Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

 NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI RONG NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

Nhân Trần

Quan điểm về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đã không ngừng bổ sung, phát triển. Đó là quá trình phát triển nhận thức của Đảng đối với một lĩnh vực trọng yếu của cách mạng trên cơ sở kế thừa truyền thống lịch sử dân tộc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới của cách mạng Việt Nam. Qua đó đã góp phần quan trọng làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo thế và lực mới để đất nước ta hội nhập, phát triển nhanh, bền vững và có thể khái quát trên một số nội dung:

Thứ nhất, nhận thức của Đảng về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc, đầy đủ, toàn diện hơn về trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng ta luôn nhất quán khẳng định vai trò “trọng yếu, thường xuyên” của nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; coi đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, nhất quán các quan điểm cơ bản: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thứ hai, bổ sung, phát triển phương châm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây là phương châm chỉ đạo chiến lược, vấn đề căn cốt được đúc rút qua thực tiễn, kinh nghiệm lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thể hiện sự thấu suốt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong quân sự, quốc phòng; kế thừa những nội dung phương châm chỉ đạo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đảng ta đã xác định qua các kỳ đại hội. Đó là kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống.

Thứ ba, tư duy mới về kết hợp giữa quốc phòng, an ninh với các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại; là sự kết hợp chặt chẽ nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa trên nền tảng đường lối chính trị đúng đắn của Đảng. Trong đó, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân.

Thứ tư, Đảng tiếp tục làm sâu sắc tư duy chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Kế thừa bài học kinh nghiệm “giữ nước từ lúc chưa nguy” trong lịch sử và phát triển tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc từ xa đã được đề cập qua các kỳ đại hội, Đảng ta nhấn mạnh, làm sâu sắc thành tư duy chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” trong điều kiện mới. Theo đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển các quan điểm về kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại; gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, sức mạnh tổng hợp của đất nước. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện vừa hợp tác vừa đấu tranh; kết hợp chặt chẽ và linh hoạt hợp tác với đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, lấy đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu, nhưng không coi nhẹ hình thức đấu tranh vũ trang và sẵn sàng sử dụng khi cần thiết, nhằm đảm bảo sự ổn định từ bên trong và đối phó thắng lợi với chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức của các thế lực thù địch từ bên ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, trong mọi tình huống.

Thứ năm, kịp thời thể chế hóa quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - bước phát triển đột phá về nhận thức, tư duy lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Đảng. Những năm qua, Đảng đã chỉ đạo xây dựng, ban hành, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ hệ thống nghị quyết, văn bản pháp luật về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Nổi bật là nghị quyết số 44-NQ/TƯ về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nghị quyết số 24-NQ/TƯ về chiến lược quốc phòng; kết luận số 31-KL/TƯ về chiến lược quân sự; nghị quyết số 29-NQ/TƯ về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; nghị quyết số 33-NQ/TƯ về chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia… và một số chiến lược chuyên ngành khác. Các văn kiện trên không chỉ quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng, nhất là nhận thức mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, mà còn chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về quốc phòng, an ninh hoàn chỉnh, đồng bộ. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng; tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình mới.

Thứ sáu, nhận thức về đối tác, đối tượng ngày càng sáng rõ, linh hoạt, biện chứng hơn. Đây là nhận thức mới, rất rõ về nội hàm nhưng cũng rất khôn khéo, sắc bén trong tình hình mới. Đối tác, đối tượng được xác định là: Những ai tôn trọng lợi ích quốc gia - dân tộc, độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đều là đối tượng của chúng ta. Trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh. Như vậy nhận thức đó phù hợp với quan điểm xuyên suốt của Đảng lấy giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước là lợi ích cao nhất của quốc gia, là mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, nhận thức mới này còn thể hiện tính kiên quyết, triệt để, nhấn mạnh tính linh hoạt, nhạy bén, đề cao lợi ích khi xem xét đối tác, đối tượng, phù hợp với sự vận động, phát triển của thực tiễn/.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét