lược (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi  dưỡng nhân tài); 3) Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn; 4) Chất lượng giáo dục đã có chuyển biến tích cực; 5) Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục ngày càng được tăng cường.
Phát triển giáo dục ở Việt Nam đã không còn là “chuyện riêng của Đảng”, của ngành giáo dục, mà là của cả xã hội, của mỗi gia đình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng người dân Việt Nam không chỉ thoát nạn mù chữ mà ngày càng phát triển cao về trí tuệ và tài năng; có nhiều mặt ngang bằng với các nước phát triển nhất thế giới. Giáo dục là quốc sách giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi sự “nô dịch” về văn hóa của ngoại bang, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Giá trị văn hiến nghìn năm của dân tộc, theo đó cũng “nở hoa”, tỏa hương sắc khắp năm châu. Sự thật hiển nhiên là thế! Vậy mà “Nhà giáo Miền Nam” lại tìm ra luận điệu sai trái: “chế độ CS chủ trương phản giáo dục, phá giáo dục, đi ngược với giáo dục”. Thật là những lời lẽ u mê, ngu muội!
Hiện nay, mặc dù giáo dục Việt Nam còn có những hạn chế và đang gặp phải nhiều khó khăn, thử thách mà ngành giáo dục phải nỗ lực vượt qua để đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân. Tuy nhiên, không vì thế chúng ta bi quan, chùn bước. Bởi, lịch sử chứng minh, trong những thời khắc lịch sử “ngặt nghèo”, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam lại tỏa sáng. Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, nhất định Việt Nam sẽ vươn đến tầm cao tri thức; phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở rộng hội nhập quốc tế. Trong quá trình ấy, hiển nhiên sẽ có quá trình đào thải, loại bỏ những kẻ ngu muội và phản trắc như “Nhà giáo Miền Nam./.
                                                               CHÂN LÝ


CẢNH GIÁC BÀI VIẾT CỦA “BẠCH HOÀN” XUYÊN TẠC NHIỆM VỤ CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA
Trong bài viết, Bạch Hoàn đã cố tình xuyên tạc việc Đảng, Nhà nước đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước của một số cán bộ cấp cao gần đây; việc xử lý kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh nhằm gây ra sự hoài nghi, chia rẽ nội bộ trong Đảng và gây hoài nghi trong nhân dân ta. Những năm qua, Đảng ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, Hội nghị BCHTW lần thứ 4 (khóa XII) ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Việc phòng chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được những kết quả nhất định. Nhiều vụ tham nhũng lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã bị phát hiện và xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật.
 Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã xét kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh vì đã vi phạm các khuyết điểm sau: Chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2015 – 2020; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; kê khai, sử dụng bằng cấp không đúng quy định, thiếu trung thực, vi phạm tiêu chuẩn cấp ủy viên và quy định những điều đảng viên không được làm; thiếu gương mẫu trong việc nhận, sử dụng ôtô do doanh nghiệp biếu, tặng và sử dụng 2 nhà ở của doanh nghiệp, gây dư luận xấu trong xã hội. Dư luận đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng đây là mức kỷ luật vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn, thấu lý đạt tình, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa chung rất sâu sắc, không có chuyện đấu đá nội bộ như Bạch Hoàn đã cố tình xuyên tạc, bịa đặt.
Qua đọc bài viết “Hai kỳ hội nghị, một sự thất bại” của kẻ có danh xưng là “Bạch Hoàn” cho thấy đây là luận điệu bịa đặt nhằm xuyên tạc kết quả Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) của Đảng ta nhằm chia rẽ, gây hoài nghi trong nội bộ Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, mọi người hãy nêu cao tinh thần cảnh giác với những luận điệu phản động, xuyên tạc trên.
                                                                   CHÂN LÝ


Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

   ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG ĐẢNG
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển Internet nhanh nhất thế giới. Điều này tiềm ẩn những yếu tố đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, điển hình là tình trạng các thế lực thù địch, phản động sử dụng mạng viễn thông, Internet để tuyên truyền, đưa thông tin "thật, giả lẫn lộn" nhằm phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, gây rối, bạo loạn với mục đích không đổi là xóa bỏ chế độ, sự lãnh đạo của Đảng, chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong vài năm trở lại đây, lực lượng chức năng qua công tác điều tra đã phát hiện và đưa ra xét xử hàng loạt đối tượng với âm mưu truyền truyền chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền và điển hình là việc lực lượng chức năng bắt giữ đối tượng Nguyễn Danh Dũng cách đây vài ngày.
Đối tượng Nguyễn Danh Dũng trú tại phường Tào Xuyên, thành phố Thanh Hóa đã có hành vi đăng tải, phát tán hàng trăm video có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng Internet thông qua các tài khoản tự lập, tự quản trị và tự điều hành trên Youtube và các trang mạng xã hội như facebook, Blog. Đáng nói là những loại thông tin xuyên tạc, bịa đặt này lại thu hút số lượng người xem rất lớn và được phát tán với tốc độ chóng mặt.
Thậm chí, có những video độc hại do Dũng tải lên đã thu hút được hàng chục triệu lượt người xem. Với tội danh "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân", Nguyễn Danh Dũng có thể sẽ phải chịu khung hình phạt lên đến 7 năm tù giam. Đây được đánh giá là loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, đối tượng phạm tội có trình độ về công nghệ thông tin, với nhiều thủ đoạn đối phó gây khó khăn cho quá trình điều tra. Cùng với đó, bằng cách tận dụng các phương tiện thông tin truyền thông, không gian mạng, các lực lượng phản động, thù địch không chỉ dừng lại ở việc xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo đạo Đảng, Nhà nước mà chúng còn đang tích cực khoét sâu và thổi phồng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, môi trường, an sinh xã hội; trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; để từ đó phê phán, đổ lỗi cho Đảng. Những hành động của Nguyễn Danh Dũng vừa qua và hành động của những kẻ phản động tương tự được đánh giá là độc hại, nguy hiểm, gây nhiễu loại thông tin, hiểu nhầm, tác động tiêu cực tới niềm tin của nhân dân, thậm chí ngay cả một bộ phận cán bộ đảng viên với Đảng, Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã khẳng định, những thông tin xuyên tạc phản động của các thế lực thù địch cùng sự lơ là, mất cảnh giác của một số cán bộ đảng viên đang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Tình trạng này có thể dẫn tới việc tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Do đó, việc phá án thành công, mở rộng điều tra, làm rõ các hành vi phạm tội nguy hiểm của Nguyễn Danh Dũng đồng thời đề xuất xử lý nghiêm các đối tượng này đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của dư luận.
Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mới đây, theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương, chỉ tính trong 7 tháng đầu năm nay đã phát hiện và đấu tranh ngăn chặn hơn 12.000 loại tài liệu chiến tranh tâm lý, phản động; ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả 16 chiến dịch kích động biểu tình, kêu gọi trả tự do cho cái gọi là "tù nhân lương tâm, nhà dân chủ yêu nước" và hàng ngàn tài liệu, tin, bài có nội dung phản động trên 280 trang web, blog, mạng xã hội. Do đó, việc đấu tranh, phát hiện, xử lý nghiêm các đối tượng, đặc biệt là các đối tượng đã nhiều lần phạm tội về tuyên truyền xuyên tạc chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền là hoạt động đã được đặc biệt chú trọng.
Theo ý kiến của các tầng lớp nhân dân, cần có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xuyên tạc, phản động, thể hiện một thái độ cứng rắn, răn đe đối với các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị, tiếp tục khẳng định pháp luật, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ không dung túng những kẻ bịa đặt, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích Quốc gia, đến danh dự, uy tín của Đảng và thậm chí là phản bội Tổ Quốc. 

CHÂN LÝ