Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

 VNeID – BƯỚC TIẾN CỦA CHÍNH PHỦ SỐ, KHÔNG PHẢI CÔNG CỤ “GIÁM SÁT TOÀN DIỆN” NHƯ LUẬN ĐIỆU THÙ ĐỊCH

                                                                                                                 TDL

     Trong tiến trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở Việt Nam hiện nay, ứng dụng VNeID đang từng bước khẳng định vai trò là nền tảng định danh điện tử quan trọng, góp phần hiện đại hóa quản lý nhà nước, phục vụ người dân ngày càng thuận tiện, minh bạch và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, một số trang blog và tài khoản chống đối trên không gian mạng đã tung ra những luận điệu xuyên tạc, cho rằng VNeID là “công cụ giám sát toàn diện công dân”, thậm chí vu cáo đây là “tham vọng kiểm soát tuyệt đối mọi vết tích học tập và đời sống cá nhân”. Đây là cách nhìn phiến diện, sai lệch, mang động cơ chống phá rõ rệt nhằm kích động dư luận phản đối Chương trình chuyển đổi số quốc gia.

    Trước hết cần khẳng định rằng, VNeID là sản phẩm của tiến trình ứng dụng công nghệ số vào quản lý hành chính nhà nước, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới. Hiện nay, nhiều quốc gia đã triển khai hệ thống định danh điện tử nhằm phục vụ quản lý dân cư, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, xác thực thông tin cá nhân và tạo thuận lợi cho người dân trong các hoạt động dân sự. Việt Nam xây dựng VNeID không nằm ngoài xu thế đó. Việc tích hợp giấy tờ cá nhân lên nền tảng điện tử giúp người dân giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, hạn chế giấy tờ rườm rà, giảm chi phí xã hội và tăng tính minh bạch trong quản lý.

Thực tế cho thấy, từ khi triển khai VNeID, nhiều thủ tục hành chính trước đây phải thực hiện trực tiếp nay đã được xử lý nhanh chóng trên môi trường số. Người dân có thể sử dụng ứng dụng để xác thực danh tính, tích hợp căn cước công dân, bảo hiểm y tế, giấy phép lái xe và nhiều loại giấy tờ khác. Điều này không chỉ mang lại tiện ích thiết thực mà còn góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, công khai, giảm tình trạng giả mạo giấy tờ và hạn chế tiêu cực trong giải quyết thủ tục.

Tuy nhiên, các đối tượng chống phá lại cố tình đánh tráo khái niệm giữa “quản lý bằng công nghệ số” với “giám sát đời sống cá nhân”. Chúng cố tình thổi phồng việc liên thông dữ liệu để tạo tâm lý lo sợ rằng Nhà nước “theo dõi mọi hoạt động của công dân”. Đây là luận điệu thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Bởi lẽ, mọi quốc gia hiện đại đều cần xây dựng cơ sở dữ liệu số nhằm phục vụ công tác quản lý xã hội, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công hiệu quả. Nếu không có dữ liệu số đồng bộ, việc quản lý sẽ chồng chéo, tốn kém và thiếu chính xác.

    Đặc biệt, luận điệu cho rằng VNeID nhằm “kiểm soát mọi vết tích học tập của công dân” là sự xuyên tạc trắng trợn. Trong lĩnh vực giáo dục, việc số hóa dữ liệu học tập chủ yếu phục vụ quản lý hồ sơ, xác minh văn bằng, hỗ trợ liên thông thông tin giữa các cơ sở đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho người học. Đây là nhu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số, hoàn toàn không phải công cụ để “xâm phạm quyền riêng tư” như các đối tượng chống đối cố tình quy chụp.

    Cần thấy rõ rằng, mọi hoạt động thu thập, quản lý và khai thác dữ liệu cá nhân tại Việt Nam đều phải tuân thủ quy định của pháp luật. Nhà nước Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và quyền riêng tư trên môi trường số. Vì vậy, việc quy kết VNeID thành “công cụ giám sát toàn diện” thực chất là thủ đoạn tuyên truyền nhằm gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chủ trương chuyển đổi số quốc gia.

    Âm mưu của các thế lực thù địch không chỉ dừng ở việc xuyên tạc một ứng dụng công nghệ, mà sâu xa hơn là cản trở quá trình hiện đại hóa đất nước. Chúng lợi dụng tâm lý lo ngại về công nghệ và bảo mật thông tin để kích động sự phản đối trong xã hội, từ đó chống phá chủ trương xây dựng Chính phủ số của Đảng và Nhà nước. Đây là thủ đoạn quen thuộc: chính trị hóa các vấn đề kỹ thuật, công nghệ rồi quy chụp thành “xâm phạm quyền con người”, “kiểm soát xã hội” nhằm tạo ra tâm lý bất ổn trong dư luận.

    Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, mỗi người dân cần tỉnh táo tiếp nhận thông tin trên không gian mạng, không chia sẻ hoặc tiếp tay lan truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc. Đồng thời, cần nhận thức đúng đắn rằng chuyển đổi số và định danh điện tử là xu thế tất yếu của thời đại, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội và người dân.

    VNeID là bước tiến quan trọng trong xây dựng Chính phủ số, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ nhân dân hiệu quả hơn. Mọi luận điệu xuyên tạc, quy chụp VNeID thành “công cụ giám sát toàn diện” đều là những chiêu trò chống phá cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Nhân Trần

          Thứ nhất, Đảng, Nhà nước khuyến khích báo chí tham gia tích cực, hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước năm 1986, Đảng ta đã xác định báo chí có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần lành mạnh hóa đời sống xã hội. Ngay từ những năm đầu đổi mới, với phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Đảng ta đã chuyển tải một thông điệp mạnh mẽ về việc kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng ta, bằng những bài viết kịp thời, sắc sảo trong chuyên mục “Những việc cần làm ngay” trên Báo Nhân Dân, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã trực tiếp sử dụng báo chí như một vũ khí đắc lực để góp phần chỉ đạo công cuộc đấu tranh phòng chống tham ô, tiêu cực và ủng hộ những nhân tố mới, việc làm mới mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước và nhân dân. Qua các nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đều xác định nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng vừa là công việc cấp bách trước mắt phải giải quyết khẩn trương, quyết liệt, vừa là “cuộc chiến” lâu dài cần phải tiến hành kiên trì, bền bỉ. Để góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cam go, phức tạp này, Đảng ta chính thức xác định, báo chí là một trong 4 hệ thống giám sát xã hội: “Sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ chức đảng, trước hết là từ chi bộ, sự giám sát của nhân dân và các cơ quan đại diện nhân dân, sự giám sát của công luận”. “Sự giám sát của công luận” chính là mở rộng thêm cánh cửa cho báo chí vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt hơn để cùng toàn Đảng, toàn dân từng bước đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng ra khỏi bộ máy công quyền và đời sống xã hội. Vai trò, tầm quan trọng của báo chí trong tình hình mới hiện nay tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta khẳng định rõ ràng, nhất quán trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nghị quyết số 04-NQ/TW (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã đề ra 10 nhiệm vụ trong tâm, trong đó có nhiệm vụ: “Thực hiện tốt công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng. Đề cao vai trò, trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng; khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt gây hậu quả xấu”. 

Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí đã được quy định tại Luật Báo chí 2016 là: “Đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội”. Điều 75, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 đã quy định: “1. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng; 2. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan; 3. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng”.

Thứ hai, báo chí là một trong những công cụ đắc lực trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Từ những thông tin công khai, minh bạch trên báo chí đã góp phần giúp cho các cơ quan chức năng có thêm căn cứ, bằng chứng để điều tra, xác minh các vụ việc tham nhũng. Mặt khác, những thông tin về tham nhũng, tiêu cực trên báo chí là tiếng nói của công luận, của nhân dân để tạo ra áp lực dư luận xã hội nhằm thúc đẩy các cơ quan chức năng sớm vào cuộc làm rõ những vấn đề báo chí đã nêu ra. Những năm qua, đặc biệt là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đã được triển khai quyết liệt, bài bản và bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt, được dư luận xã hội đồng tình, nhân dân ghi nhận. Nhiều vụ việc về tham nhũng tưởng như bị chìm vào quên lãng, nhưng đã được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thành công bước đầu trong công cuộc đấu tranh này là Đảng, Nhà nước ta đã khơi nguồn và phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ những người làm báo và các cơ quan báo chí. 

Điển hình như vụ án Trịnh Xuân Thanh bị phanh phui, “mắt xích” đầu tiên là do báo chí phát hiện đối tượng đi xe ô tô cá nhân gắn biển số xanh trái quy định. Từ đó, hàng loạt sai phạm của đối tượng trong quá khứ đã được báo chí đưa ra trước ánh sáng công luận, giúp cho các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, xác minh và xử lý vụ việc, đối tượng theo đúng quy định pháp luật. Báo chí còn có công phát hiện, điều tra, phanh phui nhiều dự án đầu tư cả nghìn tỷ đồng chưa đưa vào hoạt động đã thất thoát, gây lãng phí rất lớn tài sản công như: Dự án mở rộng giai đoạn 2 Nhà máy Gang thép Thái Nguyên; Nhà máy đạm Ninh Bình; 3 dự án nhà máy sản xuất ethanol Tam Nông, Bình Phước, Dung Quất; Nhà máy Xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng); vụ án Phan Văn Anh Vũ; vụ án Phan Sào Nam và đồng phạm đánh bạc “nghìn tỷ” trên mạng internet… Báo chí cũng đi đầu, phát hiện nhiều vụ “bổ nhiệm thần tốc” gây bức xúc dư luận ở một số ngành, địa phương. Nhiều “ung nhọt” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và trong một số cơ quan công quyền cũng được các cơ quan chức năng vào cuộc xử lý kịp thời nhờ những thông tin được phát hiện, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Báo chí cũng luôn chủ động, tích cực tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; kịp thời động viên, cổ vũ những tấm gương, những nhân tố mới tham gia hiệu quả vào cuộc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ngoài ra, báo chí cũng làm tốt chức năng góp ý, phản biện trong việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện về cơ chế, chính sách, luật pháp về phòng, chống tham nhũng. Nhờ đó mà Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng có thêm một kênh thông tin quan trọng, hữu ích để triển khai, thực hiện hiệu quả hơn nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. 

Thứ ba, đề cao trách nhiệm chính trị của báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Với vị thế là cơ quan ngôn luận của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, là tiếng nói và diễn đàn của các tầng lớp nhân dân, báo chí luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính thống, tin cậy cho công chúng, xã hội. Đó cũng là lý do bảo đảm cho báo chí khẳng định được vị thế, tầm ảnh hưởng quan trọng của mình đối với xã hội nói chung, đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ trong việc tham gia phòng, chống, đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực, thiết nghĩ báo chí cần quan tâm hơn nữa một số vấn đề:

(1) Cơ quan báo chí, người làm báo cần quán triệt, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cần thấu suốt quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng là việc làm cấp bách, thường xuyên, liên tục, lâu dài, do đó cần có cách làm bài bản, thận trọng; có phương pháp đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng vụ việc cụ thể; không nóng vội, chủ quan, nhưng cũng không dây dưa kéo dài, trì trệ; không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng, vụ việc tham nhũng, nhưng cũng không được làm oan sai người vô tội, làm trái quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng.

(2) Khi thông tin về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những người làm báo cần nắm vững phương châm “Xây là cơ bản, xây để chống hiệu quả, chống kịp thời để xây tốt hơn”. Mỗi thông tin về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải bảo đảm chính xác, có căn cứ, bằng chứng rõ ràng, tuyệt đối không thêm bớt, không cắt xét, không quy chụp, không võ đoán. Bởi sức mạnh, sức thuyết phục, sức chiến đấu của báo chí trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sức mạnh từ những nguồn tin, con số, số liệu chính xác, tin cậy. Muốn làm được điều này đòi hỏi người làm báo ngoài bản lĩnh vững vàng, cần phải có hiểu biết về nghiệp vụ điều tra; phương pháp tác nghiệp thận trọng, chặt chẽ, thấu đáo; nghiêm túc tuân thủ luật pháp, đạo đức nghề nghiệp; thông tin đưa ra phải khách quan, trung thực, góp phần bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lợi ích xã hội.

(3) Các cơ quan báo chí, các cấp hội nhà báo phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo, hội viên chân chính trong tác nghiệp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Có cơ chế khen thưởng, khích lệ, động viên kịp thời, xứng đáng với những người làm báo có tinh thần dấn thân, đóng góp tích cực, hiệu quả trong công tác tuyên truyền, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

         (4) Báo chí cần chú trọng đề cao tính khách quan, tính trung thực, tính nhân văn, tính chuyên nghiệp trong công tác truyền thông về phòng, chống tham nhũng; phòng ngừa tình trạng lợi dụng thông tin, tuyên truyền về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để có những hành vi vụ lợi trong chính cơ quan báo chí và những người làm báo, từ đó làm giảm uy tín, sức mạnh của báo chí trên mặt trận đấu tranh này. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những nhà báo có biểu hiện lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực để bôi nhọ, xuyên tạc, vu khống tổ chức và cá nhân. Lợi dụng tính chất phức tạp, nhạy cảm của cuộc đấu tranh này nên các thế lực thù địch, phản động coi đây là một trong những cơ hội để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, báo chí cần tỉnh táo nhận diện, kịp thời phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, phản động, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tính chính nghĩa, công lý, lẽ phải của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. 

(5) Cơ quan báo chí, người làm báo chủ động tăng cường phối hợp, hợp tác với các cơ quan chức năng như thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, công an, tòa án, viện kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội… để tạo thành và phát huy sức mạnh của “binh chủng tổng hợp” trong việc phát hiện, nhận diện, điều tra, xử lý các hành vi, vụ việc tham nhũng. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho báo chí thực hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

(6) Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thường liên quan đến cán bộ có chức quyền và bộ máy công quyền nên không thể thực hiện trong một sớm một chiều, mà đòi hỏi phải có thời gian. Tính chất này đặt ra đối với báo chí cần phải rất kiên trì, bền bỉ sát cánh cùng Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Nhân Trần

 Tham nhũng là một căn bệnh gây cản trở sự phát triển của xã hội, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên cương vị là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến việc phòng ngừa, đấu tranh chống các biểu hiện tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng là cơ sở lý luận có giá trị to lớn đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề tham nhũng và coi đây là một trong những căn bệnh cần phòng, chống. Theo Người: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân… Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Do đó, bản chất của tham nhũng là xấu, là “trộm cướp”, lấy “của công” làm “của tư”; gian lận tham lam, không quý trọng của công, không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào, xương máu của chiến sĩ làm ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng biểu hiện trực tiếp của tham nhũng là ăn cắp của công hay của Nhân dân làm của tư. Cán bộ bớt xén, tiêu ít mà khai nhiều; lợi dụng của công, của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương, đơn vị mình cũng là tham nhũng. Mặt khác, tham nhũng cũng gắn với các biểu hiện tiêu cực, chẳng hạn như một cán bộ được Chính phủ và Nhân dân trả lương hàng tháng nhưng lại thiếu trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ, làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của Nhân dân, không làm tròn nhiệm vụ theo chức trách của mình: “Có người nói: không giữ quỹ, không giữ tiền, không có quyền thì là không tham ô. Cái nắm tiền, cái có quyền mà ăn cắp là trực tiếp. Còn gián tiếp như trên, sự thực cũng là tham ô”. Người cũng sớm nhận diện và căn dặn cán bộ, đảng viên cần phòng, chống những biểu hiện tiêu cực như: địa phương chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt quan liêu, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, lối làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hóa. Đó chính là những biểu hiện tiêu cực làm suy thoái phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tha hóa đội ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tham nhũng là những con sâu mọt rút lá, cắn hoa, khoét quả, cần phải tiêu diệt. Theo Người, tham nhũng gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng.

Tham nhũng phá hoại đạo đức cách mạng, làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí vượt khó của cán bộ. Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền lực trong tay thì nảy sinh tính kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác mà biến thành người có tội với cách mạng. Người nhắc nhở: “Cán bộ nào mà tham ô, hủ hóa là có tội to với Đảng và Chính phủ, có tội to với nhân dân và có tội to cả với anh chị em cán bộ khác”. Tham nhũng phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của Nhân dân một cách vô ích, có hại đến công việc cải thiện đời sống Nhân dân. Huấn thị tại Hội nghị cán bộ Đảng (năm 1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Việc tệ nhất là tham ô. Tham ô tức là gián tiếp giết chết đồng bào bị đói và bị nạn”. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám. Tham nhũng là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến, là kẻ thù của Nhân dân và Chính phủ vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta; là kẻ thù nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng mà nó nằm trong các tổ chức để làm hỏng công cuộc kháng chiến, kiến quốc, gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cản trở, phá hoại sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng, chống tham nhũng cũng cần thiết như việc đánh giặc trên mặt trận, đây là mặt trận tư tưởng và chính trị. Người coi tham ô, lãng phí, quan liêu là những thứ “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và Nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống “giặc nội xâm” như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ. Những kẻ tham nhũng bị xếp ngang hàng với những kẻ phản quốc, là kẻ thù của Nhân dân cần phải chống. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là công việc tất yếu phải làm giống như muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa, chăm sóc kỹ lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi. Người khẳng định việc phòng, chống tham nhũng là rất cần thiết và phải làm thường xuyên bởi điều đó mang lại những ý nghĩa rất to lớn.

Thứ nhất, phòng, chống tham nhũng giúp cán bộ cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, một lòng một dạ phục vụ Nhân dân, phục vụ cách mạng.

Thứ hai, giúp dân đoàn kết chặt chẽ, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, nâng cao đời sống của dân.

Thứ ba, loại bỏ những trở lực của cách mạng, giúp chính quyền nhà nước trở thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ, đồng bào.

Thứ tư, giúp củng cố niềm tin của dân vào sự trong sạch của đội ngũ cán bộ, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa./.

 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ĐẾN NĂM 2030

Nhân Trần

Ngày 11/10/2023 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030. Chiến lược cung cấp khuôn khổ để thực hiện hệ thống các giải pháp phòng, chống tham nhũng một cách hệ thống, toàn diện, đảm bảo phối hợp hài hòa mọi cách thức, biện pháp cho công tác phòng, chống tham nhũng. Chủ động xác định và kiểm soát tình hình tham nhũng, gia tăng hiệu quả của việc giảm thiểu các nguy cơ tham nhũng và xử lý hành vi tham nhũng, giảm tác hại kinh tế của hành vi tham nhũng, ổn định chính trị - xã hội; góp phần điều phối hoạt động của các cơ quan nhà nước, phân giao quyền hạn, trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tham gia phòng, chống tham nhũng; huy động sự tham gia của người dân, xã hội vào công tác phòng, chống tham nhũng; thúc đẩy sự tham gia chủ động của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phương tiện truyền thông và mọi công dân trong nỗ lực phòng, chống tham nhũng; xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen phòng, chống tham nhũng trong đời sống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp Nhân dân. Chiến lược là bộ phận quan trọng trong tổng thể hệ thống giải pháp nhằm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hiệu lực, hiệu quả. Việc ban hành Chiến lược phòng chống tham nhũng, tiêu cực là rất cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu chung nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, liêm chính; giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu cụ thể khắc phục những sơ hở, bất cập trong chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất là những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, thu hồi triệt để tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các cơ quan báo chí, truyền thông; huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tham nhũng gắn với thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Chiến lược tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp là:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như: tổ chức cán bộ; quản lý tài chính, ngân sách, tài sản công, quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, đấu giá; đất đai, tài nguyên, khoáng sản; tín dụng, ngân hàng; thuế, hải quan và các lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp. Hoàn thiện pháp luật về ban hành chính sách, pháp luật. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung, thu hồi, đình chỉ, gia hạn, bãi bỏ, tổ chức thực hiện các quyết định hành chính. Khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người đứng đầu trong việc tổ chức thực hiện. Rà soát, cụ thể hóa quy định về trách nhiệm thủ trưởng các cấp, các ngành và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, bộ, ngành, lĩnh vực, cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, hoàn thiện chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính; nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Rà soát, tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước các cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quy định cụ thể, rõ ràng, khoa học chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp quản lý đảm bảo minh bạch và trách nhiệm cao, có cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính, đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật gắn với việc kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước, kiểm soát xung đột lợi ích, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đổi mới chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức, chế độ công vụ, đảm bảo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có thu nhập hợp lý, ổn định cuộc sống, yên tâm công tác; tăng cường kiểm soát việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước. Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống Chính phủ điện tử, Chính phủ số; tăng cường ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào hoạt động quản trị nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội theo hướng công khai, minh bạch, thân thiện, dễ tiếp cận, dễ thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân góp phần nâng cao hiệu quả quản lý; tăng cường minh bạch tài chính quốc gia và thanh toán không dùng tiền mặt. Đẩy mạnh công khai và minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào quy trình ra quyết định và giám sát hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình nghiệp vụ của các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả, không chồng chéo. Tăng cường chế độ trách nhiệm, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là các cơ quan, đơn vị chuyên trách. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; có chính sách đãi ngộ hợp lý đảm bảo cho những người làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực yên tâm công tác, vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ. Thực hiện các quy định bảo đảm cho việc thu hồi, tịch thu triệt để tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát do tham nhũng, tiêu cực; xây dựng, khai thác có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng, hành vi tẩu tán tài sản. Thực hiện chuyển đổi số và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong các hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực và thu hồi tài sản.

Thứ tư, nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đổi mới, nâng cao hiệu quả các phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đưa nội dung phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng; tạo điều kiện để Nhân dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhằm từng bước xây dựng và hình thành văn hóa liêm chính trong xã hội. Cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những vụ việc tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ việc được dư luận quan tâm cho các cơ quan báo chí để tuyên truyền kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phát hiện và nhân rộng nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, sáng kiến, cách làm hay trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường vai trò, trách nhiệm giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, báo chí trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động hội viên, đoàn viên, Nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và người đứng đầu trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết phản ánh, báo cáo, tố cáo về hành vi tham nhũng, tiêu cực và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện khen thưởng, bảo vệ người phản ánh, báo cáo, tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực và xử lý nghiêm cá nhân cố ý phản ánh, báo cáo, tố cáo sai sự thật để vu khống, gây rối, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp xây dựng, thực hiện văn hóa liêm chính trong kinh doanh, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, tiêu cực, nhất là trong khu vực ngoài nhà nước và các hành vi nhũng nhiễu, đòi hối lộ của cán bộ, công chức, viên chức.

Thứ năm, tích cực tham gia, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng, thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Tăng cường nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng, nhất là trong phối hợp, chia sẻ thông tin, thực hiện các biện pháp ngăn chặn nhằm thu hồi tài sản bị tẩu tán hoặc truy bắt tội phạm tham nhũng bỏ trốn ra nước ngoài; ký kết mới điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế hoặc tham gia các khuôn khổ hợp tác quốc tế khác có liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về tố tụng tư pháp, tương trợ tư pháp đáp ứng các yêu cầu trong giải quyết các vụ việc, vụ án tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Nâng cao hiệu quả thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và sự tham gia của Việt Nam vào các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng theo hướng tích cực, chủ động, thực chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng. Thúc đẩy hợp tác kỹ thuật, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về phòng, chống tham nhũng với các đối tác, tổ chức quốc tế; nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống tham nhũng phù hợp với thực tiễn của Việt Nam./.

VAI TRÒ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, TIÊU CỰC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

                                                                                             Nhân Trần

Một là, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần giữ vững thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần giữ gìn giang sơn gấm vóc và thành quả cách mạng. Để đất nước tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, Nhân dân luôn vững tâm tin theo Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, một trong những đòi hỏi cấp bách và xuyên suốt là phải đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm cho Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với niềm tin của Nhân dân. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần bảo đảm sự thịnh vượng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tham nhũng là hiện tượng tiêu cực xã hội, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là vấn nạn chung đã và đang đặt ra cho các quốc gia đều phải quan tâm và tiến hành đấu tranh quyết liệt, hiệu quả. Yêu cầu “nội sinh tự thân” đặt ra cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta phải có chiến lược phòng, chống tham nhũng một cách quyết liệt, hiệu quả để giữ gìn và phát triển thịnh vượng. Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc khẳng định quyết tâm chính trị và trách nhiệm đạo đức của chế độ xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng con người mới hướng đến chân, thiện, mỹ và xây dựng hệ giá trị quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Hai là, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị liêm chính, vững mạnh, nâng tầm vị thế quốc tế của Việt Nam. Tham nhũng có tác hại vô cùng to lớn, gây ra hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận cụ thể hóa bằng các chính sách và pháp luật để thực thi đồng bộ công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng hiệu quả. Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, chống tham nhũng là “một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Ngày 23/9/2019, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Để phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan chức năng trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 11/7/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 114-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có ý nghĩa gắn kết đồng bộ với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và ngược lại. Hiện nay, chủ trương xây dựng Đảng trên năm phương diện cơ bản là chính trị; tư tưởng; đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng Đảng về chính trị đòi hỏi tất cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải thấm nhuần sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đưa các nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong các cuộc họp, sinh hoạt chuyên đề thường kỳ và coi đó là các tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên. Trong quá trình công tác, chú trọng chấn chỉnh, uốn nắn từ suy nghĩ, nhận thức để phòng, chống từ sớm, từ xa; xây dựng Đảng về tư tưởng góp phần cho mỗi cán bộ, đảng viên phải “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Trước đây, phòng, chống tham nhũng, lãng phí chủ yếu tập trung vào các hành vi như tham ô, đưa hối lộ, nhận hối lộ, chiếm đoạt, làm thất thoát tài sản nhà nước; thì nay mở rộng ra cả khu vực ngoài nhà nước, gắn hành vi tham nhũng của cá nhân với tập thể lãnh đạo, quản lý và trách nhiệm của người đứng đầu; gắn phòng, chống tham nhũng với tiêu cực.

Để có đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự liêm chính, việc trước tiên phải xây dựng Đảng về đạo đức gắn với xây dựng hệ thống chính trị về đạo đức, góp phần cho mỗi tổ chức cơ sở đảng và đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện các chuẩn mực đạo đức cách mạng là: trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; lòng yêu thương con người; tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Phương châm rèn luyện với nguyên tắc: tu dưỡng đạo đức suốt đời, bền bỉ và nêu gương với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần “thức tỉnh” cán bộ có ý thức, cầu thị, không ngừng trau dồi, rèn luyện bản thân và từ đó hình thành nhu cầu tự thân trong việc hoàn thiện mình để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác được giao tại cơ quan, đơn vị.

Ba là, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở Việt Nam. Hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực càng quyết liệt, mạnh mẽ thì đòi hỏi càng cao về vai trò điều hành, quản lý của Nhà nước và hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành vấn đề thường trực tác động tích cực vào nếp nghĩ, tác phong, hành vi công tác của mỗi cán bộ, đảng viên. Từ suy nghĩ đến hành động sẽ phải chuẩn mực, đúng chức trách nhiệm vụ, đúng quy trình, đáp ứng niềm tin yêu về chính quyền phục vụ, chính quyền vì Nhân dân. Mọi hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đều có ý nghĩa “phòng là chính”, có ý nghĩa răn đe và có ý nghĩa hoàn thiện, khắc phục những khâu yếu kém trong quy trình xử lý tội phạm tham nhũng. Mục đích của việc xử lý tham nhũng, tiêu cực là để “trị bệnh cứu người”, kỷ luật một vài người để cứu muôn người, truy tố một vụ để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; từ đó để cảnh báo, răn đe, giáo dục, phòng ngừa là chính, nên cần phát hiện từ sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; phải tăng cường giáo dục kỷ luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và giám sát chặt chẽ để cán bộ, đảng viên biết giữ gìn, nhớ điều cấm, giữ giới hạn. Hiện nay, thông qua việc đánh giá những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý, các cấp, các ngành cần phải tập trung vào “khâu yếu, việc khó”, như bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung; công tác giám định, định giá tài sản; công tác thu hồi tài sản tham nhũng; công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng; đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Cơ quan chống tham nhũng, tiêu cực phải có thẩm quyền đầy đủ và mạnh mẽ; có nguồn nhân lực và tài chính đầy đủ; cơ quan chống tham nhũng có chiến lược tổng thể, nhất quán chống tham nhũng, tiêu cực, có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác.

Bốn là, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực bảo đảm cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm”. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, nên đã đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm như đặc quyền, đặc lợi, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, hẹp hòi, cục bộ. Vì vậy, Người luôn yêu cầu cán bộ cách mạng phải có đức và tài, trong đó, “đạo đức là gốc”. Do đó, trong giáo dục, bồi dưỡng cán bộ nhà nước thì phải luôn coi trọng rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị để mỗi người biết liêm sỉ, trọng danh dự và tự “miễn nhiễm” trước những cám dỗ quyền lực, vật chất. Tuy nhiên, cán bộ có đạo đức thì cũng không hẳn là mãi mãi trong sáng, nếu không thường xuyên trau dồi, rèn luyện thì dễ dẫn đến sa vào chủ nghĩa cá nhân - đó chính là sự suy thoái về đạo đức, lối sống. Việc nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống được Đảng, Nhà nước ta cảnh báo từ sớm. Đảng ta chính thức sử dụng lần đầu tiên thuật ngữ “suy thoái tư tưởng chính trị” trong Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII (tháng 02/1999) và tiếp tục được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đã nêu ra 27 biểu hiện cụ thể. Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ đã làm rõ những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý xác định hành vi để xử lý trách nhiệm khi vi phạm của cán bộ, đảng viên theo thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý. Ngày 01/8/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực; đã giải thích rõ một số từ ngữ và liệt kê 19 nhóm hành vi tiêu cực; trong đó biểu hiện rõ nét nhất của tiêu cực là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị. Đây là căn cứ để xác định những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống; từ đó định ra phương hướng, biện pháp phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng, trau dồi về đạo đức cách mạng, kỹ năng và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng lý tưởng và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ. Trọng tâm là tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự trau dồi - tự phê bình - tự rèn giũa mình để luôn có lý tưởng và nhân cách của người cách mạng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng hiện nay./. 

 KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VÀ PHỦ NHẬN CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI      CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM 30/4/1975

                                         Mặt Trời

          Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kết thúc bằng Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đó là bản thiên hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở thành ngày hội tụ của ba sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên mới độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vậy mà có người với dã tâm đen tối lại cố tình xuyên tạc ngày đó là “ngày kết thúc cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn” và cũng không phải là ngày giải phóng miền Nam...Vậy sự thật là thế nào?

          Lịch sử cho thấy, Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào Đông Dương từ rất sớm dưới cớ viện trợ cho thực dân Pháp. Từ cuối năm 1950, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dương 4 tỷ USD (chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương). Hiệp định Giơnevơ tháng 7 năm 1954, Mỹ không ký vào bản Tuyên bố cuối cùng; ngang nhiên vi phạm các điều khoản của Hiệp định, gạt Pháp ra, công khai cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mục đích mà Mỹ theo đuổi là tiêu diệt phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, chặn đứng phong trào Cộng sản có thể lan ra khắp vùng Đông Nam Á và bao vây các nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện dã tâm đó, Mỹ tiến hành chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, lập ra chính quyền tay sai, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ với biện pháp “tố cộng, diệt cộng”, đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam. Chúng ban hành Luật 1059 và giương cao khẩu hiệu “giết nhầm còn hơn bỏ sót” khiến cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Song hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm của Mỹ thất bại. Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” một cách bị động để đối phó với cách mạng miền Nam. Nội dung cơ bản của chiến lược này là càn quét, dồn dân vào các ấp chiến lược mà thực chất là các trại tù tập trung. Mục tiêu của chúng là bình định miền Nam trong 18 tháng, từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962. Chúng đã mở hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt bộ đội và du kích, thanh lọc quần chúng, bắt, giết cán bộ và lùa dân ta vào 16.000 ấp chiến lược do chúng dựng lên.

Nhưng trước sức mạnh của phong trào cách mạng miền Nam, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ cũng nhanh chóng bị phá sản. Với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, dùng quân viễn chinh Mỹ để phản công ta nhằm giành lại quyền chủ động về chiến lược. Mục tiêu của chiến lược này là đánh bại cách mạng miền Nam trong thời gian từ giữa năm 1965 đến 1967. Biện pháp chủ yếu là “tìm và diệt” đi đôi với “tìm và bình định” Thực hiện chiến lược này, Mỹ ồ ạt đưa quân và một khối lượng vũ khí, phương tiện chiến tranh khổng lồ vào miền Nam Việt Nam. Tính đến thời điểm cuối năm 1967, quân Mỹ ở miền Nam lên tới 550.000 quân chiếm tới 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân, và 6,5 triệu lượt thanh niên Mỹ trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Khi thi hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, bên cạnh chiến lược “hai gọng kìm” ở miền Nam, Mỹ còn dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc nhằm mục tiêu kép ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam, và làm suy yếu miền Bắc - hậu phương lớn của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, Mỹ đã thất bại ở cả chiến trường miền Bắc lẫn chiến trường miền Nam. Đặc biệt, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã làm ý chí xâm lược của nhà cầm quyền Mỹ bị lung lay một bước nghiêm trọng. Sau đó Tổng thống Giônxơn phải đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; thừa nhận sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ”.  

Trước thất bại nặng nề trên, Níchxơn, sau khi lên cầm quyền, đã buộc phải xuống thang chiến tranh, rút quân Mỹ về nước, nhưng thay vào đó lại thi hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa ra “học thuyết Níchxơn” và mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Bản chất của cái gọi là chiến lược và học thuyết này không có gì khác ngoài âm mưu kéo dài chiến tranh, tiếp tục chính sách áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Thực hiện ý đồ đó, từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, Mỹ vừa từng bước rút quân, vừa ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền. Chúng tiến hành hàng loạt kế hoạch bình định và phản công, tiến công ta quyết liệt. Đồng thời, điên cuồng trở lại đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, đỉnh cao là tiến hành cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố khác. Đi đôi với hành động quân sự, Mỹ còn dùng thủ đoạn nham hiểm về chính trị, ngoại giao với cái gọi là kết hợp chiến tranh hủy diệt với chiến tranh giành dân và “chiến tranh bóp nghẹt” hòng làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc. Việc đẩy mạnh hoạt động ngoại giao xảo quyệt, ép các nước có liên quan đồng tình giải quyết vấn đề Việt Nam theo ý đồ của Mỹ là kịch bản của “chiến tranh bóp nghẹt” bẩn thỉu. Dù đã sử dụng tối đa sức mạnh, song rốt cuộc, Mỹ vẫn phải chấp nhận thất bại nhục nhã cả về quân sự, chính trị và ngoại giao; buộc phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố và với âm mưu chống Cộng sản đến cùng, sau Hiệp định Pari, Mỹ vẫn tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng ngụy quân, ngụy quyền làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam dưới vỏ bọc “một quốc gia thân Mỹ”, nhưng thực chất vẫn là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Để thực hiện cái gọi là “keo cuối cùng”, Mỹ tiếp tục đổ tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho ngụy quyền Sài Gòn và chỉ đạo chính quyền Sài Gòn ráo riết bắt lính, tăng quân, khống chế nhân dân. Với chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, chúng liên tiếp mở hàng loạt cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm và bình định. Nhưng cũng giống như trước, quan thầy Mỹ và bọn tay sai ngụy càng ngày càng rơi vào tình thế khốn quẫn, không có đường thoát.

Và điều gì đến sẽ phải đến! Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị, quân và dân ta đã đập tan hơn một triệu quân ngụy và bộ máy ngụy quyền Sài Gòn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, và đó cũng là ngày chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài gần 21 năm của đế quốc Mỹ. Nhắc lại một chuỗi sự kiện lịch sử không ai có thể chối cãi để qua đó thấy rằng, không phải “do giúp Pháp, can thiệp quá sâu vào Đông Dương nên Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam”! Càng không phải “khi Mỹ rút năm 1973 đã bỏ rơi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu”. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ có mục đích chính trị xuyên suốt của nó. Sau Hiệp định Pari, cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; vẫn là cuộc đối đầu giữa nhân dân Việt Nam và Mỹ. Bất chấp âm mưu của chủ nghĩa thực dân giấu mặt, trá hình, Mỹ vẫn nguyên là kẻ xâm lược và chính quyền Sài Gòn vẫn là thân phận của kẻ tay sai. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào những giờ chót cầm quyền đã than rằng “đồng minh lớn đã bội ước đồng minh nhỏ”. Song ông đã ngộ nhận, chẳng có đồng minh lớn, nhỏ nào cả; chỉ có quan thầy và tay sai. Chính quyền ngụy Sài Gòn chưa bao giờ có quyền tự quyết, càng chưa bao giờ có “lý tưởng quốc gia”. Bởi thế, ai đó cho rằng, “sau hiệp định Pari, nên coi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, giữa một bên là vì lý tưởng quốc gia, một bên là vì lý tưởng Cộng sản” là đã bóp méo tính chất của cuộc chiến tranh. Mỹ xâm lược Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai để làm bia đỡ đạn cho quân Mỹ, phục vụ lợi ích của Mỹ. Nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược Mỹ để bảo vệ nền độc lập của mình. Đó là tính chất bao trùm và xuyên suốt của cuộc đối đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam Mỹ.

Nếu ai đó nói rằng ngày 30 tháng 4 không gọi là “ngày giải phóng miền Nam” mà gọi là “ngày hòa hợp dân tộc” là sự đánh tráo khái niệm. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ hoặc trực tiếp, hoặc thông qua lực lượng tay sai đã tiến hành hàng trăm nghìn cuộc khủng bố giết hại cán bộ và đồng bào ta. Mỹ còn gây ra cuộc thảm sát Sơn Mỹ gây chấn động thế giới, lập ra gần 10.000 đồn bốt, lùa nhân dân vào hàng chục nghìn ấp chiến lược, rải hàng triệu lít chất độc da cam điôxin xuống khắp miền Nam. Nhưng nhờ có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Mỹ - ngụy không còn có thể tiếp tục gây tội ác đối với đồng bào miền Nam được nữa. Vì vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, là ngày đồng bào miền Nam thoát ra khỏi xiềng xích nô lệ. Đảng và nhân dân ta trong bất luận hoàn cảnh lịch sử nào cũng đều  đề cao và làm hết sức mình để hòa hợp dân tộc, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vì luôn tìm mọi cách để hòa hợp dân tộc, chúng ta mới có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để đánh thắng địch. Đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Tôn trọng lịch sử là tôn trọng dân tộc và tôn trọng mình. Có ngày giải phóng miền Nam, mới có thống nhất nước nhà. Có giải phóng miền Nam mới có hòa hợp dân tộc. Có giải phóng miền Nam, có hòa hợp dân tộc, có thống nhất nước nhà, dân tộc ta mới mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.  Sự thật lịch sử là như vậy. Cái nhìn méo mó về lịch sử sẽ là sự vong ơn bội nghĩa đối với sự hy sinh của cả một dân tộc và sẽ bị chính đông đảo quần chúng khinh rẻ. Vì vậy, âm mưu xấu xa của những ai có cái nhìn đó không bao giờ thực hiện được; trái lại, họ chỉ càng lộ rõ chân tướng và tâm địa đen tối mà thôi./.

 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC CỦA LỜI KÊU GỌI THI ĐUA ÁI QUỐC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Mặt Trời

Ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc. Gần 80 năm qua, lời kêu gọi thi đua ái quốc đã thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân Việt Nam, biến thành sức mạnh đưa cách mạng nước ta đến những thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người, với những hình thức, mức độ, tính chất, ý nghĩa khác nhau, việc thi đua giữa các cá nhân, tộc người, quốc gia đã diễn ra và là một động lực cho sự tiến bộ hợp quy luật. Đối với dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu quê hương, đất nước được thể hiện ở việc, mọi người ra sức đóng góp xây dựng xóm làng, quê hương, đất nước ngày một  tươi đẹp, giàu  mạnh. Như vậy, từ trong nguồn gốc, thi đua gắn với yêu nước là xây dựng lòng tự hào chính đáng của mỗi người dân về quê hương, dân tộc. Tiếp thu truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải  thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong việc xây dựng chính quyền cách mạng, bảo vệ Tổ quốc đang ở tình thế “nghìn cân treo sợi tóc” vì thù trong rắp tâm phá hoại, giặc ngoài lăm le xâm lược, việc động viên sức lực của toàn thể dân tộc Việt Nam là điều cần thiết. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh thì “Một cách tốt nhất là tổ chức thi đua. Người này thi đua với người khác. Nhà này thi đua với nhà khác. Làng này thi đua với làng khác. Ai hơn thì được nhân dân kính trọng và Chính phủ trọng thưởng”. Việc đề xuất thi đua yêu nước của Hồ Chí Minh được nêu lên lần đầu tiên năm 1947 trong tác phẩm “Đời sống mới”. Sau chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đề ra sáng kiến về tổ chức, lãnh đạo thực hiện phong trào thi đua yêu nước để giành thắng lợi to lớn hơn. Ngày 27/3/1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc; mục đích là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến quốc chóng thành công. Ngày 11/6/1948, nhân kỷ niệm 1.000 ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, chính thức phát động cuộc vận động thi đua ái quốc. Lời kêu gọi mang tính chất một lời “hịch” để phát động một phong trào quần chúng rộng lớn, nhằm “kháng chiến và kiến quốc thành công”, nhưng đồng thời thể hiện những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức, lãnh đạo một phong trào cách mạng với ý nghĩa quan trọng. Đó là quan điểm về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, về đoàn kết toàn dân, và việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược lâu dài với những nhiệm vụ cụ thể trước mắt. Cùng với nhiều bài nói, bài viết tiếp sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành cơ sở lý luận, quan điểm về thi đua yêu nước; định hướng, chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước hơn 70 năm qua, góp phần to lớn vào hoàn thành các nhiệm vụ kháng chiến chống thực dân, đế quốc và xây dựng đất nước. Từ nội dung cơ bản của “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” chúng ta có thể tổng hợp một số điểm cơ bản để tìm hiểu và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước ngày nay.

Thứ nhất, nhận thức đúng mục đích thi đua ái quốc là để thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu của mỗi thời kỳ cách mạng trong tình hình và điều kiện lịch sử cụ thể. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ thi đua yêu nước là “Diệt giặc đói. Diệt giặc dốt. Diệt giặc ngoại xâm” để “Toàn dân đủ ăn, đủ mặc. Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn”. Mục tiêu này đã giành được trong hai cuộc kháng chiến giải phóng đất nước khỏi ách ngoại xâm, thì mục đích thi đua yêu nước ngày nay là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để có một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Như vậy, mục đích thi đua yêu nước bao giờ cũng có tính chính trị, nhằm giải quyết những nhiệm vụ trước mắt và để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược lâu dài. Do đó, thực hiện thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chính trị, bao giờ cũng gay go, phức tạp; càng gần đến thắng lợi càng phải nỗ lực phấn đấu nhiều. Trong điều kiện xây dựng hoà bình, hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực, việc thi đua yêu nước để “sánh vai với cường quốc năm châu” đòi hỏi kết hợp nhuần nhuyễn lòng yêu nước với tinh thần quốc tế, lòng tự hào dân tộc với ý thức tiếp thụ tinh hoa văn hóa nhân loại, trung thành với lý tưởng cách mạng.

Thứ hai, thi đua yêu nước phải tiến hành một cách toàn diện; bởi nhiệm vụ cách mạng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào cũng được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực để hoàn thành mục tiêu chung. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Người kêu gọi “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”. Điều này xuất phát từ tính chất toàn diện của cuộc kháng chiến. Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước cũng tiến hành trên tất cả các mặt, mà mục tiêu trước mắt là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, việc thi đua yêu nước cũng phải tiến hành một cách toàn diện để tạo nên sức mạnh to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, thi đua yêu nước là nhiệm vụ cách mạng của mỗi người dân nên phong trào thi đua yêu nước phải mang tính chất toàn dân; thể hiện ở việc tổ chức cho các tầng lớp nhân dân được quyền và có nghĩa vụ đóng góp vào công việc chung của đất nước, tuỳ theo sức lực của mình. Để thực hiện được mục đích thi đua, Người đã nêu rõ “Cách làm là dựa vào: Lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”. Phương châm đó là cốt lõi của phong trào thi đua yêu nước hiện nay.

Thứ tư, văn hóa thi đua là một nội dung quan trọng trong lời kêu gọi thi đua ái quốc. Nó thể hiện chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, không chỉ ở xác định mục đích thi đua, cách tổ chức, quan hệ, thái độ trong thi đua yêu nước mà còn ở việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức của mỗi người, đơn vị tham gia thi đua. Người chỉ rõ “thi đua chứ không phải ganh đua” nên phải thân ái, đoàn kết, giúp đỡ nhau để đạt được thành tích cao, “giúp đỡ những người và những nhóm còn kém theo kịp mức cao hiện nay”. Vì vậy, thi đua là đoàn kết; thi đua để tăng cường đoàn kết, có đoàn kết mới đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ. Chiến sĩ thi đua là những người mới, những người luôn cố gắng thực hành cần, kiệm, liêm, chính, là những người tôi trung của nhân dân, con hiếu của Tổ quốc. Tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị trong hiện tại, khi chúng ta ra sức xây dựng và bảo vệ đất nước, song bị tác động không nhỏ của mặt trái cơ chế thị trường, sự tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật và âm mưu phá hoại cách mạng về mọi mặt của các thế lực phản động trong và ngoài nước, nên nảy sinh nhiều suy nghĩ và hành động sai trái như kể công, cạnh tranh không lành mạnh, “bệnh thành tích”, gian dối... Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, các cấp phải đặc biệt quan tâm đến công tác thi đua - khen thưởng; tập trung xác định rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác thi đua, khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới của cách mạng; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với công tác thi đua - khen thưởng, kiện toàn và đổi mới tổ chức cán bộ của các cơ quan tham mưu về công tác thi đua khen thưởng; đổi mới nội dung và hình thức thi đua - khen thưởng.

 Gần tám mươi năm qua, thực hiện lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đã dấy lên phong trào thi đua sôi nổi, liên tục, sâu rộng với tinh thần: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. Phong trào thi đua đã tạo động lực tinh thần to lớn góp phần vào thắng lợi của công cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nó được phát triển mạnh mẽ trong hiện tại và trong tương lai để thực hiện những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước nhà theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.

 

 QUÁ TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC

                                       Mặt Trời      

Cách đây hơn 100 năm, ngày 5/6/1911, tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn - Gia Định (nay là thành phố Hồ Chí Minh) người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới vừa tròn 21 tuổi tự giới thiệu là Văn Ba xin làm phụ bếp, đã rời Tổ quốc trên con tàu A-mi-ran La-tu-sơ Tơ-rê-vin, bắt đầu cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành rất ngưỡng mộ và kính trọng lòng yêu nước dũng cảm, kiên cường của các bậc tiền bối và sớm nhận ra con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóng được dân tộc mà cần thiết phải có con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc; phải ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước độc lập phát triển như thế nào để trở về giúp đồng bào ta, đất nước ta thoát khỏi cảnh lầm than nô lệ dưới ách áp bức, đô hộ của thực dân, phong kiến.

Tại Mác-xây, ngày 15/9/1911, Người viết thư gửi Bộ trưởng thuộc địa Pháp, ký tên Nguyễn Tất Thành, xin vào học trường thuộc địa nhưng đã bị từ chối. Từ năm 1912, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động ở đây cho đến giữa năm 1917 mới trở lại nước Pháp. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp, tháng 6/1919 thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi bản yêu sách gồm 8 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới hội nghị các nước đế quốc họp ở Véc-xây, đòi chính phủ các nước họp hội nghị phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Tại Đại hội Đảng xã hội Pháp tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc triển khai nhiều hoạt động, tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong câu lạc bộ công nhân, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ.

Ngày 13/6/1923, Người rời nước Pháp đến Đức và ngày 22/6/1923 đi đến Liên Xô. Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế nông dân; học tập tại trường Đại học Phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Từ khi rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) tháng 11/1924 đến tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động, chuẩn bị các điều kiện tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (tháng 6/1925), mở các lớp huấn luyện cán bộ, xuất bản Báo Thanh niên (1925) và tác phẩm Đường cách mệnh (1927). Hè năm 1927, khi tình hình cách mạng Trung Quốc có nhiều biến động phức tạp, Nguyễn Ái Quốc lại đi Liên Xô, sau đó đi Đức tháng 11/1927, rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đế quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Ý. Tháng 7/1928, Nguyễn Ái Quốc tới Thái Lan rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929. Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1930 đến năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước. Trong khoảng thời gian ấy, Người có lúc ở Liên Xô, Trung Quốc, từng bị kẻ thù bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin. Năm 1938, Người trở về Trung Quốc chủ yếu hoạt động ở vùng Quảng Tây. Ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở về Tổ quốc (Pác Bó, Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng. 

Tháng 5/1945, trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình và yêu cầu của cách mạng, Bác Hồ quyết định rời Pác Bó, Cao Bằng về Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Tại đây Người đã lãnh đạo tổ chức các sự kiện lịch sử trọng đại liên quan trực tiếp đến vận mệnh dân tộc: Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng quyết định chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ra quân lệnh số 1 phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước; Quốc dân Đại hội Tân Trào - Tiền thân của Quốc hội nước ta, bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc tức Chính phủ lâm thời. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Phát huy thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiếp tục vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn hiện nay./.

 

 ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ MỤC TIÊU XUYÊN SUỐT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Mặt Trời

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu đó thể hiện sự lựa chọn sáng suốt của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu hướng của thời đại. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng đều đi đến thất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra lời giải đáp cho cách mạng Việt Nam. Qua nghiên cứu, khảo sát các cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới, Người đi đến kết luận là các cuộc cách mạng đó đều “không đến nơi” và đó không phải là sự lựa chọn bởi vì, đối với Người, giải phóng dân tộc phải gắn liền với tự do, ấm no, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Tư tưởng nhân văn ấy, Người đã tìm thấy trong Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, vì Cách mạng Tháng Mười Nga đã giải phóng triệt để con người, là một cuộc cách mạng đến nơi một cách thật sự, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn thể loài người. Từ đó, Người đã lựa chọn cách mạng Việt Nam đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga - con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội theo hệ tư tưởng Mác - Lênin. Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ, và cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng chủ nghĩa xã hội thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

Khi Đảng ra đời đã khẳng định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt năm 1930, Đảng ta đã xác định con đường của cách mạng Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, tức là thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng với nhau. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải giành được độc lập dân tộc và có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập dân tộc và xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo của mình. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển) năm 2011 đã nhấn mạnh bài học hàng đầu là nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đã nêu lên những nội dung cơ bản của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng thời bổ sung, phát triển những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng với 8 đặc trưng cơ bản, vạch ra các phương hướng cơ bản và những mối quan hệ lớn cần phải nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, từ những thành tựu cũng như hạn chế, khuyết điểm, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới. Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo, dù trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách như thế nào, Đảng ta vẫn luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sự nhất quán giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Đảng ta về con đường của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đã khẳng định, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn của cách mạng Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Ngày nay, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn, đang trực tiếp tác động đến thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta. Công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải được khắc phục. Tình trạng suy thoái, biến chất về phẩm chất đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; vấn nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu diễn biến phức tạp, tinh vi, chưa có giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi một cách triệt để. Hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng; các thế lực phản động luôn tìm mọi cách tuyên truyền, xuyên tạc, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ nhằm chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; các thế lực phản động muốn phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - nhân tố quyết định cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, đặc biệt là vấn đề tranh chấp biển Đông, diễn biến phức tạp đang đặt ra vấn đề cấp thiết để bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần bài học lịch sử của cách mạng Việt Nam, đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Khẳng định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhân dân ta. Đồng thời, không ngừng đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và những thành tựu trong công cuộc đổi mới của cách mạng Việt Nam./.

 

 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Mặt Trời

          Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa để bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đại hội XIV đã đề ra phương hướng tích cực, chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung và xác định chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh. Đây là quan điểm nhất quán của Việt Nam trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh vì mục tiêu tối thượng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Tăng cường hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển, nâng cao khả năng bảo vệ đất nước, giải quyết các thách thức an ninh chung và luôn coi đó là kế sách giữ nước từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình.

Trên cơ sở đường lối chủ động, tăng cường hợp tác và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh; Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ phải chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước. Chủ động tham gia và đóng góp nhiều sáng kiến, định hình cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng và lợi ích của quốc gia, nhất là với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Coi trọng và từng bước tham gia các cơ chế quốc phòng, an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh châu Âu. Tham gia sâu vào diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF); đối thoại Shangri-la; hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN; Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol)... Cam kết thực hiện nghiêm túc các hiệp định, thỏa thuận đã ký với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực.

Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh phải tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở pháp luật quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biên giới trên bộ với các nước láng giềng. Hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới là một trong những ưu tiên đối ngoại quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia có chung đường biên giới trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhập cư bất hợp pháp; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai ở khu vực biên giới.

Mở rộng phạm vi, quy mô, tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc như quan sát viên quân sự; huấn luyện, diễn tập chung; hoạt động nhân đạo, phòng, chống khắc phục hậu quả chiến tranh; ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống trong khu vực và các hoạt động hợp tác quốc phòng khác ngoài lãnh thổ phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế, chủ động ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng và các hoạt động khác. Qua đó nâng cao vị thế quốc tế của đất nước và quân đội. Với những tranh chấp, bất đồng, Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giải quyết bằng biện pháp hòa bình dựa trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế; tuy nhiên chúng ta sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để tự vệ khi độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích cơ bản của quốc gia - dân tộc bị xâm phạm./.