BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ HIỆN NAY
Hơn 30
năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta
đã thu được thành tựu to lớn, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải
thiệnrõ rệt, an ninh chính trịvà trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo,dân chủ
ngày càng được mở rộngvà đang thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước đi và từng chính sách phát triển kinh tế. Những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam là điều không thể phủ nhận được và là
tiền đềrấtquan trọng để tiếp tục sự nghiệpđổi mới, đẩymạnh CNH, HĐH đất nước.
Tuy vậy,
kết quả trên lĩnh vực tư tưởng chính trị (TTCT) lại không tương xứng với sự
tăng trưởng kinh tế - xã hội. Bên cạnh lực lượng đông đảo cán bộ, đảng viên và
nhân dân tin tưởng, đồng thuận với chủ trương, đường lối của Đảng, thì những tư
tưởng trái chiều vẫn đang diễn biến với tính chất ngày càng phức tạp, phạm vi
ngày càng lan rộng và mức độ ngày càng tăng.
Ngay từ
những năm đầu của công cuộc đổi mới, Đảng ta đã phát hiện và cảnh báo sự suy
thoái về TTCT hết sức nguy hại đối với cách mạng Việt Nam. Sự suy thoái về TTCT
lần đầu tiên được nhắc đến tại Hội nghị Trung ương sáu (lần 2) khoá VIII:
“trong Đảng đang bộc lộ một số mặt yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị;
tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phạn cán bộ, đảng viên có
chiều hướng phát triển nghiêm trọng...”(1). Đảng đã đưa ra nhiều
giải pháp quan trọng, trong đó có Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với
quyết tâm chính trị “ngăn chặn và đẩy lùi một bước quan trọng tình trạng suy
thoái, trước hết về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ
phận cán bộ, đảng viên, củng cố sự kiên định về mục tiêu lý tưởng cách mạng,
tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ, sinh
hoạt dân chủ, tăng cường kỷ cương, đoàn kết thống nhất; ... nhằm nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ
vững ổn định chính trị - xã hội. Đây là vấn đề sống còn của Đảng, của
chế độ ta”(2).
Đã qua
nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, kể cả đã phát động, triển khai các cuộc vận động
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
nhưng vẫn không đạt được mục tiêu đề ra. “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình
trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa
được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân
hoá giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều
ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn
định, phát triển của đất nước”(3).
Nghị
quyết Trung ương 4 khoá XI đã một lần nữa hạ quyết tâm chính trị, xác định
nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất là “Kiên quyết đấu tranh ngăn
chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng”(4).Vì vậy,
việc tiếp tục nhận diện, xác định rõ nguyên nhân và thực hiện các giải pháp
nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về TTCT trong một bộ phận cán bộ đảng viên
hiện nay trở thành một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng
Đảng.
Tư tưởng
chính trị là kết quả của tư duy, nhận thức chính trị và biểu
hiện ở hệ thống các quan điểm, niềm tin, lý tưởng chính trị, sự trung thành với
Đảng cầm quyền và chế độ chính trị. Suy thoái về TTCT là sự
giảm sút đến mức báo động về niềm tin của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên
và nhân dân đối với quan điểm, đường lối của Đảng, đối với vai trò lãnh đạo của
Đảng và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.
Sự suy
thoái về TTCT trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay được biểu
hiện:
Thứ
nhất,không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách
mạng, mơ hồ, dao động, hoài nghi về con đường đi lên CNXH, hoài nghi về khả
năng lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ.
Đây là
biểu hiện sự suy thoái về TTCT ở mức độ thấp nhưng điều đáng lo ngại là với số
lượng không nhỏ, lại có xu hướng ngày càng tăng, không dễ ngăn chặn, đẩy lùi.
Mặc dù sau Đại hội XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu khá đầy đủ và sáng tỏ
nhữngđặctrưng củaxã hộiXHCNmànhân dân ta xây dựng,nhưng một bộ phận cán bộ,
đảng viên và nhân dân vẫn chưa đồng thuận. Trong đó có những kẻ cơ hội, không
tin vào mục tiêu lý tưởng, chủ trương chính sách của Đảng nhưng không thể hiện
chính kiến, thậm chí khi nói và viết thì tỏ ra tin tưởng, cổ vũ nhưng thực chất
là sự chống đối ngấm ngầm, rất khó phát hiện, chờ cơ hội thuận lợi là sẵn sàng
từ bỏ con đường CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã chọn.
Thứ hai,một số cán bộ, đảng viên đương chức có vai trò quan trọng trong công tác
nghiên cứu, tham mưu và chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở các ngành, các địa phương
chưa thực sự thống nhất trên một số vấn đề cơ bản về quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách lớn của Đảng.
Khi
thuộc về thiểu số trong các quyết định về quan điểm, chủ trương của Đảng ở các
cấp, một số cán bộ, đảng viên trở nên bất bình, thiếu ý thức chấp hành nguyên
tắc của Đảng trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện; một số
tỏ ra thiếu hào hứng, lúng túng, làm hình thức, đối phó, thậm chí có hành vi
trì hoãn việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng. Đó là một trong
những nguyên nhân khiến nhiều nghị quyết đúng đắn của Đảng chậm đi vào cuộc
sống, hiệu quả rất thấp.
Thứ ba,nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả đương chức hay nghỉ hưu tuy vẫn trung thành
với Đảng nhưng lại thụ động, thiếu bản lĩnh, không dám lên tiếng đấu tranh với
những kẻ cơ hội.
Không ít
tổ chức đảng hiện nay thiếu quan tâm đến công tác tư tưởng, để mặc cho những tư
tưởng phức tạp diễn ra ngay trong tổ chức mình. Nguyên nhân khá phổ biến là do
ngại va chạm, sợ bị trù úm mà không dám đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương
của Đảng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn của đồng chí mình. Những thông tin sai
lệch, một chiều, thiếu căn cứ khoa học, có dụng ý xấu vẫn lan tràn mà không
được ngăn chặn, giải thích lại cho đúng, làm cho đảng viên, quần chúng hoang
mang, dao động, làm cho tổ chức đảng ở đó tê liệt, mất sức chiến đấu và làm mất
lòng tin của nhân dân.
Thứ tư,một số cán bộ, đảng viên do bất mãn cá nhân, cơ hội tiếp tay cho địch,
tuyên truyền quan điểm sai trái, độc hại trong xã hội; một số do nhận thức
không đầy đủ, đúng đắn, trong đó có cả cán bộ đã từng cống hiến lâu năm cho
cách mạng, bị các thế lực xấu ở trong và ngoài nước tâng bốc, đã ngấm ngầm hoặc
công khai phát tán tài liệu, truyền bá những quan điểm sai trái với chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Một số
khác tuy không bị kẻ địch lợi dụng nhưng vẫn tích cực phát tán tài liệu, bình
luận, suy diễn, công khai cổ suý cho những nhận định sai trái, thiếu khách quan
về một số sự kiện có liên quan đến lịch sử cách mạng hoặc một số cá nhân lãnh
đạo với dụng ý xấu. Có cả cán bộ, đảng viên tìm đọc và tuyên truyền những tài
liệu không chính thống, có nội dung chống phá cách mạng, làm hại đến uy tín của
Đảng, của một số lãnh tụ, vô tình làm tăng thêm sự suy thoái về TTCT, làm trầm
trọng thêm những mâu thuẫn vốn có trong nội bộ Đảng. Đây là mức độ nguy hiểm
cao của sự suy thoái về TTCT. Cá biệt có trường hợp do ít nhiều đã có uy tín
chính trị trong nhân dân nên những quan điểm chính trị lệch lạc, sai trái của
họ có ảnh hưởng rất tiêu cực đến một bộ phận đáng kể cán bộ và quần chúng, có
sức lan toả rất nhanh, rất khó trong quá trình xử lý và uốn nắn những sai lầm
lệch lạc đó.
Nguyên
nhân sâu xa của thực trạng nêu trên là do những khiếm khuyết về lý luận chính
trị. Việc luận giải con đường đi lên CNXH, các quan điểm phát triển kinh tế -
xã hội trong thời kỳ quá độ, vấn đề dân chủ, lý luận xây dựng Đảng, nhà nước
pháp quyền XHCN chưa thực sự có sức thuyết phục cao. Hơn nữa, các thế lực thù
địch đẩy mạnh “diễn biến hoà bình”, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng nhằm làm rệu
rã hệ tư tưởng cộng sản, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ
XHCN.
Nguyên
nhân trực tiếp là những yếu kém trong công tác tư tưởng của Đảng. Tình trạng
dân chủ hình thức và thiếu kỷ luật, kỷ cương trong sinh hoạt đảng diễn ra khá
phổ biến ở nhiều tổ chức đảng; chưa chủ động, kịp thời và kiên quyết đấu tranh
chống các tư tưởng trái chiều, ngại va chạm, không dám đấu tranh phê bình những
tiêu cực trong nhận thức, TTCT sai trái trong tổ chức mà mình tham gia. Nhiều
cán bộ, đảng viên ít quan tâm đến học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị, thiếu ý
thức trách nhiệm trong việc tổ chức thực hiện, nói không đi đôi với làm. Tình
trạng quan liêu, tham nhũng tràn lan chậm được khắc phục... Đó chính là quá
trình “tự chuyển hoá, tự diễn biến” trong nội bộ Đảng, làm cho TTCT của toàn
Đảng dễ bị phân liệt, lòng dân ly tán, rất dễ dẫn đến khủng hoảng niềm tin.Để ngăn
chặn và đẩy lùi sự suy thoái về TTCT trong Đảng và trong xã hội, Đảng ta đã đề
ra các giải pháp và chúng ta cần tiếp tục kiên trì thực hiện:
Thứ nhất,tiếp tục tăng cường sự thống nhất trong
Đảng về nhận thức, ý chí và hành độngtrên cơ sở thực hiện đúng nguyên tắc đảng
trong hoạt động của mọi tổ chức đảng và từng đảng viên.
Trong
điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển như vũ bão của
khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin hiện nay giúp cho mỗi đảng
viên, mỗi tổ chức đảng và toàn Đảng có thể tiếp thu thông tin đa dạng, nhiều
chiều trong đó có không ít thông tin sai trái, lệch lạc. Do vậy, phải kiên trì
nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, qua đó, mọi thành viên trong mỗi tổ
chức đảng thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số để nhất quán trong quá
trình triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng. Đảng viên đượcquyền bảo lưu
ý kiến thuộc về thiểu số nhưng phải nói và làm theo đúngnghị quyết, cương lĩnh,
điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Đó là sức mạnh TTCT của Đảng.
Mỗi đảng
viên phải kiên định những nguyên tắc mà ngay trong quá trình đổi mới Đảng ta đã
đề ra, đó là: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng;
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, không chấp
nhận “đa nguyên, đa đảng”; Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân, thể hiện khối đại đoàn kết trên nền tảng liên minh của giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tập trung
dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng;
kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai
cấp công nhân.
Thứ hai,đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn ở tất cả các cấp
uỷ đảng.
Trong
tiến trình đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn khi chuyển đổi cơ chế vận
hành của nền kinh tế - xã hội từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN đã dần được làm sáng tỏ, tạo sự thống nhất trong
Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân. Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề phức
tạp cần được tiếp tục làm rõ. Xuất phát từ vai trò "đi trước, mở đường” của công tác tư tưởng lý
luận, cần tập trung nghiên cứu những vấn đề bức xúc trong quá trìnhđổi mới.
Hiệu quả của cuộc đấu tranh chống suy thoái về TTCT phụ thuộc một cách căn bản
ở sự hoàn thiện lý luậnvề CNXH và con đường đi lên CNXH ởnước tavà kết quả cuộc
chiến chống tham nhũng hiện nay.
Đối với
từng địa phương, cơ sở, việc tổng kết thực tiễn cũng hết sức cần thiết. Đã có
khá nhiều chủ trương đúng đắn của Đảng, của cấp trên và của chính tổ chức đảng
cấp cơ sở ban hành, nhưng kết quả thực hiện thường rất thấp. Hiện tượng nghị
quyết, chỉ thị quá nhiều, trùng lắp, thiếu sơ kết, tổng kết hoặc sơ kết tổng
kết mang tính hình thức đang làm cho nhiều đảng viên và nhân dân thờ ơ với
những nghị quyết quan trọng, đúng đắn mà chúng ta đã dày công xây dựng.
Phải
chăng có nguyên nhân là nghị quyết quá nhiều, tản mạn, phạm vi đề cập quá rộng,
thiếu tính khả thi, thiếu xác định nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, thiếu sự phân
công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong quá trình thực hiện, thiếu sự
kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện và thiếu kiểm điểm việc thực hiện
nhiệm vụ của đảng viên, cấp uỷ viên có liên quan? Đó là những vấn đề bức xúc,
cần nghiêm túc kiểm điểm để tìm ra các giải pháp khả thi, khắc phục sự bàng
quan, thờ ơ của đảng viên và dân chúng đối với các chủ trương của Đảng.
Thứ ba,đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tuyên
truyền, giáo dục lý luận chính trị có chất lượng và hiệu quả vẫn là con đường
chủ yếu để nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng trong Đảng, sự
đồng thuận trong nhân dân. Hệ thống giáo dục TTCT toàn quốc, nhất là hệ thống
các trường chính trị cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học lý luận, coi trọng chất lượng và hiệu quả. Để đáp ứng
yêu cầu học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cần sớm củng cố hệ thống đào tạo
chính trị lý luận; phân định rõ chức năng nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo; quy
định chế độ bồi dưỡng bắt buộc đối với cỏn bộ, đảng viên các cấp, chế độ giảng
viên kiêm chức, khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên tự giáchọc tập, nâng cao
trình độ thường xuyên. Đồng thời, phải phát huy vai trò của các cấp uỷ đảng
trong công tác tư tưởng, xây dựng và thực hiện quy định mọi đảng viên có trách
nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, trước hết là người đứng đầu cấp uỷ. Tổ
chức thảo luận dân chủ, cởi mở, bảo đảm tự do tư tưởng theo đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số
trên cơ sở có quy định cụ thể về việc nghiên cứu những ý kiến bảo lưu của từng
đảng viên, thành viên của tổ chức đảng, bảo vệ uy tín, danh dự của họ, tụn vinh
họ nếu ý kiến bảo lưu đó được nghiên cứu kết luận là đúng đắn, có giá trị lớn
về lý luận và thực tiễn. Nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác tư tưởng của
các cơ quan thông tin đại chúng và hệ thống xuất bản,cổ vũ động viên các nhân
tố mới, những điển hình tiên tiến.
Thứ tư,đấu tranh chống các quan điểm TTCT lệch lạc, sai trái, sớm phát hiện và xử
lý kịp thời những vấn đề bức xúc về tư tưởng phát sinh.
Một mặt
phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà
bình” của các thế lực thù địch, mặt khỏc phải chủ động phòng ngừa, đấu tranh,
phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Đây
là biện pháp quan trọng, trực tiếp nhằmkhắc phục sự suy thoái về TTCTtrong cán
bộ, đảng viên.
Để giữ
gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội về TTCT, phải theo
dừi, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp
giải quyết kịp thời. Thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, quy định của Đảng về
bảo vệ Đảng; xử lý kịp thời theo pháp luật và kỷ luật đảng mọi hoạt động tán
phát tài liệu xấu, thông tin bịa đặt, các thư nặc danh, mạo danh có nội dung
xấu.
Thứ năm, mỗi tổ chức đảng đều phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình,
chống suy thoái về TTCTngay trong mỗi tổ chức đảng mà đảng viên là thành viên. Không
thể nói sự suy thoái TTCT là của tổ chức đảng nào đó còn tổ chức mình không có
chuyện gì xảy ra cả. Theo những dấu hiệu nêu trên thì sự suy thoái về TTCT có
thể xuất hiện ở bất cứ tổ chức đảng nào, ở bất cứ đảng viên với chức vụ lãnh
đạo, quản lý cấp nào. Đối với mỗi đảng viên, nhất là những đảng viên giữ cương
vị lãnh đạo mà không làm hay chậm làmnhững điều
đáng ra cương vị trọng trách của mình phải làm hoặclàm đối phó đều
là những biểu hiện của sự suy thoái. Các tổ chức đảng phải là nơi thể hiện tính
chiến đấu cao nhất chống sự suy thoái về TTCT.
Với
phương châm lấy xây là chính, cần quan tâm xây dựng một môi trường sinh hoạt
chính trị lành mạnh, hiệu quả trên cơ sở quán triệt nghiêm túc các chủ trương
của Đảng. Tăng cường sự đối thoại, thảo luận dân chủ, cởi mở, tạo sự nhất trí,
đoàn kết, tạo sức mạnh tinh thần to lớn để “miễn dịch”với những tư tưởng
sai trái. Cách tốt nhất làthường xuyên cung cấp thông tin, trao đổi, thảo luận
nghiêm túc những vấn đề mới, phát sinh trong TTCT nhằm tạo sự nhất trí về đường
lối của Đảng. Đồng thời, phải nâng cao sức chiến đấu của Đảng, thường xuyên tự
phê bình và phê bình, kiên trì đấu tranh chống tư tưởng sai trái, uốn nắn những
lệch lạc phát sinh. Nếu đảng viên đó được tổ chức đảng giúp đỡ nhưng vẫn truyền
bá ý kiến riêng, tán phát tài liệu trái với cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của
Đảng, phát tán những thông tin thất thiệt, bất lợi cho công tác tư tưởng phải
xem xét xử lý kỷ luật Đảng, thậm chí phải xử lý theo pháp luật. Đó là những
biện pháp thiết thực nhằm góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về TTCT
trong cán bộ, đảng viên hiện nay.
CHÂN LÝ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét